BJT 693Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 694Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở một gia đình nọ trong (thành) Haṁsavatī. Tôi đã đi đến và đã nương nhờ vào bậc Quý Nhân ấy.
BJT 695Và tôi đã lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào của vị ấy bao gồm bốn Sự Thật, có phẩm vị tối thắng, đưa đến sự an lạc và tịnh lặng của vòng luân hồi.
BJT 696Và khi ấy, trong khi thiết lập vị tỳ khưu ni mặc y thô vào vị thế tối thắng, đấng Anh Hùng bậc Tối Thượng Nhân đã khen ngợi.
BJT 697Sau khi đã làm sanh lên niềm phỉ lạc không nhỏ nhoi, sau khi lắng nghe đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đã làm công việc phục vụ đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.
BJT 698Tôi đã quỳ xuống ở bậc Hiền Trí Anh Hùng ấy và đã ước nguyện vị thế ấy. Lúc đó, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo đã nói lời tùy hỷ về sự lợi ích của vị thế (ấy) rằng:
BJT 699“Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 700(Người nữnày) sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Gotamī.”
BJT 701Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 702Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 703Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 704Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 705Tôi đã là người con gái thứ năm của vị (vua) ấy, được nổi danh với tên là Dhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 706707. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 708Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 709Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, tôi, luôn cả Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 710Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 711Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra trong gia đình triệu phú bị lâm cảnh khốn cùng, không tài sản, bị khánh tận, và tôi đã được gả vào gia đình có tài sản.
BJT 712Ngoại trừ người chồng, những người còn lại giễu (tôi) là “Nữ nhân không tài sản.” Và đến khi tôi có con trai, khi ấy tôi đã được cảm tình của tất cả.
BJT 713Vào lúc đứa bé trai hiền hậu ấy, có cơ thể mềm mại, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được yêu quý như chính mạng sống của tôi đã đi đến cõi chết.
BJT 714Bị dằn vặt bởi sầu muộn, có vẻ mặt thê lương, mắt đẫm lệ, miệng khóc than, tôi đã bồng ẳm thi thể đã chết. Trong lúc than vãn, tôi đã đi lang thang.
BJT 715Khi ấy, tự nhận định (sự việc) một mình tôi đã đi đến vị Đệ Nhất Lương Y và đã nói rằng: “Thưa ông, xin ông hãy cho thuốc đem lại sự sống cho con tôi.”
BJT 716Đấng Chiến Thắng, bậc rành rẽ về phương thức huấn luyện, đã nói rằng: “Những người chết không được tìm thấy ở tại ngôi nhà nào thì nàng hãy mang lại hạt cải từ nơi (ngôi nhà) ấy.”
BJT 717Khi ấy, tôi đã đi ở trong thành Sāvatthī, và đã không đạt được ngôi nhà như thế ấy. Do đó, tôi đã đạt được trí nhớ rằng: “Hạt cải ở đâu, từ nơi đâu?”
BJT 718Sau khi đã quăng bỏ thây chết, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi nhìn thấy tôi từ rất xa, vị có âm giọng ngọt ngào đã nói rằng:
BJT 719“Và người nào đã sống trăm năm không nhìn thấy sự sanh diệt, cuộc sống một ngày là tốt hơn đối với người đang nhìn thấy sự sanh diệt.
BJT 720Không phải là quy luật thuộc về ngôi làng, không phải là quy luật thuộc về phố chợ, quy luật này cũng không phải thuộc về một gia đình, mà thuộc về tất cả thế gian luôn cả chư Thiên; quy luật ấy chính là tính chất vô thường.”
BJT 721Sau khi lắng nghe lời kệ này, tôi đây đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 722Trong khi đã được xuất gia như thế, trong khi gắn bó vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 723Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 724Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 725Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 726Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 727Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng.
BJT 728Sau khi mang về từ đống rác, từ mộ địa, và thậm chí từ đường lộ, từ đó tôi đã thực hiện y hai lớp và đã mặc y thô.
BJT 729Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập (tôi) vào vị thế tối thắng trong việc mặc y thô.
BJT 730Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 731Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 732Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Kisāgotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Kisāgotamī là phần thứ nhì.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako.
Tadāhaṁ haṁsavatiyaṁ,
jātā aññatare kule;
Upetvā taṁ naravaraṁ,
saraṇaṁ samupāgamiṁ.
Dhammañca tassa assosiṁ,
catusaccūpasañhitaṁ;
Madhuraṁ paramassādaṁ,
vaṭṭasantisukhāvahaṁ.
Tadā ca bhikkhuniṁ vīro,
lūkhacīvaradhāriniṁ;
Ṭhapento etadaggamhi,
vaṇṇayī purisuttamo.
Janetvānappakaṁ pītiṁ,
sutvā bhikkhuniyā guṇe;
Kāraṁ katvāna buddhassa,
yathāsatti yathābalaṁ.
Nipacca munivaraṁ taṁ,
taṁ ṭhānamabhipatthayiṁ;
Tadānumodi sambuddho,
ṭhānalābhāya nāyako.
‘Satasahassito kappe,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Tassa dhammesu dāyādā,
orasā dhammanimmitā;
Kisāgotamī nāmena,
hessati satthu sāvikā’.
Taṁ sutvā muditā hutvā,
yāvajīvaṁ tadā jinaṁ;
Mettacittā paricariṁ,
paccayehi vināyakaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Imamhi bhaddake kappe,
brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena,
uppajji vadataṁ varo.
Upaṭṭhāko mahesissa,
tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma,
bārāṇasipuruttame.
Pañcamī tassa dhītāsiṁ,
dhammā nāmena vissutā;
Dhammaṁ sutvā jinaggassa,
pabbajjaṁ samarocayiṁ.
Anujāni na no tāto,
agāreva tadā mayaṁ;
Vīsavassasahassāni,
vicarimha atanditā.
Komāribrahmacariyaṁ,
rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā,
muditā satta dhītaro.
Samaṇī samaṇaguttā ca,
bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca,
sattamī saṅghadāyikā.
Khemā uppalavaṇṇā ca,
paṭācārā ca kuṇḍalā;
Ahañca dhammadinnā ca,
visākhā hoti sattamī.
Tehi kammehi sukatehi,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
jātā seṭṭhikule ahaṁ;
Duggate adhane naṭṭhe,
gatā ca sadhanaṁ kulaṁ.
Patiṁ ṭhapetvā sesā me,
dessanti adhanā iti;
Yadā ca pasūtā āsiṁ,
sabbesaṁ dayitā tadā.
Yadā so taruṇo bhaddo,
komalako sukhedhito;
Sapāṇamiva kanto me,
tadā yamavasaṁ gato.
Sokaṭṭādīnavadanā,
assunettā rudammukhā;
Mataṁ kuṇapamādāya,
vilapantī gamāmahaṁ.
Tadā ekena sandiṭṭhā,
upetvābhisakkuttamaṁ;
Avocaṁ ‘dehi bhesajjaṁ,
puttasañjīvananti bho’.
‘Na vijjante matā yasmiṁ,
gehe siddhatthakaṁ tato;
Āharā’ti jino āha,
vinayopāyakovido.
Tadā gamitvā sāvatthiṁ,
na labhiṁ tādisaṁ gharaṁ;
Kuto siddhatthakaṁ tasmā,
tato laddhā satiṁ ahaṁ.
Kuṇapaṁ chaḍḍayitvāna,
upesiṁ lokanāyakaṁ;
Dūratova mamaṁ disvā,
avoca madhurassaro.
‘Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ udayabbayaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato udayabbayaṁ.
Na gāmadhammo nigamassa dhammo,
Na cāpiyaṁ ekakulassa dhammo;
Sabbassa lokassa sadevakassa,
Eseva dhammo yadidaṁ aniccatā’.
Sāhaṁ sutvānimā gāthā,
dhammacakkhuṁ visodhayiṁ;
Tato viññātasaddhammā,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Tathā pabbajitā santī,
yuñjantī jinasāsane;
Na cireneva kālena,
arahattamapāpuṇiṁ.
Iddhīsu ca vasī homi,
dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi,
satthusāsanakārikā.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Khepetvā āsave sabbe,
visuddhāsiṁ sunimmalā.
Pariciṇṇo mayā satthā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ;
Ohito garuko bhāro,
bhavanetti samūhatā.
Yassatthāya pabbajitā,
agārasmānagāriyaṁ;
So me attho anuppatto,
sabbasaṁyojanakkhayo.
Atthadhammaniruttīsu,
paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṁ me vimalaṁ suddhaṁ,
buddhaseṭṭhassa vāhasā.
Saṅkārakūṭā āhitvā,
susānā rathiyāpi ca;
Tato saṅghāṭikaṁ katvā,
lūkhaṁ dhāremi cīvaraṁ.
Jino tasmiṁ guṇe tuṭṭho,
lūkhacīvaradhāraṇe;
Ṭhapesi etadaggamhi,
parisāsu vināyako.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ kisāgotamī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kisāgotamītheriyāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 693 The Victor, Padumuttara,
was a Master of Everything.
That Leader arose in the world
one hundred thousand aeons hence. Verse 1
Walt 694 I then lived in Haṁsavatī,
born in an undistinguished clan.
Having approached the Best of Men,
I went to him as my refuge. Verse 2
Walt 695 And I listened to his Dhamma,
containing the Four Noble Truths,
supremely sweet like honey, which
brings happiness and mental peace. Verse 3
Walt 696 One time the Hero, the Buddha,
was placing in that foremost place
a Buddhist nun who wore rough robes;
he praised her, the Ultimate Man. Verse 4
Walt 697 Producing not a little joy,
hearing that Buddhist nun’s virtue,
doing service for the Buddha,
according to powers and strengths, Verse 5
Walt 698 bowing down to that Hero-Sage,
I aspired to attain that place.
The Sambuddha approved of that
attainment of that foremost place, Verse 6
Walt 699 “In one hundred thousand aeons,
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 7
Walt 700Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
the one named Kisāgotamī
will be the Teacher’s follower.” Verse 8
Walt 701 At that time being overjoyed,
as long as life, heart full of love,
I attended on the Victor,
the Guide, providing requisites. Verse 9
Walt 702 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 10
Walt 703 In this present lucky aeon,
Brahma’s Kinsman, Greatly Famed One,
the Buddha known as Kassapa
was born, the Best of Debaters. Verse 11
Walt 704 The attendant of the Great Sage
was the ruler of men back then,
the king of Kāsi, named Kiki,
in Benares, greatest city. Verse 12
Walt 705 I was his fifth royal daughter,
well-known by the name of Dhammā.
Hearing the Best Victor’s Teaching,
I chose to seek ordination. Verse 13
Walt 706-707 Our father did not permit it;
we stayed at home during that time,
comfortable royal maidens
doing our practice with vigor
in virginal celibacy,
for twenty times a thousand years,
fond of waiting on the Buddha,
the king’s seven joyful daughters. Verse 14-15
Walt 708 Samaṇī, and Samaṇaguttā,
Bhikkhunī, Bhikkhadāyikā,
Dhammā, and also Sudhammā,
and seventh Saṅghadāyikā, Verse 16
Walt 709 now Khemā, Uppalavaṇṇā,
Paṭācārā and Kuṇḍalā,
the nun Dhammadinnā and I
and Visākhā is the seventh. Verse 17
Walt 710 Due to those karmas done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 18
Walt 711 And now, in my final rebirth,
I’m born in a millionaire’s clan,
poor, without wealth, unprosperous,
but married into a rich clan. Verse 19
Walt 712 Except my husband, the others
are pointing at me saying, “Poor!”
But after I became with child,
then I was loved by all of them. Verse 20
Walt 713 When that lucky young boy of mine,
tender-bodied, comfortable,
as dear to me as my own breath,
then fell into Yama’s power, Verse 21
Walt 714 grief-struck, voicing my misery,
teary-eyed, my mouth crying out,
carrying that young boy’s dead corpse,
I’m going around lamenting. Verse 22
Walt 715 Then examined by one doctor,
approaching the Best Physician,
I said, “give me a medicine
to bring my son back to life, Sir.” Verse 23
Walt 716 The Victor, Skilled in Crafty Speech,
said, “bring me a white mustard seed,
collected in whichever home
where people dying is not known.” Verse 24
Walt 717 Then having gone to Śrāvasti,
not encountering such a house,
where could I get white mustard seed?
Thereupon I gained mindfulness. Verse 25
Walt 718 Throwing away my baby’s corpse,
I went up to the World’s Leader.
Having seen me from a distance
the Sweet-Voiced One then said to me. Verse 26
Walt 719 “Better than a hundred years’ life,
not seeing how things rise and fall,
is living for a single day,
seeing things rising and falling. Verse 27
Walt 720 Not the condition of the village, or the town,
and also not the condition of one clan.
This is the condition of the entire world
with its gods: the impermanence of all that is.” Verse 28
Walt 721 Upon hearing those two verses,
I purified my “Dhamma eye,”
then learned in the great Teaching,
I went forth into homelessness. Verse 29
Walt 722 Then being one who had gone forth,
engaged in the dispensation,
after not a very long time,
I attained my arahantship. Verse 30
Walt 723 I’ve mastered the superpowers
like the “divine ear” element.
I know the hearts of others too,
I have done what the Teacher taught. Verse 31
Walt 724 I remember my former lives;
my “divine eye” is purified.
Throwing off all the defilements,
I am purified, I’m stainless. Verse 32
Walt 725 The Teacher’s been worshipped by me;
I have done what the Buddha taught.
The heavy load has been laid down,
the ties to existence severed. Verse 33
Walt 726 The reason for which I went forth,
from my home into homelessness —
I have now achieved that purpose:
destruction of all the fetters. Verse 34
Walt 727 In meaning and in the Teaching,
etymology and preaching,
my knowledge is vast and flawless,
through the Great Sage’s majesty. Verse 35
Walt 728 I am wearing robes which are rough,
my saṅghāṭi being made of
a shroud picked up and brought from a
cemetery along the road. Verse 36
Walt 729 The Victor, pleased by my virtue,
the Guide, among the multitudes,
then placed me in the foremost place
of those who wear robes which are rough. Verse 37
Walt 730 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 38
Walt 731 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 39
Walt 732 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 40
Thus indeed Bhikkhunī Kisāgotamī spoke these verses.
The legend of Kisāgotamī Therī is finished.