Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự khác biệt ở người có tham ái và ở người đã lìa tham ái?”
“Tâu đại vương, một người là bị dính mắc, một người không bị dính mắc.”
“Thưa ngài, điều gì gọi là dính mắc, và không dính mắc?”
“Tâu đại vương, một người có mong cầu, một người không có mong cầu.”
“Thưa ngài, trẫm thấy như vầy: Người có tham ái và người đã lìa tham ái, cả hai hạng này đều ưa thích vật thực loại cứng loại mềm tốt đẹp và không ưa thích bất cứ loại nào xấu.”
“Tâu đại vương, người chưa lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị, có sự nhận biết về tham ái ở mùi vị, còn người đã lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị nhưng sự nhận biết về tham ái ở mùi vị là không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁ nānākaraṇaṁ sarāgassa ca vītarāgassa cā”ti?
“Eko kho, mahārāja, ajjhosito, eko anajjhosito”ti.
“Kiṁ etaṁ, bhante, ajjhosito anajjhosito nāmā”ti?
“Eko kho, mahārāja, atthiko, eko anatthiko”ti.
“Passāmahaṁ, bhante, evarūpaṁ yo ca sarāgo, yo ca vītarāgo, sabbopeso sobhanaṁyeva icchati khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā, na koci pāpakaṁ icchatī”ti.
“Avītarāgo kho, mahārāja, rasapaṭisaṁvedī ca rasarāgapaṭisaṁvedī ca bhojanaṁ bhuñjati, vītarāgo pana rasapaṭisaṁvedī bhojanaṁ bhuñjati, no ca kho rasarāgapaṭisaṁvedī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sarāgavītarāganānākaraṇapañho sattamo.
PTS cs 7 The king said: ‘What is the distinction, Nāgasena, between him who is full of passion, and him who is void of passion?’
‘The one is overpowered by craving, O king, and the other not.’
‘But what does that mean?’
‘The one is in want, O king, and the other not.’
‘I look at it, Sir, in this way. He who has passion and he who has not—both of them alike—desire what is good to eat, either hard or soft. And neither of them desires what is wrong.’
‘The lustful man, O king, in eating his food enjoys both the taste and the lust that arises from taste, PTS vp Pali 77 but the man free from lusts experiences the taste only, and not the lust arising therefrom.’
‘Well answered, Nāgasena!’ PTS vp En 120
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự khác biệt ở người có tham ái và ở người đã lìa tham ái?”
“Tâu đại vương, một người là bị dính mắc, một người không bị dính mắc.”
“Thưa ngài, điều gì gọi là dính mắc, và không dính mắc?”
“Tâu đại vương, một người có mong cầu, một người không có mong cầu.”
“Thưa ngài, trẫm thấy như vầy: Người có tham ái và người đã lìa tham ái, cả hai hạng này đều ưa thích vật thực loại cứng loại mềm tốt đẹp và không ưa thích bất cứ loại nào xấu.”
“Tâu đại vương, người chưa lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị, có sự nhận biết về tham ái ở mùi vị, còn người đã lìa tham ái thọ dụng vật thực có sự nhận biết về mùi vị nhưng sự nhận biết về tham ái ở mùi vị là không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁ nānākaraṇaṁ sarāgassa ca vītarāgassa cā”ti?
“Eko kho, mahārāja, ajjhosito, eko anajjhosito”ti.
“Kiṁ etaṁ, bhante, ajjhosito anajjhosito nāmā”ti?
“Eko kho, mahārāja, atthiko, eko anatthiko”ti.
“Passāmahaṁ, bhante, evarūpaṁ yo ca sarāgo, yo ca vītarāgo, sabbopeso sobhanaṁyeva icchati khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā, na koci pāpakaṁ icchatī”ti.
“Avītarāgo kho, mahārāja, rasapaṭisaṁvedī ca rasarāgapaṭisaṁvedī ca bhojanaṁ bhuñjati, vītarāgo pana rasapaṭisaṁvedī bhojanaṁ bhuñjati, no ca kho rasarāgapaṭisaṁvedī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sarāgavītarāganānākaraṇapañho sattamo.