Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào chưa đạt được Niết Bàn, có phải người ấy biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào chưa đạt được Niết Bàn, người ấy vẫn biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong khi không đạt được Niết Bàn làm thế nào lại biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Đối với những người có tay chân không bị chặt đứt, tâu đại vương, có phải họ có thể biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Làm thế nào họ có thể biết được?”
“Thưa ngài, sau khi lắng nghe tiếng rên rỉ của những người khác có tay chân bị chặt đứt, họ biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sau khi lắng nghe những người đã thấy được Niết Bàn mà biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Niết Bàn là thứ tư.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na labhati nibbānaṁ, jānāti so ‘sukhaṁ nibbānan’”ti?
“Āma, mahārāja, yo na labhati nibbānaṁ, jānāti so ‘sukhaṁ nibbānan’”ti.
“Kathaṁ, bhante nāgasena, alabhanto jānāti ‘sukhaṁ nibbānan’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yesaṁ nacchinnā hatthapādā, jāneyyuṁ te, mahārāja, ‘dukkhaṁ hatthapādacchedanan’”ti?
“Āma, bhante, jāneyyun”ti.
“Kathaṁ jāneyyun”ti?
“Aññesaṁ, bhante, chinnahatthapādānaṁ paridevitasaddaṁ sutvā jānanti ‘dukkhaṁ hatthapādacchedanan’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yesaṁ diṭṭhaṁ nibbānaṁ, tesaṁ saddaṁ sutvā jānāti ‘sukhaṁ nibbānan’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nibbānasukhajānanapañho dasamo.
Nibbānavaggo catuttho.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.
PTS cs 8 The king said: ‘Venerable Nāgasena, does he who does not receive Nirvāṇa know how happy a state Nirvāṇa is ?’
‘Yes, he knows it.’
‘But how can he know that without his receiving Nirvāṇa?’
‘Now what do you think, O king? Do those whose hands and feet have not been cut off know how sad a thing it is to have them cut off?’
‘Yes, Sir, that they know.’
‘But how do they know it?’
‘Well, by hearing the sound of the lamentation of those whose hands and feet have been cut off, they know it.’
PTS vp Pali 70 ‘Just so, great king, it is by hearing the glad words of those who have seen Nirvāṇa, that they who have not received it know how happy a state it is.’
‘Very good, Nāgasena!’
Here ends the Fourth Chapter.
PTS vp En 109 Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, người nào chưa đạt được Niết Bàn, có phải người ấy biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Người nào chưa đạt được Niết Bàn, người ấy vẫn biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong khi không đạt được Niết Bàn làm thế nào lại biết được Niết Bàn là an lạc?”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Đối với những người có tay chân không bị chặt đứt, tâu đại vương, có phải họ có thể biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Làm thế nào họ có thể biết được?”
“Thưa ngài, sau khi lắng nghe tiếng rên rỉ của những người khác có tay chân bị chặt đứt, họ biết được sự chặt đứt tay chân là đau đớn.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế sau khi lắng nghe những người đã thấy được Niết Bàn mà biết được Niết Bàn là an lạc.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Niết Bàn là thứ tư.
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yo na labhati nibbānaṁ, jānāti so ‘sukhaṁ nibbānan’”ti?
“Āma, mahārāja, yo na labhati nibbānaṁ, jānāti so ‘sukhaṁ nibbānan’”ti.
“Kathaṁ, bhante nāgasena, alabhanto jānāti ‘sukhaṁ nibbānan’”ti?
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yesaṁ nacchinnā hatthapādā, jāneyyuṁ te, mahārāja, ‘dukkhaṁ hatthapādacchedanan’”ti?
“Āma, bhante, jāneyyun”ti.
“Kathaṁ jāneyyun”ti?
“Aññesaṁ, bhante, chinnahatthapādānaṁ paridevitasaddaṁ sutvā jānanti ‘dukkhaṁ hatthapādacchedanan’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yesaṁ diṭṭhaṁ nibbānaṁ, tesaṁ saddaṁ sutvā jānāti ‘sukhaṁ nibbānan’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nibbānasukhajānanapañho dasamo.
Nibbānavaggo catuttho.
Imasmiṁ vagge dasa pañhā.