Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải năm xứ được sanh lên do các việc làm khác nhau, hay là do một việc làm?”
“Tâu đại vương, chúng được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Năm loại hạt giống gieo ở một cánh đồng, đối với các loại hạt giống khác nhau phải chăng các quả khác nhau được sanh lên?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Chúng được sanh lên.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế năm xứ được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yānimāni pañcāyatanāni, kiṁ nu tāni nānākammehi nibbattāni, udāhu ekena kammenā”ti?
“Nānākammehi, mahārāja, nibbattāni, na ekena kammenā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, ekasmiṁ khette nānābījāni vappeyyuṁ, tesaṁ nānābījānaṁ nānāphalāni nibbatteyyun”ti?
“Āma, bhante, nibbatteyyun”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yāni yāni pañcāyatanāni, tāni tāni nānākammehi nibbattāni, na ekena kammenā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Pañcāyatanakammanibbattapañho tatiyo.
PTS cs 1 PTS vp Pali 65 The king said: ‘Are the five Āyatanas, Nāgasena, (eye, ear, nose, tongue, and body,) produced by various actions, or by one action?’ (that is, the result of various Karmas, or of one Karma.)
‘By various actions, not by one.’
‘Give me an illustration.’
‘Now, what do you think, O king? If I were to sow in one field five kinds of seed, would the produce of those various seeds be of different kinds?’
‘Yes, certainly.’
‘Well, just so with respect to the production of āyatanas.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải năm xứ được sanh lên do các việc làm khác nhau, hay là do một việc làm?”
“Tâu đại vương, chúng được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Năm loại hạt giống gieo ở một cánh đồng, đối với các loại hạt giống khác nhau phải chăng các quả khác nhau được sanh lên?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Chúng được sanh lên.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế năm xứ được sanh lên do các việc làm khác nhau, không phải do một việc làm.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yānimāni pañcāyatanāni, kiṁ nu tāni nānākammehi nibbattāni, udāhu ekena kammenā”ti?
“Nānākammehi, mahārāja, nibbattāni, na ekena kammenā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, ekasmiṁ khette nānābījāni vappeyyuṁ, tesaṁ nānābījānaṁ nānāphalāni nibbatteyyun”ti?
“Āma, bhante, nibbatteyyun”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yāni yāni pañcāyatanāni, tāni tāni nānākammehi nibbattāni, na ekena kammenā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Pañcāyatanakammanibbattapañho tatiyo.