Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là vị biết tất cả, thấy tất cả?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao đức Thế Tôn đã quy định điều học cho các đệ tử theo từng điều một?”
“Tâu đại vương, có người thầy thuốc nào của ngài biết được toàn bộ dược phẩm ở trái đất này không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, hay là khi thời điểm chưa đến?”
“Thưa ngài, vị ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, không phải khi thời điểm chưa đến.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả; ngài không quy định điều học cho các đệ tử khi không phải là thời điểm. Khi thời điểm đã đến, ngài mới quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không nên vượt qua.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, buddho sabbaññū sabbadassāvī”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī”ti.
“Atha kissa nu kho, bhante nāgasena, sāvakānaṁ anupubbena sikkhāpadaṁ paññapesī”ti?
“Atthi pana te, mahārāja, koci vejjo, yo imissaṁ pathaviyaṁ sabbabhesajjāni jānātī”ti?
“Āma, bhante, atthī”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, so vejjo gilānakaṁ sampatte kāle bhesajjaṁ pāyeti, udāhu asampatte kāle”ti?
“Sampatte kāle, bhante, gilānakaṁ bhesajjaṁ pāyeti, no asampatte kāle”ti?
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī na asampatte kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti, sampatte kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti yāvajīvaṁ anatikkamanīyan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sabbaññūbhāvapañho dutiyo.
PTS cs 2 The king said: ‘Did the Buddha, Nāgasena, the omniscient one, foresee all things?’
‘Yes. The Blessed One was not only omniscient. He foresaw all things.’
‘Then why was it that he was in the habit only from time to time, and as occasion arose, of laying down rules for the members of the Order ?’
‘Is there any physician, O king, who knows all the medicinal drugs to be found on the earth?’
‘Yes, there may be such a man.’
‘Well, O king, does he give his decoctions to the patient to drink at a time when illness has already set in, or before that?’
‘When the malady has arisen.’
‘Just so, great king, the Blessed One, though he was omniscient and foresaw all things, laid down no rule at an unseasonable time, but only when need arose did he establish a regulation which his disciples were not to transgress as long as they lived.’
‘Well answered, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật là vị biết tất cả, thấy tất cả?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao đức Thế Tôn đã quy định điều học cho các đệ tử theo từng điều một?”
“Tâu đại vương, có người thầy thuốc nào của ngài biết được toàn bộ dược phẩm ở trái đất này không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có.”
“Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, hay là khi thời điểm chưa đến?”
“Thưa ngài, vị ấy cho người bệnh uống thuốc khi thời điểm đã đến, không phải khi thời điểm chưa đến.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn là vị biết tất cả, thấy tất cả; ngài không quy định điều học cho các đệ tử khi không phải là thời điểm. Khi thời điểm đã đến, ngài mới quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không nên vượt qua.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, buddho sabbaññū sabbadassāvī”ti?
“Āma, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī”ti.
“Atha kissa nu kho, bhante nāgasena, sāvakānaṁ anupubbena sikkhāpadaṁ paññapesī”ti?
“Atthi pana te, mahārāja, koci vejjo, yo imissaṁ pathaviyaṁ sabbabhesajjāni jānātī”ti?
“Āma, bhante, atthī”ti.
“Kiṁ nu kho, mahārāja, so vejjo gilānakaṁ sampatte kāle bhesajjaṁ pāyeti, udāhu asampatte kāle”ti?
“Sampatte kāle, bhante, gilānakaṁ bhesajjaṁ pāyeti, no asampatte kāle”ti?
“Evameva kho, mahārāja, bhagavā sabbaññū sabbadassāvī na asampatte kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti, sampatte kāle sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññāpeti yāvajīvaṁ anatikkamanīyan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sabbaññūbhāvapañho dutiyo.