BJT 639Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp, đấng Lãnh Đạo đã hiện khởi.
BJT 640Khi ấy, tôi đã được sanh ra tại Haṁsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ bởi vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.
BJT 641Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
BJT 642Khi ấy, đấng Đại Bi tên Padumuttara đã thiết lập tỳ khưu ni Subhā vào vị thế tối thắng trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
BJT 643Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã dâng cúng vật thí đến bậc Đại Ẩn Sĩ, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 644Đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Này cô gái hiền thục, điều nào đã được nàng ước nguyện toàn bộ điều ấy sẽ được thành tựu. Hãy được an lạc, hãy được Niết Bàn.
BJT 645Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 646Nàng sẽ là Bhaddā Kuṇḍakesā, nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp.”
BJT 647Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 648Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
BJT 649Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
BJT 650Từ nơi ấy chết đi, (sanh lên) ở giữa loài người tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua có quyền lực và của các vị vua có lãnh thổ.
BJT 651Tôi đã thọ hưởng sự thành công ở giữa chư Thiên và nhân loại, tôi đã được an vui ở trong mọi nơi, tôi đã luân hồi vô số (đại) kiếp.
BJT 652Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 653Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 654Tôi đã là người con gái thứ tư của vị (vua) ấy được nổi danh là “Bhikkhudāsī.” Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 655656. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 657Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 658Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 659Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 660Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú thịnh vượng. Rồi đến lúc tôi đã ở vào lứa tuổi thanh xuân.
BJT 661Sau khi nhìn thấy kẻ trộm đang bị dẫn đi để xử tử, tôi đã bị luyến ái với gã. Do đó, cha của tôi đã giải cứu gã ấy khỏi cái chết bằng ngàn đồng tiền.
BJT 662Sau khi biết được tâm ý của tôi, cha đã ban gã ấy cho tôi. Tôi đã trở nên thân thiết, vô cùng yêu thương, gắn bó đối với gã ấy.
BJT 663Vì lòng tham đối với các đồ trang sức của tôi, gã nghịch thù ấy có ý định gây tội đã đưa (tôi) đến ngọn núi có vực thẳm Kẻ Trộm và đã nghĩ đến việc giết chết (tôi).
BJT 664Khi ấy, trong lúc bảo vệ mạng sống của mình, tôi đã cúi lạy, nghiêm chỉnh chắp tay lại với người chồng, và đã nói lời nói này:
BJT 665“Thưa tướng công, vàng vòng ngọc trai ngọc bích này có nhiều, xin chàng hãy tự mang đi tất cả. Và hãy thông báo rằng thiếp là ‘Nô tỳ.’”
BJT 666“Này người đẹp, nàng phải chết. Chớ than vãn nhiều quá. Và ta biết chắc rằng không giết thì tài sản không mang đi được.”
BJT 667“Kể từ khi thiếp ghi nhớ được bản thân, kể từ khi thiếp đạt được sự hiểu biết, và thiếp biết chắc rằng không ai khác được yêu thương hơn là chàng.
BJT 668Xin chàng hãy đến, thiếp sẽ ôm lấy chàng và sẽ nhiễu quanh chàng. Và giờ đây không còn có sự gần gũi nào giữa thiếp và chàng nữa.”
BJT 669Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ có sự cẩn thật nhiều bề cũng là khôn ngoan.
BJT 670Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ cân nhắc điều lợi ích một cách mau chóng cũng là khôn ngoan.
BJT 671Quả nhiên, một cách nhẹ nhàng và mau chóng tôi đã suy nghĩ mưu kế. Giống như bộ lông (giết chết) con thú, khi ấy tôi đã giết chết gã Sattuka như thế.
BJT 672Và người nào không mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, người có trí kém cỏi ấy sẽ bị giết như là kẻ trộm ở hẻm núi.
BJT 673Và người nào thật mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, (người ấy) thoát khỏi sự quấy rối của kẻ thù, giống như tôi và Sattuka vào lúc ấy vậy.
BJT 674Khi ấy, tôi đã quăng gã Sattuka ấy vào hóc núi, rồi đã đi đến gặp những người (ngoại đạo) mặc vải trắng, và đã xuất gia.
BJT 675Và khi ấy, sau khi đã nhổ lên toàn bộ những sợi tóc của tôi bằng nhíp, họ đã cho tôi xuất gia và đã chỉ dạy giáo lý không có gián đoạn.
BJT 676677. Tôi đã học xong (giáo lý) ấy từ họ. Tôi đã ngồi xuống mỗi một mình và đã suy xét về (giáo lý) ấy. Có con chó tha bàn tay người đã bị đứt lìa và đã đánh rơi ở cạnh tôi rồi bỏ chạy. Sau khi nhìn thấy cảnh tượng (ấy), tôi đã nhặt lấy bàn tay có đầy dòi bọ ấy.
BJT 678Sau khi từ chỗ ấy đứng dậy, bị chấn động tôi đã hỏi những người đồng đạo. Họ đã nói rằng: “Những vị tỳ khưu dòng Sakya biết rõ ý nghĩa ấy.”
BJT 679(Nghĩ rằng) “Ta sẽ hỏi ý nghĩa ấy,” tôi đây đã đi đến các vị Thinh Văn của đức Phật. Sau khi đón nhận tôi, các vị ấy đã đi đến bên đức Phật Tối Thượng.
BJT 680Và đấng Lãnh Đạo ấy đã thuyết Pháp cho tôi về: “Uẩn, xứ, giới, đề mục bất mỹ, vô thường, khổ não, vô ngã.”
BJT 681682. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã yêu cầu sự xuất gia và sự tu lên bậc trên. Khi ấy, đấng Lãnh Đạo ấy đã nói rằng: “Này cô gái hiền thục, hãy đến.” Khi ấy, tôi đã được tu lên bậc trên. Tôi đã nhìn thấy một ít nước.
BJT 683Với sự rửa sạch bàn chân, tôi đã biết được là có sự tiêu hoại với nước. Khi ấy, tôi đã tự suy xét rằng: “Tất cả các hành cũng là tương tợ như thế.”
BJT 684Do đó, tâm tôi đã được giải thoát trọn vẹn không còn chấp thủ. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
BJT 685Là người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 686Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 687Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 688Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các điều trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 689Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là bao la, trong sạch ở Giáo Pháp của đức Phật tối thượng.
BJT 690Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 691Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 692Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako.
Tadāhaṁ haṁsavatiyaṁ,
jātā seṭṭhikule ahuṁ;
Nānāratanapajjote,
mahāsukhasamappitā.
Upetvā taṁ mahāvīraṁ,
assosiṁ dhammadesanaṁ;
Tato jātappasādāhaṁ,
upesiṁ saraṇaṁ jinaṁ.
Tadā mahākāruṇiko,
padumuttaranāmako;
Khippābhiññānamagganti,
ṭhapesi bhikkhuniṁ subhaṁ.
Taṁ sutvā muditā hutvā,
dānaṁ datvā mahesino;
Nipacca sirasā pāde,
taṁ ṭhānamabhipatthayiṁ.
Anumodi mahāvīro,
‘bhadde yaṁ tebhipatthitaṁ;
Samijjhissati taṁ sabbaṁ,
sukhinī hohi nibbutā.
Satasahassito kappe,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Tassa dhammesu dāyādā,
orasā dhammanimmitā;
Bhaddākuṇḍalakesāti,
hessati satthu sāvikā’.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tato cutā yāmamagaṁ,
tatohaṁ tusitaṁ gatā;
Tato ca nimmānaratiṁ,
vasavattipuraṁ tato.
Yattha yatthūpapajjāmi,
tassa kammassa vāhasā;
Tattha tattheva rājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ.
Tato cutā manussesu,
rājūnaṁ cakkavattinaṁ;
Maṇḍalīnañca rājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ.
Sampattiṁ anubhotvāna,
devesu mānusesu ca;
Sabbattha sukhitā hutvā,
nekakappesu saṁsariṁ.
Imamhi bhaddake kappe,
brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena,
uppajji vadataṁ varo.
Upaṭṭhāko mahesissa,
tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma,
bārāṇasipuruttame.
Tassa dhītā catutthāsiṁ,
bhikkhudāyīti vissutā;
Dhammaṁ sutvā jinaggassa,
pabbajjaṁ samarocayiṁ.
Anujāni na no tāto,
agāreva tadā mayaṁ;
Vīsavassasahassāni,
vicarimha atanditā.
Komāribrahmacariyaṁ,
rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā,
muditā satta dhītaro.
Samaṇī samaṇaguttā ca,
bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca,
sattamī saṅghadāyikā.
Khemā uppalavaṇṇā ca,
paṭācārā ahaṁ tadā;
Kisāgotamī dhammadinnā,
visākhā hoti sattamī.
Tehi kammehi sukatehi,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte,
yadāhaṁ yobbane ṭhitā.
Coraṁ vadhatthaṁ nīyantaṁ,
disvā rattā tahiṁ ahaṁ;
Pitā me taṁ sahassena,
mocayitvā vadhā tato.
Adāsi tassa maṁ tāto,
viditvāna manaṁ mama;
Tassāhamāsiṁ visaṭṭhā,
atīva dayitā hitā.
So me bhūsanalobhena,
balimajjhāsayo diso;
Corappapātaṁ netvāna,
pabbataṁ cetayī vadhaṁ.
Tadāhaṁ paṇamitvāna,
sattukaṁ sukatañjalī;
Rakkhantī attano pāṇaṁ,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Idaṁ suvaṇṇakeyūraṁ,
muttā veḷuriyā bahū;
Sabbaṁ harassu bhaddante,
mañca dāsīti sāvaya’.
‘Oropayassu kalyāṇī,
mā bāḷhaṁ paridevasi;
Na cāhaṁ abhijānāmi,
ahantvā dhanamābhataṁ’.
‘Yato sarāmi attānaṁ,
yato pattosmi viññutaṁ;
Na cāhaṁ abhijānāmi,
aññaṁ piyataraṁ tayā.
Ehi taṁ upagūhissaṁ,
katvāna taṁ padakkhiṇaṁ;
Na ca dāni puno atthi,
mama tuyhañca saṅgamo’.
‘Na hi sabbesu ṭhānesu,
puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti,
tattha tattha vicakkhaṇā.
Na hi sabbesu ṭhānesu,
puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti,
lahuṁ atthavicintikā’.
Lahuñca vata khippañca,
nikaṭṭhe samacetayiṁ;
Migaṁ uṇṇā yathā evaṁ,
tadāhaṁ sattukaṁ vadhiṁ.
Yo ca uppatitaṁ atthaṁ,
na khippamanubujjhati;
So haññate mandamati,
corova girigabbhare.
Yo ca uppatitaṁ atthaṁ,
khippameva nibodhati;
Muccate sattusambādhā,
tadāhaṁ sattukā yathā.
Tadāhaṁ pātayitvāna,
giriduggamhi sattukaṁ;
Santikaṁ setavatthānaṁ,
upetvā pabbajiṁ ahaṁ.
Saṇḍāsena ca kese me,
luñcitvā sabbaso tadā;
Pabbajitvāna samayaṁ,
ācikkhiṁsu nirantaraṁ.
Tato taṁ uggahetvāhaṁ,
nisīditvāna ekikā;
Samayaṁ taṁ vicintesiṁ,
suvāno mānusaṁ karaṁ.
Chinnaṁ gayha samīpe me,
pātayitvā apakkami;
Disvā nimittamalabhiṁ,
hatthaṁ taṁ puḷavākulaṁ.
Tato uṭṭhāya saṁviggā,
apucchiṁ sahadhammike;
Te avocuṁ ‘vijānanti,
taṁ atthaṁ sakyabhikkhavo’.
Sāhaṁ tamatthaṁ pucchissaṁ,
upetvā buddhasāvake;
Te mamādāya gacchiṁsu,
buddhaseṭṭhassa santikaṁ.
So me dhammamadesesi,
khandhāyatanadhātuyo;
Asubhāniccadukkhāti,
anattāti ca nāyako.
Tassa dhammaṁ suṇitvāhaṁ,
dhammacakkhuṁ visodhayiṁ;
Tato viññātasaddhammā,
pabbajjaṁ upasampadaṁ.
Āyācito tadā āha,
‘ehi bhadde’ti nāyako;
Tadāhaṁ upasampannā,
parittaṁ toyamaddasaṁ.
Pādapakkhālanenāhaṁ,
ñatvā saudayabbayaṁ;
Tathā sabbepi saṅkhāre,
īdisaṁ cintayiṁ tadā.
Tato cittaṁ vimucci me,
anupādāya sabbaso;
Khippābhiññānamaggaṁ me,
tadā paññāpayī jino.
Iddhīsu ca vasī homi,
dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi,
satthusāsanakārikā.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Khepetvā āsave sabbe,
visuddhāsiṁ sunimmalā.
Pariciṇṇo mayā satthā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ;
Ohito garuko bhāro,
bhavanetti samūhatā.
Yassatthāya pabbajitā,
agārasmānagāriyaṁ;
So me attho anuppatto,
sabbasaṁyojanakkhayo.
Atthadhammaniruttīsu,
paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṁ me vimalaṁ suddhaṁ,
buddhaseṭṭhassa sāsane.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṁ chetvā,
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ bhaddākuṇḍalakesā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kuṇḍalakesātheriyāpadānaṁ paṭhamaṁ.
Walt 639 The Victor, Padumuttara,
was a Master of Everything.
That Leader arose in the world
one hundred thousand aeons hence. Verse 1
Walt 640 I was born in Haṁsavatī,
in a clan of millionaires then,
glistening with various gems,
endowed with supreme happiness. Verse 2
Walt 641 Having approached that Great Hero,
I heard him preaching the Dhamma.
Then, pleasure born in my heart, I
approached the Victor for refuge. Verse 3
Walt 642 Then the Great Compassionate One,
the Leader, Padumuttara,
fixed a nun in the foremost place
of those with quick intuition. Verse 4
Walt 643 Hearing that, being overjoyed,
having given the Great Sage alms,
bowing my head down at his feet
I aspired to attain that place. Verse 5
Walt 644 The Great Hero approved of that:
“Lucky one, there will be success
in everything for which you wish.
Be happy, you should feel appeased. Verse 6
Walt 645 In one hundred thousand aeons,
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 7
Walt 646Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
named Bhaddākuṇḍalakesā
you’ll be the Teacher’s follower.” Verse 8
Walt 647 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 9
Walt 648 Fallen thence, I went to Yāma,
and then I went to Tusita,
and then to Nimmānarati,
and then Vāsavatti city. Verse 10
Walt 649 In whichever place I’m reborn,
in accordance with that karma,
everyplace I was made chief queen
of the gods who were the kings there. Verse 11
Walt 650 Fallen thence, in the human state,
everyplace I was made chief queen
of kings who turn the wheel of law,
and powerful regional kings. Verse 12
Walt 651 Having experienced success,
among gods as well as humans,
becoming happy everywhere,
I transmigrated for aeons. Verse 13
Walt 652 In this present lucky aeon,
Brahma’s Kinsman, Greatly Famed One,
the Buddha known as Kassapa
was born, the Best of Debaters. Verse 14
Walt 653 The attendant of the Great Sage
was the ruler of men back then,
the king of Kāsi, named Kiki,
in Benares, greatest city. Verse 15
Walt 654 I was then that king’s fourth daughter,
well-known as Bhikkhadāyikā.
Hearing the Best Victor’s Teaching,
I chose to seek ordination. Verse 16
Walt 655-656 Our father did not permit it;
we stayed at home during that time,
comfortable royal maidens
doing our practice with vigor
in virginal celibacy,
for twenty times a thousand years,
fond of waiting on the Buddha,
the king’s seven joyful daughters. Verse 17-18
Walt 657 Samaṇī, and Samaṇaguttā,
Bhikkhunī, Bhikkhadāyikā,
Dhammā, and also Sudhammā,
and seventh Saṅghadāyikā, Verse 19
Walt 658 now Uppalavaṇṇā, Khemā
also Paṭācārā and I,
Kisāgotamī, Dhammadinnā,
and Visākhā is the seventh. Verse 20
Walt 659 Due to those karmas done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 21
Walt 660 And now, in my final rebirth,
in Giribbaja, best city,
I was born to rich millionaires.
When I’d become a young woman, Verse 22
Walt 661 attracted to a thief I saw
being led to execution,
my father, paying a thousand,
had him freed from execution. Verse 23
Walt 662 After that, discerning my mind,
my father gave me to that thief.
I was trustworthy for him, and
extremely kindly and friendly. Verse 24
Walt 663 He, out of greed for my jewels,
that enemy with ill-intent,
led me to the thieves’ precipice
on a mountain, plotting murder. Verse 25
Walt 664 Then stretching out to Sattuka,
hands which were well pressed together,
protecting my own breath of life,
I spoke these words to him just then: Verse 26
Walt 665 “This bracelet which is made of gold,
containing many pearls and gems,
Sir, carry all of this away;
announce that I’m your bed-slave.” Verse 27
Walt 666 “Take it off, O beautiful one,
and do not feel a lot of grief;
I am unable to accept
wealth that I did not kill to get. Verse 28
Walt 667 For as long as I remember,
ever since I reached discretion,
I have accepted no other
more beloved than you to me.” Verse 29
Walt 668 “Come here! Having embraced you, \[just
one more\] circumambulation.
And after now there will not be
intercourse between you and me.” Verse 30
Walt 669 The man is not the one who’s wise
in every single circumstance;
paying attention, here and there,
the woman is the one who’s wise. Verse 31
Walt 670 The man is not the one who’s wise
in every single circumstance;
quick-thinking, with good strategy,
the woman is the one who’s wise. Verse 32
Walt 671 Quickly indeed, in just a flash,
I came up with a clever trick:
like a deer by a mighty bow,
Sattuka was slaughtered by me. Verse 33
Walt 672 Who fails quickly to understand
the circumstances that arise,
he gets murdered, that silly thief,
in the belly of a mountain. Verse 34
Walt 673 Who does not fail to quickly grasp
the circumstances that arise,
she is freed from creaturely bonds;
such was I from Sattuka then. Verse 35
Walt 674 Then I made him, Sattuka, fall
from a treacherous mountain road.
Coming into the presence of
some white-clad adepts, I went forth. Verse 36
Walt 675 Then after plucking out my hair
altogether, using tweezers,
being ordained, in no long time,
they detailed their own tradition. Verse 37
Walt 676-677 Then after I had learned all that,
gone off by myself, sitting down,
I thought about that tradition.
Then a dog brought a human hand,
chewed off, and after dropping it
in my vicinity, ran off.
Seeing that maggoty hand, I
took it up for meditation. Verse 38-39
Walt 678Then producing deep emotion,
I asked my co-religionists.
They said: “the Śākyan Buddhist monks
know the answers to your questions.” Verse 40
Walt 679 “I’ll ask that meaning, approaching
the followers of the Buddha.”
Taking me along they all went
into the Best Buddha’s presence. Verse 41
Walt 680 He preached Dhamma to me: the heaps
in the thought-spheres and elements;
the Leader taught unpleasantness,
impermanence, dis-ease, no-self. Verse 42
Walt 681-682 After hearing his Dhamma, I
then purified the “Dhamma eye.”
Learned in the good Teaching, I
asked to go forth and be ordained.
At that time he said this to me:
“Come, lucky one,” said the Leader.
Then being fully ordained, I
saw a little bit of water. Verse 43-44
Walt 683 Cleaning my feet, discerning that
some water splashed up, some spilled down,
then at that time I realized,
“all conditioned things are like that.” Verse 45
Walt 684 Then my heart was liberated,
altogether, without clinging.
Then the Victor dubbed me foremost
of those with quick intuition. Verse 46
Walt 685 I’ve mastered the superpowers
like the “divine ear” element.
I know the hearts of others too,
I have done what the Teacher taught. Verse 47
Walt 686 I remember my former lives;
my “divine eye” is purified.
Throwing off all the defilements,
I am purified, I’m stainless. Verse 48
Walt 687 The Teacher’s been worshipped by me;
I have done what the Buddha taught.
The heavy load has been laid down,
the ties to existence severed. Verse 49
Walt 688 The reason for which I went forth,
from my home into homelessness —
I have now achieved that purpose:
destruction of all the fetters. Verse 50
Walt 689 In meaning and in the Teaching,
etymology and preaching,
my knowledge is vast and flawless,
through the Great Sage’s majesty. Verse 51
Walt 690 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 52
Walt 691 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 53
Walt 692 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 54
Thus indeed Bhikkhunī Bhaddā-Kuṇḍalakesā spoke these verses.
The legend of Bhaddā-Kuṇḍalakesā Therī is finished.