Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Lửa địa ngục nóng dữ dội hơn lửa bình thường. Một hòn đá nhỏ bé được ném vào trong lửa bình thường, trong khi bị đốt cháy trọn ngày vẫn không bị tiêu hoại, còn tảng đá thậm chí lớn bằng ngôi nhà mái nhọn được ném vào trong lửa địa ngục liền bị tiêu hoại trong giây lát.’ Trẫm không tin lời nói này. Hơn nữa, ngài còn nói như vầy: ‘Chúng sanh nào sanh ra ở nơi ấy, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại,’ trẫm cũng không tin lời nói này.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như cá đao cái, cá sấu cái, rùa cái, công mái, bồ câu mái, phải chăng chúng ăn các hòn đá và các hạt cát cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như sư tử cái, cọp cái, beo cái, chó cái, phải chăng chúng cũng ăn các khúc xương và các miếng thịt cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các phụ nữ như các cô mảnh mai xứ Yona, các cô mảnh mai dòng Sát-đế-lỵ, các cô mảnh mai dòng Bà-la-môn, các cô gia chủ mảnh mai, phải chăng họ cũng ăn các vật nhai và các miếng thịt cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Họ ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của họ thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của những phụ nữ ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘pākatikaaggito nerayiko aggi mahābhitāpataro hoti, khuddakopi pāsāṇo pākatike aggimhi pakkhitto divasampi paccamāno na vilayaṁ gacchati, kūṭāgāramattopi pāsāṇo nerayikaggimhi pakkhitto khaṇena vilayaṁ gacchatī’ti, etaṁ vacanaṁ na saddahāmi, evañca pana vadetha ‘ye ca tattha uppannā sattā, te anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchantī’ti, tampi vacanaṁ na saddahāmī”ti.
Thero āha—
“taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi makariniyopi susumāriniyopi kacchapiniyopi moriniyopi kapotiniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni pāsāṇāni sakkharāyo ca khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho, sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so na tāva kālaṁ karoti, yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhotī’”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi sīhiniyopi byagghiniyopi dīpiniyopi kukkuriniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni aṭṭhikāni maṁsāni khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho, sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchantī”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi yonakasukhumāliniyopi khattiyasukhumāliniyopi brāhmaṇasukhumāliniyopi gahapatisukhumāliniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni khajjakāni maṁsāni khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so na tāva kālaṁ karoti, yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhotī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nerayikaggiuṇhabhāvapañho chaṭṭho.
PTS cs 4 The king said: ‘You (Buddhists) say thus: “The fire of purgatory is very much more fierce than an ordinary fire. A small stone cast into an ordinary fire may smoke for a day without being destroyed; but a rock as big as an upper chamber cast into the furnace of purgatory would be that moment destroyed.” That is a statement I cannot believe. Now, on the other hand you say thus: “Whatsoever beings are there reborn, though they PTS vp En 104 burn for hundreds of thousands of years in purgatory, yet are they not destroyed.” That too is a statement I don’t believe.’
The Elder said: ‘Now what do you think, O king? Do not the females of sharks and crocodiles and tortoises and peacocks and pigeons eat hard bits of stone and gravel?’
‘Yes, Sir. They do.’
‘What then? Are these hard things, when they have got into the stomach, into the interior of the abdomen, destroyed?’
‘Yes, they are destroyed.’
‘And the embryo that may be inside the same animals—is that too destroyed?’
‘Certainly not.’
‘But why not.’
‘I suppose, Sir, it escapes destruction by the influence of Karma.’
‘Just so, great king, it is through the influence of Karma that beings, though they have been for thousands of years in purgatory, are not destroyed. If they are reborn there, there do they grow up, and there do they die. For this, O king, has been declared by the Blessed One: “He does not die until that evil Karma is exhausted.”
‘Give me a further illustration.’ PTS vp En 105
‘Now what do you think, O king? Do not the females of lions and tigers and panthers and dogs eat hard bits of bone and flesh?’
‘Yes, they eat such things.’
‘What then? are such hard things, PTS vp Pali 68 when they have got into the stomach, into the interior of the abdomen, destroyed?’
‘Yes, they are destroyed?’
‘And the embryo that may be inside the same animals—is that too destroyed?’
‘Certainly not.’
‘But why not?’
‘I suppose, Sir, it escapes destruction by the influence of Karma.’
‘Just so, great king, it is by the influence of Karma that beings in purgatory, though they burn for thousands of years, are not destroyed.’
‘Give me a further illustration.’
‘Now what do you think, O king? Do not the tender women—wives of the Yonakas, and nobles, and brahmins, and householders—eat hard cakes and meat.
‘Yes, they eat such hard things.’
‘And when those hard things have got into the stomach, into the interior of the abdomen, are not they destroyed?’
‘Yes, they are.’
‘But the children in their womb—are they destroyed?’
‘Certainly not.’
‘And why not?’
‘I suppose, Sir, they escape destruction by the influence of Karma?’
‘Just so, great king, it is through the influence PTS vp En 106 of Karma that beings in purgatory, though they burn for thousands of years, yet are they not destroyed, If they are reborn there, there do they grow up, and there do they die. For this, O king, has been declared by the Blessed One: “He does not die until that evil Karma is exhausted.”’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Lửa địa ngục nóng dữ dội hơn lửa bình thường. Một hòn đá nhỏ bé được ném vào trong lửa bình thường, trong khi bị đốt cháy trọn ngày vẫn không bị tiêu hoại, còn tảng đá thậm chí lớn bằng ngôi nhà mái nhọn được ném vào trong lửa địa ngục liền bị tiêu hoại trong giây lát.’ Trẫm không tin lời nói này. Hơn nữa, ngài còn nói như vầy: ‘Chúng sanh nào sanh ra ở nơi ấy, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại,’ trẫm cũng không tin lời nói này.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như cá đao cái, cá sấu cái, rùa cái, công mái, bồ câu mái, phải chăng chúng ăn các hòn đá và các hạt cát cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục, trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các loài như sư tử cái, cọp cái, beo cái, chó cái, phải chăng chúng cũng ăn các khúc xương và các miếng thịt cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của chúng thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của các loài thú cái ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Các phụ nữ như các cô mảnh mai xứ Yona, các cô mảnh mai dòng Sát-đế-lỵ, các cô mảnh mai dòng Bà-la-môn, các cô gia chủ mảnh mai, phải chăng họ cũng ăn các vật nhai và các miếng thịt cứng rắn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Họ ăn.”
“Vậy có phải các thứ này khi đã đi vào bên trong bao tử ở bụng của họ thì bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Chúng bị tiêu hoại.”
“Vậy còn bào thai ở trong bụng của những phụ nữ ấy cũng bị tiêu hoại?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, trẫm nghĩ do tác động của nghiệp khiến chúng không bị tiêu hoại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tác động của nghiệp khiến chúng sanh ở địa ngục trong khi bị nung nấu ở địa ngục thậm chí trong nhiều ngàn năm, vẫn không bị tiêu hoại; họ sanh ra ngay tại nơi ấy, lớn lên ngay tại nơi ấy, chết đi ngay tại nơi ấy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Cho đến khi nào nghiệp ác ấy còn chưa được diệt tận thì chúng sanh địa ngục ấy vẫn không chết.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘pākatikaaggito nerayiko aggi mahābhitāpataro hoti, khuddakopi pāsāṇo pākatike aggimhi pakkhitto divasampi paccamāno na vilayaṁ gacchati, kūṭāgāramattopi pāsāṇo nerayikaggimhi pakkhitto khaṇena vilayaṁ gacchatī’ti, etaṁ vacanaṁ na saddahāmi, evañca pana vadetha ‘ye ca tattha uppannā sattā, te anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchantī’ti, tampi vacanaṁ na saddahāmī”ti.
Thero āha—
“taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi makariniyopi susumāriniyopi kacchapiniyopi moriniyopi kapotiniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni pāsāṇāni sakkharāyo ca khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho, sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so na tāva kālaṁ karoti, yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhotī’”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi sīhiniyopi byagghiniyopi dīpiniyopi kukkuriniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni aṭṭhikāni maṁsāni khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho, sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchantī”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yā tā santi yonakasukhumāliniyopi khattiyasukhumāliniyopi brāhmaṇasukhumāliniyopi gahapatisukhumāliniyopi, kiṁ nu tā kakkhaḷāni khajjakāni maṁsāni khādantī”ti?
“Āma, bhante, khādantī”ti.
“Kiṁ pana tāni tāsaṁ kucchiyaṁ koṭṭhabbhantaragatāni vilayaṁ gacchantī”ti?
“Āma, bhante, vilayaṁ gacchantī”ti.
“Yo pana tāsaṁ kucchiyaṁ gabbho sopi vilayaṁ gacchatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Maññāmi, bhante, kammādhikatena na vilayaṁ gacchatī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kammādhikatena nerayikā sattā anekānipi vassasahassāni niraye paccamānā na vilayaṁ gacchanti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘so na tāva kālaṁ karoti, yāva na taṁ pāpakammaṁ byantīhotī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nerayikaggiuṇhabhāvapañho chaṭṭho.