BJT 4895Khi ấy, tôi đã là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 4896Tôi đã cầm lấy trái mít và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh trong khi đang đứng ở ngay trên không trung.
BJT 4897Đối với tôi, Ngài là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đem lại sự an lạc trong thời hiện tại. Tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch.
BJT 4898Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc vĩ đại và sự an lạc thù thắng. Và khi tôi tái sanh ở nơi này nơi khác, có châu báu hiện lên (cho tôi).
BJT 4899Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4900Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4901Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4902Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Labujadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Labujadāyaka là phần thứ bảy.
“Nagare bandhumatiyā,
ārāmiko ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Labujaṁ phalamādāya,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāseva ṭhito santo,
paṭiggaṇhi mahāyaso.
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigañchiṁ tadā pītiṁ,
vipulaṁ sukhamuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā labujaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Labujaphaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 4895 In the city, Bandhumatī,
I worked in a hermitage then.
I saw the Spotless One, Buddha,
who was traveling through the sky. Verse 1
Walt 4896-4898 Taking fruit of a breadfruit tree,
I gave it to the Best Buddha.
Standing in the sky, the Calm One,
the Great Famed One accepted it.
With a mind that was very clear,
having given Buddha that fruit,
productive of delight for me,
bringing happiness in this world,
I then came to possess great joy
and vast, ultimate happiness.
A gem was truly produced for
me, being reborn here and there. Verse 2-3
Walt 4899 In the ninety-one aeons since
I gave the Buddha fruit back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 4
Walt 4900 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 5
Walt 4901 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Walt 4902 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Labujadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Labujadāyaka Thera is finished.
BJT 4895Khi ấy, tôi đã là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 4896Tôi đã cầm lấy trái mít và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh trong khi đang đứng ở ngay trên không trung.
BJT 4897Đối với tôi, Ngài là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đem lại sự an lạc trong thời hiện tại. Tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật với tâm ý trong sạch.
BJT 4898Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc vĩ đại và sự an lạc thù thắng. Và khi tôi tái sanh ở nơi này nơi khác, có châu báu hiện lên (cho tôi).
BJT 4899Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4900Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4901Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4902Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Labujadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Labujadāyaka là phần thứ bảy.
“Nagare bandhumatiyā,
ārāmiko ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Labujaṁ phalamādāya,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāseva ṭhito santo,
paṭiggaṇhi mahāyaso.
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigañchiṁ tadā pītiṁ,
vipulaṁ sukhamuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā labujaphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Labujaphaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.