BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’ Thưa ngài Nāgasena, trấn áp nghĩa là chặt tay, chặt chân, trừng phạt, giam cầm, hành hạ, giết chết, làm tổn thương sự tiếp nối (mạng sống). Lời nói này đối với đức Thế Tôn là không được đúng đắn. Và đức Thế Tôn không thể nào nói lời nói này.
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’
Tâu đại vương, điều nói là: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ đối với tất cả các đức Như Lai thì điều này được chấp thuận, điều này là sự chỉ dạy, điều này là sự giảng giải Giáo Pháp. Tâu đại vương, bởi vì Giáo Pháp có sự không hãm hại là tướng trạng. Điều này là lời nói về bản thể.
Tâu đại vương, còn về việc đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ điều ấy là ngôn từ. Tâu đại vương, tâm bị kích động là cần được trấn áp, tâm trì trệ là cần được nâng đỡ. Tâm bất thiện là cần được trấn áp, tâm thiện là cần được nâng đỡ. Tác ý không đúng đường lối là cần được trấn áp, tác ý đúng đường lối là cần được nâng đỡ. Sự thực hành sai trái là cần được trấn áp, sự thực hành đúng đắn là cần được nâng đỡ. Người không thánh thiện là cần được trấn áp, người thánh thiện là cần được nâng đỡ. Kẻ trộm cướp là cần được trấn áp, kẻ không là trộm cướp là cần được nâng đỡ.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Giờ đây ngài mới đề cập đến vấn đề của trẫm, trẫm quan tâm đến ý nghĩa của điều trẫm hỏi. Thưa ngài Nāgasena, như vậy trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như vầy: Kẻ đáng quở trách thì nên quở trách, kẻ đáng trừng phạt thì nên trừng phạt, kẻ đáng lưu đày thì nên lưu đày, kẻ đáng giam cầm thì nên giam cầm, kẻ đáng tử hình thì nên tử hình.”
“Thưa ngài Nāgasena, như vậy việc tử hình những kẻ trộm cướp có được các đức Như Lai chấp thuận không?”
“Tâu đại vương, không.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao việc kẻ trộm cướp cần được chỉ dạy lại được các đức Như Lai chấp thuận?”
“Tâu đại vương, kẻ nào bị tử hình, không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai mà kẻ ấy bị tử hình. Kẻ ấy bị tử hình bởi việc đã làm của chính bản thân. Thêm nữa, kẻ ấy được chỉ dạy theo sự chỉ dạy về Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng bậc trí có thể bắt giữ người không gây án không phạm tội đang đi trên đường rồi giết chết không?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì là người không gây án.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế kẻ trộm cướp sẽ bị giết chết không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai. Kẻ ấy sẽ bị giết chết bởi việc đã làm của chính bản thân. Như thế, phải chăng trong trường hợp này người chỉ dạy phạm vào lỗi lầm nào đó?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, như thế thì sự chỉ dạy của các đức Như Lai là sự chỉ dạy đúng đắn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự không hãm hại và sự trấn áp là thứ mười một.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti.
Niggaho nāma, bhante nāgasena, hatthacchedo pādacchedo vadho bandhanaṁ kāraṇā māraṇaṁ santativikopanaṁ, na etaṁ vacanaṁ bhagavato yuttaṁ, na ca bhagavā arahati etaṁ vacanaṁ vattuṁ.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti, tena hi ‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti, tena hi ‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti, bhaṇitañca—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti.
‘Ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti sabbesaṁ, mahārāja, tathāgatānaṁ anumataṁ etaṁ, esā anusiṭṭhi, esā dhammadesanā, dhammo hi, mahārāja, ahiṁsālakkhaṇo, sabhāvavacanaṁ etaṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgato āha—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti, bhāsā esā, uddhataṁ, mahārāja, cittaṁ niggahetabbaṁ, līnaṁ cittaṁ paggahetabbaṁ.
Akusalaṁ cittaṁ niggahetabbaṁ, kusalaṁ cittaṁ paggahetabbaṁ.
Ayoniso manasikāro niggahetabbo, yoniso manasikāro paggahetabbo.
Micchāpaṭipanno niggahetabbo, sammāpaṭipanno paggahetabbo.
Anariyo niggahetabbo ariyo paggahetabbo.
Coro niggahetabbo, acoro paggahetabbo”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, idāni tvaṁ paccāgatosi mama visayaṁ, yamahaṁ pucchāmi, so me attho upagato.
Coro pana, bhante nāgasena, niggaṇhantena kathaṁ niggahetabbo”ti?
“Coro, mahārāja, niggaṇhantena evaṁ niggahetabbo, paribhāsanīyo paribhāsitabbo, daṇḍanīyo daṇḍetabbo, pabbājanīyo pabbājetabbo, bandhanīyo bandhitabbo, ghātanīyo ghātetabbo”ti.
“Yaṁ pana, bhante nāgasena, corānaṁ ghātanaṁ, taṁ tathāgatānaṁ anumatan”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kissa pana coro anusāsanīyo anumato tathāgatānan”ti?
“Yo so, mahārāja, ghātīyati, na so tathāgatānaṁ anumatiyā ghātīyati, sayaṅkatena so ghātīyati, api ca dhammānusiṭṭhiyā anusāsīyati, sakkā pana, mahārāja, tayā purisaṁ akārakaṁ anaparādhaṁ vīthiyaṁ carantaṁ gahetvā ghātayitun”ti?
“Na sakkā, bhante”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Akārakattā, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na coro tathāgatānaṁ anumatiyā haññati, sayaṅkatena so haññati, kiṁ panettha anusāsako kiñci dosaṁ āpajjatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, tathāgatānaṁ anusiṭṭhi sammānusiṭṭhi hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ahiṁsāniggahapañho ekādasamo.
PTS cs 35 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said:
“Doing no injury to any one
Dwell full of love and kindness in the world.”
And on the other hand he said: “Punish him who deserves punishment, favour him who is worthy of favour.” PTS vp Pali 185 Now punishment, Nāgasena, means the cutting off of hands or feet, flogging, casting into bonds, torture, execution, degradation in rank. PTS vp En 255 Such a saying is therefore not worthy of the Blessed One, and he ought not to have made use of it. For if the first injunction be right then this must be wrong, and if this be right then the injunction to do no injury to any one, but to dwell full of love and kindness in the world, must be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 36 ‘The Blessed One, great king, gave both the commands you quote. As to the first, to do no injury to any one, but to live full of love and kindness in the world—that is a doctrine approved by all the Buddhas. And that verse is an injunction, an unfolding of the Dhamma, for the Dhamma has as its characteristic that it works no ill. And the saying is thus in thorough accord with it. But as to the second command you quote that is a special use of terms [which you have misunderstood. The real meaning of them is: “Subdue that which ought to be subdued, strive after, cultivate, favour what is worthy of effort, cultivation, and approval”]. The proud heart, great king, is to be subdued, and the lowly heart cultivated—the wicked heart to be subdued, and the good heart to be cultivated—carelessness of thought is to. be subdued, and exactness of thought to be cultivated—PTS vp Pali 186 he who is given over to wrong views is to be subdued, and he who has attained to right views is to be cultivated—he who is not noble is to be subdued, and the noble one is PTS vp En 256 to be cultivated—the robber is to be subdued, and the honest brother is to be cultivated.’
PTS cs 37 ‘Let that be so, Nāgasena. But now, in that last word of yours, you have put yourself into my power, you have come round to the sense in which I put my question. For how, venerable Nāgasena, is the robber to be subdued by him who sets to work to subdue him?’
‘Thus, great king—if deserving of rebuke let him be rebuked, if of a fine let him be fined, if of banishment let him be banished, if of death let him be put to death.’
‘Is then, Nāgasena, the execution of robbers part of the doctrine laid down by the Tathāgatas?’
‘Certainly not, O king.’
‘Then why have the Tathāgatas laid down that the robber is to be taught better?’
‘Whosoever, great king, may be put to death, he does not suffer execution by reason of the opinion put forth by the Tathāgatas. He suffers by reason of what he himself has done. But notwithstanding that the doctrine of the Dhamma has been taught (by the Buddhas), would it be possible, great king, for a man who had done nothing wrong, and was walking innocently along the streets, to be seized and put to death by any wise person?’
‘Certainly not.’ PTS vp En 257
‘But why?’
‘Because of his innocence.’
‘Just so, great king, since the thief is not put to death through the word of the Tathāgata, but only through his own act, how can any fault be rightly found on that account with the Teacher?’
‘It could not be, Sir.’
‘So you see the teaching of the Tathāgatas is a righteous teaching.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to kindness and punishment.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’ Thưa ngài Nāgasena, trấn áp nghĩa là chặt tay, chặt chân, trừng phạt, giam cầm, hành hạ, giết chết, làm tổn thương sự tiếp nối (mạng sống). Lời nói này đối với đức Thế Tôn là không được đúng đắn. Và đức Thế Tôn không thể nào nói lời nói này.
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’
Tâu đại vương, điều nói là: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ đối với tất cả các đức Như Lai thì điều này được chấp thuận, điều này là sự chỉ dạy, điều này là sự giảng giải Giáo Pháp. Tâu đại vương, bởi vì Giáo Pháp có sự không hãm hại là tướng trạng. Điều này là lời nói về bản thể.
Tâu đại vương, còn về việc đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ điều ấy là ngôn từ. Tâu đại vương, tâm bị kích động là cần được trấn áp, tâm trì trệ là cần được nâng đỡ. Tâm bất thiện là cần được trấn áp, tâm thiện là cần được nâng đỡ. Tác ý không đúng đường lối là cần được trấn áp, tác ý đúng đường lối là cần được nâng đỡ. Sự thực hành sai trái là cần được trấn áp, sự thực hành đúng đắn là cần được nâng đỡ. Người không thánh thiện là cần được trấn áp, người thánh thiện là cần được nâng đỡ. Kẻ trộm cướp là cần được trấn áp, kẻ không là trộm cướp là cần được nâng đỡ.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Giờ đây ngài mới đề cập đến vấn đề của trẫm, trẫm quan tâm đến ý nghĩa của điều trẫm hỏi. Thưa ngài Nāgasena, như vậy trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như vầy: Kẻ đáng quở trách thì nên quở trách, kẻ đáng trừng phạt thì nên trừng phạt, kẻ đáng lưu đày thì nên lưu đày, kẻ đáng giam cầm thì nên giam cầm, kẻ đáng tử hình thì nên tử hình.”
“Thưa ngài Nāgasena, như vậy việc tử hình những kẻ trộm cướp có được các đức Như Lai chấp thuận không?”
“Tâu đại vương, không.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao việc kẻ trộm cướp cần được chỉ dạy lại được các đức Như Lai chấp thuận?”
“Tâu đại vương, kẻ nào bị tử hình, không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai mà kẻ ấy bị tử hình. Kẻ ấy bị tử hình bởi việc đã làm của chính bản thân. Thêm nữa, kẻ ấy được chỉ dạy theo sự chỉ dạy về Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng bậc trí có thể bắt giữ người không gây án không phạm tội đang đi trên đường rồi giết chết không?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì là người không gây án.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế kẻ trộm cướp sẽ bị giết chết không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai. Kẻ ấy sẽ bị giết chết bởi việc đã làm của chính bản thân. Như thế, phải chăng trong trường hợp này người chỉ dạy phạm vào lỗi lầm nào đó?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, như thế thì sự chỉ dạy của các đức Như Lai là sự chỉ dạy đúng đắn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự không hãm hại và sự trấn áp là thứ mười một.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti.
Niggaho nāma, bhante nāgasena, hatthacchedo pādacchedo vadho bandhanaṁ kāraṇā māraṇaṁ santativikopanaṁ, na etaṁ vacanaṁ bhagavato yuttaṁ, na ca bhagavā arahati etaṁ vacanaṁ vattuṁ.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti, tena hi ‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti, tena hi ‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti, bhaṇitañca—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti.
‘Ahiṁsāya cara loke, piyo hohisi maṁmivā’ti sabbesaṁ, mahārāja, tathāgatānaṁ anumataṁ etaṁ, esā anusiṭṭhi, esā dhammadesanā, dhammo hi, mahārāja, ahiṁsālakkhaṇo, sabhāvavacanaṁ etaṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgato āha—
‘niggaṇhe niggahārahaṁ, paggaṇhe paggahārahan’ti, bhāsā esā, uddhataṁ, mahārāja, cittaṁ niggahetabbaṁ, līnaṁ cittaṁ paggahetabbaṁ.
Akusalaṁ cittaṁ niggahetabbaṁ, kusalaṁ cittaṁ paggahetabbaṁ.
Ayoniso manasikāro niggahetabbo, yoniso manasikāro paggahetabbo.
Micchāpaṭipanno niggahetabbo, sammāpaṭipanno paggahetabbo.
Anariyo niggahetabbo ariyo paggahetabbo.
Coro niggahetabbo, acoro paggahetabbo”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, idāni tvaṁ paccāgatosi mama visayaṁ, yamahaṁ pucchāmi, so me attho upagato.
Coro pana, bhante nāgasena, niggaṇhantena kathaṁ niggahetabbo”ti?
“Coro, mahārāja, niggaṇhantena evaṁ niggahetabbo, paribhāsanīyo paribhāsitabbo, daṇḍanīyo daṇḍetabbo, pabbājanīyo pabbājetabbo, bandhanīyo bandhitabbo, ghātanīyo ghātetabbo”ti.
“Yaṁ pana, bhante nāgasena, corānaṁ ghātanaṁ, taṁ tathāgatānaṁ anumatan”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kissa pana coro anusāsanīyo anumato tathāgatānan”ti?
“Yo so, mahārāja, ghātīyati, na so tathāgatānaṁ anumatiyā ghātīyati, sayaṅkatena so ghātīyati, api ca dhammānusiṭṭhiyā anusāsīyati, sakkā pana, mahārāja, tayā purisaṁ akārakaṁ anaparādhaṁ vīthiyaṁ carantaṁ gahetvā ghātayitun”ti?
“Na sakkā, bhante”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Akārakattā, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, na coro tathāgatānaṁ anumatiyā haññati, sayaṅkatena so haññati, kiṁ panettha anusāsako kiñci dosaṁ āpajjatī”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, tathāgatānaṁ anusiṭṭhi sammānusiṭṭhi hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ahiṁsāniggahapañho ekādasamo.