BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:‘Này các đại đức, đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch. Đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói khiến đức Như Lai phải gìn giữ rằng:—Chớ để người khác biết việc này của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi quy định tội pārājika về việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Như Lai đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại với những lời nói gay gắt. Và vì thế, vị trưởng lão ấy bị run sợ, có sự ăn hận, đã không thể thấu triệt Thánh Đạo. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch, đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại’ là sai trái. Nếu trong việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch, đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến: ‘Này các đại đức, đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch. Đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói khiến đức Như Lai phải gìn giữ rằng: -Chớ để người khác biết việc này của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi quy định tội pārājika về việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại. Tuy nhiên, điều ấy là không do tâm xấu xa, không do sự giận dữ, mà là với biểu hiện đúng đắn. Và ở đây biểu hiện đúng đắn là gì? Tâu đại vương, đối với cá nhân nào mà sự chứng ngộ bốn Sự Thật không có ở bản ngã này, thì bản thể con người của kẻ ấy là rồ dại, trong khi cái này đang được làm thì lại thành tựu với cái khác; do điều ấy mà được gọi là ‘kẻ rồ dại.’ Tâu đại vương, như thế đối với đại đức Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng lời nói về bản thể, không phải bằng lời không đúng sự thật.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, người nào trong khi mắng nhiếc (kẻ khác) mà nói đến cho dầu là đúng với bản thể, đối với người ấy chúng ta nên bắt chịu hình phạt nhẹ. Người ấy rõ ràng là có lỗi, người ấy mắng nhiếc trong khi thể hiện sự bày tỏ căn cứ vào sự kiện theo tính cách riêng.”
“Tâu đại vương, có phải đại vương đã được nghe trước đây về việc đảnh lễ, đứng dậy, tôn vinh, hoặc dâng biếu quà tặng đến người bị lỗi lầm chăng?”
“Thưa ngài, không có. Người ấy đã bị lỗi lầm vì điều gì, do đâu, ở nơi nào, ở bất cứ đâu, là xứng với sự rầy la, xứng với sự quở trách, đối với kẻ này người ta còn chặt đầu, hành hạ, trói lại, giết chết, và thiêu đốt nữa.”
“Tâu đại vương, như thế thì chỉ có việc nên làm là được đức Thế Tôn thực hiện, chứ không có việc không nên làm?”
“Thưa ngài Nāgasena, ngay cả hành động cần phải làm còn được thực hiện một cách phù hợp, một cách thích đáng. Thưa ngài Nāgasena, đối với đức Như Lai, chỉ riêng với việc nghe danh thôi thì thế gian có cả chư Thiên đều kinh hãi, hổ thẹn, với việc nhìn thấy thì còn nhiều hơn, với việc phục vụ khi đi đến gần thì còn vượt trội cả điều ấy nữa.”
BJT 4“Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc ban cho các loại thuốc thoa trong trường hợp cơ thể bị tiết dịch, có chất độc hoành hành?”
“Thưa ngài, không đúng. Với sự mong mỏi về sức khỏe, ông ta ban cho các loại thuốc mạnh, có thể gây cồn cào.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban cho lời chỉ bảo nhằm làm lặng yên tất cả các căn bệnh phiền não. Tâu đại vương, lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng xoa dịu chúng sanh, làm cho trở thành nhu thuận.
Tâu đại vương, giống như nước nóng làm mềm mại bất cứ vật gì có thể làm mềm mại, làm cho trở thành nhu nhuyến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót.
Tâu đại vương, giống như lời nói của người cha đối với các con trai là có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót. Tâu đại vương, lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt nhưng đưa đến sự dứt bỏ phiền não của các chúng sanh.
Tâu đại vương, giống như nước tiểu trâu bò dầu có mùi thối mà được uống vào, món thuốc dầu không có mùi vị mà được ăn vào, lại diệt trừ căn bệnh cho các chúng sanh, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót.
Tâu đại vương, giống như đống gòn, dầu lớn, rơi xuống ở cơ thể của người khác vẫn không gây ra thương tích, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng không làm sanh lên sự khổ đau cho bất cứ ai.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được giải quyết bằng nhiều lý lẽ. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về bản thể của lời nói gay gắt của đức Như Lai là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ therena sāriputtena dhammasenāpatinā parisuddhavacīsamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya ‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Puna ca tathāgato therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe pārājikaṁ paññapento pharusāhi vācāhi moghapurisavādena samudācari, tena ca so thero moghapurisavādena maṅkucittavasena rundhitattā vippaṭisārī nāsakkhi ariyamaggaṁ paṭivijjhituṁ.
Yadi, bhante nāgasena, parisuddhavacīsamācāro tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, tena hi tathāgatena therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe moghapurisavādena samudāciṇṇanti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi bhagavatā therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe moghapurisavādena samudāciṇṇaṁ, tena hi parisuddhavacīsamācāro tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritanti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘parisuddhavacīsamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya “mā me idaṁ paro aññāsī”’ti.
Āyasmato ca sudinnassa kalandaputtassa aparādhe pārājikaṁ paññapentena bhagavatā moghapurisavādena samudāciṇṇaṁ, tañca pana aduṭṭhacittena asārambhena yāthāvalakkhaṇena.
Kiñca tattha yāthāvalakkhaṇaṁ, yassa, mahārāja, puggalassa imasmiṁ attabhāve catusaccābhisamayo na hoti, tassa purisattanaṁ moghaṁ aññaṁ kayiramānaṁ aññena sambhavati, tena vuccati ‘moghapuriso’ti.
Iti, mahārāja, bhagavatā āyasmato sudinnassa kalandaputtassa sabhāvavacanena samudāciṇṇaṁ, no abhūtavādenā”ti.
“Sabhāvampi, bhante nāgasena, yo akkosanto bhaṇati, tassa mayaṁ kahāpaṇaṁ daṇḍaṁ dhārema, aparādhoyeva so vatthuṁ nissāya visuṁ vohāraṁ ācaranto akkosatī”ti.
“Atthi pana, mahārāja, sutapubbaṁ tayā khalitassa abhivādanaṁ vā paccuṭṭhānaṁ vā sakkāraṁ vā upāyanānuppadānaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante, yato kutoci yattha katthaci khalito, so paribhāsanāraho hoti tajjanāraho, uttamaṅgampissa chindanti hanantipi bandhantipi ghātentipi jhāpentipī”ti.
“Tena hi, mahārāja, bhagavatā kiriyāyeva katā, no akiriyā”ti.
“Kiriyampi, bhante nāgasena, kurumānena patirūpena kātabbaṁ anucchavikena, savanenapi, bhante nāgasena, tathāgatassa sadevako loko ottappati hiriyati bhiyyo dassanena tatuttariṁ upasaṅkamanena payirupāsanenā”ti.
“Api nu kho, mahārāja, tikicchako abhisanne kāye kupite dose sinehanīyāni bhesajjāni detī”ti?
“Na hi, bhante, tiṇhāni lekhanīyāni bhesajjāni detī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbakilesabyādhivūpasamāya anusiṭṭhiṁ deti, pharusāpi, mahārāja, tathāgatassa vācā satte sinehayati, muduke karoti.
Yathā, mahārāja, uṇhampi udakaṁ yaṁ kiñci sinehanīyaṁ sinehayati, mudukaṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī hoti karuṇāsahagatā.
Yathā, mahārāja, pituvacanaṁ puttānaṁ atthavantaṁ hoti karuṇāsahagataṁ;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī hoti karuṇāsahagatā.
Pharusāpi, mahārāja, tathāgatassa vācā sattānaṁ kilesappahānā hoti.
Yathā, mahārāja, duggandhampi gomuttaṁ pītaṁ virasampi agadaṁ khāyitaṁ sattānaṁ byādhiṁ hanati;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī karuṇāsahagatā.
Yathā, mahārāja, mahantopi tūlapuñjo parassa kāye nipatitvā rujaṁ na karoti;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā na kassaci dukkhaṁ uppādetī”ti.
“Suvinicchito, bhante nāgasena, pañho bahūhi kāraṇehi.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Pharusavācābhāvapañho catuttho.
PTS cs 15 PTS vp Pali 170 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Elder Sāriputta, the commander of the faith: “The PTS vp En 238 Tathāgata, brethren, is perfect in courtesy of speech. There is no fault of speech in the Tathāgata concerning which he should have to take care that no one else should know it.” And on the other hand the Tathāgata, when promulgating the first Pārājika on the occasion of the offence of Sudinna the Kalanda, addressed him with harsh words, calling him a useless fellow. And that Elder, on being so called, terrified with the fear of his teacher, and overcome with remorse, was unable to comprehend the Excellent Way. Now if the first statement be correct, the allegation that the Tathāgata called Sudinna the Kalanda a useless fellow must be false. But if that be true, then the first statement must be false. PTS vp Pali 171 This too is a double-pointed problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 16 ‘What Sāriputta the Elder said is true, O king. And the Blessed One called Sudinna a useless fellow on that occasion. But that was not out of rudeness of disposition, it was merely pointing out the real nature (of his conduct) in a way that would do him no harm. And what herein is meant by PTS vp En 239 “pointing out the real nature.” If any man, O king, in this birth does not attain to the perception of the Four Truths, then is his manhood (his being born as a man) in vain, but if he acts differently he will become different. Therefore is it that he is called a useless fellow. And so the Blessed One addressed Sudinna the Kalanda with words of truth, and not with words apart from the facts.’
PTS cs 17 ‘But, Nāgasena, though a man in abusing another speaks the truth, still we should inflict a small fine upon him. For he is guilty of an offence, inasmuch as he, although for something real, abused him by the use of words that might lead to a breach (of the peace).’
‘Have you ever heard, O king, of a people bowing down before, or rising up from their seats in respect for, or showing honour to, or bringing the complimentary presents (usually given to officials) to a criminal?’
‘No, if a man have committed a crime of whatever sort or kind, if he be really worthy of reproof and punishment, they would rather behead him, or torture PTS vp En 240 him, or bind him with bonds, or put him to death, or deprive him of his goods.’
‘Did then the Blessed One, O king, act with justice or not?’
‘With justice, Sir, and in a most fit and proper way. And when, Nāgasena, they hear of it the world of men and gods will be made tender of conscience, and afraid of falling into sin, struck with awe at the sight of it, and still more so when they themselves associate with wrong-doers, or do wrong.’
PTS cs 18 PTS vp Pali 172 ‘Now would a physician, O king, administer pleasant things as a medicine in a case where all the humours of the body were affected, and the whole frame was disorganised and full of disease?’
‘No. Wishing to put an end to the disease he would give sharp and scarifying drugs.’
‘In the same way, O king, the Tathāgata bestows admonition for the sake of suppressing all the diseases of sin. And the words of the Tathāgata, even when stern, soften men and make them tender. Just as hot water, O king, softens and makes tender anything capable of being softened, so are the words of the Tathāgata, even when stern, yet as full of benefit, and as full of pity as the words of a father would be to his children. Just, O king, as the drinking of evil-smelling decoctions, the swallowing of nasty drugs, destroys the weaknesses of men’s bodies, so are the words of the Tathāgata even when stern, bringers of advantage and laden with pity. And PTS vp En 241 just, O king, as a ball of cotton falling on a man raises no bruise, so do the words of the Tathāgata, even when stern, do no harm.’
‘Well have you made this problem clear by many a simile, Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
[End of the dilemma as to the Buddha’s harsh words to Sudinna.]
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:‘Này các đại đức, đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch. Đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói khiến đức Như Lai phải gìn giữ rằng:—Chớ để người khác biết việc này của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi quy định tội pārājika về việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Như Lai đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại với những lời nói gay gắt. Và vì thế, vị trưởng lão ấy bị run sợ, có sự ăn hận, đã không thể thấu triệt Thánh Đạo. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch, đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại’ là sai trái. Nếu trong việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch, đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến: ‘Này các đại đức, đức Như Lai có cách hành xử về lời nói hoàn toàn trong sạch. Đức Như Lai không có lối cư xử xấu xa về lời nói khiến đức Như Lai phải gìn giữ rằng: -Chớ để người khác biết việc này của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi quy định tội pārājika về việc phạm lỗi của trưởng lão Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng từ kẻ rồ dại. Tuy nhiên, điều ấy là không do tâm xấu xa, không do sự giận dữ, mà là với biểu hiện đúng đắn. Và ở đây biểu hiện đúng đắn là gì? Tâu đại vương, đối với cá nhân nào mà sự chứng ngộ bốn Sự Thật không có ở bản ngã này, thì bản thể con người của kẻ ấy là rồ dại, trong khi cái này đang được làm thì lại thành tựu với cái khác; do điều ấy mà được gọi là ‘kẻ rồ dại.’ Tâu đại vương, như thế đối với đại đức Sudinna Kalandaputta, đức Thế Tôn đã xưng hô bằng lời nói về bản thể, không phải bằng lời không đúng sự thật.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, người nào trong khi mắng nhiếc (kẻ khác) mà nói đến cho dầu là đúng với bản thể, đối với người ấy chúng ta nên bắt chịu hình phạt nhẹ. Người ấy rõ ràng là có lỗi, người ấy mắng nhiếc trong khi thể hiện sự bày tỏ căn cứ vào sự kiện theo tính cách riêng.”
“Tâu đại vương, có phải đại vương đã được nghe trước đây về việc đảnh lễ, đứng dậy, tôn vinh, hoặc dâng biếu quà tặng đến người bị lỗi lầm chăng?”
“Thưa ngài, không có. Người ấy đã bị lỗi lầm vì điều gì, do đâu, ở nơi nào, ở bất cứ đâu, là xứng với sự rầy la, xứng với sự quở trách, đối với kẻ này người ta còn chặt đầu, hành hạ, trói lại, giết chết, và thiêu đốt nữa.”
“Tâu đại vương, như thế thì chỉ có việc nên làm là được đức Thế Tôn thực hiện, chứ không có việc không nên làm?”
“Thưa ngài Nāgasena, ngay cả hành động cần phải làm còn được thực hiện một cách phù hợp, một cách thích đáng. Thưa ngài Nāgasena, đối với đức Như Lai, chỉ riêng với việc nghe danh thôi thì thế gian có cả chư Thiên đều kinh hãi, hổ thẹn, với việc nhìn thấy thì còn nhiều hơn, với việc phục vụ khi đi đến gần thì còn vượt trội cả điều ấy nữa.”
BJT 4“Tâu đại vương, phải chăng người thầy thuốc ban cho các loại thuốc thoa trong trường hợp cơ thể bị tiết dịch, có chất độc hoành hành?”
“Thưa ngài, không đúng. Với sự mong mỏi về sức khỏe, ông ta ban cho các loại thuốc mạnh, có thể gây cồn cào.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban cho lời chỉ bảo nhằm làm lặng yên tất cả các căn bệnh phiền não. Tâu đại vương, lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng xoa dịu chúng sanh, làm cho trở thành nhu thuận.
Tâu đại vương, giống như nước nóng làm mềm mại bất cứ vật gì có thể làm mềm mại, làm cho trở thành nhu nhuyến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót.
Tâu đại vương, giống như lời nói của người cha đối với các con trai là có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót. Tâu đại vương, lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt nhưng đưa đến sự dứt bỏ phiền não của các chúng sanh.
Tâu đại vương, giống như nước tiểu trâu bò dầu có mùi thối mà được uống vào, món thuốc dầu không có mùi vị mà được ăn vào, lại diệt trừ căn bệnh cho các chúng sanh, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng có lợi ích, được gắn liền với lòng thương xót.
Tâu đại vương, giống như đống gòn, dầu lớn, rơi xuống ở cơ thể của người khác vẫn không gây ra thương tích, tâu đại vương, tương tợ y như thế lời nói của đức Như Lai, dầu là gay gắt, nhưng không làm sanh lên sự khổ đau cho bất cứ ai.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được giải quyết bằng nhiều lý lẽ. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về bản thể của lời nói gay gắt của đức Như Lai là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ therena sāriputtena dhammasenāpatinā parisuddhavacīsamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya ‘mā me idaṁ paro aññāsī’ti.
Puna ca tathāgato therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe pārājikaṁ paññapento pharusāhi vācāhi moghapurisavādena samudācari, tena ca so thero moghapurisavādena maṅkucittavasena rundhitattā vippaṭisārī nāsakkhi ariyamaggaṁ paṭivijjhituṁ.
Yadi, bhante nāgasena, parisuddhavacīsamācāro tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, tena hi tathāgatena therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe moghapurisavādena samudāciṇṇanti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi bhagavatā therassa sudinnassa kalandaputtassa aparādhe moghapurisavādena samudāciṇṇaṁ, tena hi parisuddhavacīsamācāro tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritanti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘parisuddhavacīsamācāro āvuso tathāgato, natthi tathāgatassa vacīduccaritaṁ, yaṁ tathāgato rakkheyya “mā me idaṁ paro aññāsī”’ti.
Āyasmato ca sudinnassa kalandaputtassa aparādhe pārājikaṁ paññapentena bhagavatā moghapurisavādena samudāciṇṇaṁ, tañca pana aduṭṭhacittena asārambhena yāthāvalakkhaṇena.
Kiñca tattha yāthāvalakkhaṇaṁ, yassa, mahārāja, puggalassa imasmiṁ attabhāve catusaccābhisamayo na hoti, tassa purisattanaṁ moghaṁ aññaṁ kayiramānaṁ aññena sambhavati, tena vuccati ‘moghapuriso’ti.
Iti, mahārāja, bhagavatā āyasmato sudinnassa kalandaputtassa sabhāvavacanena samudāciṇṇaṁ, no abhūtavādenā”ti.
“Sabhāvampi, bhante nāgasena, yo akkosanto bhaṇati, tassa mayaṁ kahāpaṇaṁ daṇḍaṁ dhārema, aparādhoyeva so vatthuṁ nissāya visuṁ vohāraṁ ācaranto akkosatī”ti.
“Atthi pana, mahārāja, sutapubbaṁ tayā khalitassa abhivādanaṁ vā paccuṭṭhānaṁ vā sakkāraṁ vā upāyanānuppadānaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante, yato kutoci yattha katthaci khalito, so paribhāsanāraho hoti tajjanāraho, uttamaṅgampissa chindanti hanantipi bandhantipi ghātentipi jhāpentipī”ti.
“Tena hi, mahārāja, bhagavatā kiriyāyeva katā, no akiriyā”ti.
“Kiriyampi, bhante nāgasena, kurumānena patirūpena kātabbaṁ anucchavikena, savanenapi, bhante nāgasena, tathāgatassa sadevako loko ottappati hiriyati bhiyyo dassanena tatuttariṁ upasaṅkamanena payirupāsanenā”ti.
“Api nu kho, mahārāja, tikicchako abhisanne kāye kupite dose sinehanīyāni bhesajjāni detī”ti?
“Na hi, bhante, tiṇhāni lekhanīyāni bhesajjāni detī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbakilesabyādhivūpasamāya anusiṭṭhiṁ deti, pharusāpi, mahārāja, tathāgatassa vācā satte sinehayati, muduke karoti.
Yathā, mahārāja, uṇhampi udakaṁ yaṁ kiñci sinehanīyaṁ sinehayati, mudukaṁ karoti;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī hoti karuṇāsahagatā.
Yathā, mahārāja, pituvacanaṁ puttānaṁ atthavantaṁ hoti karuṇāsahagataṁ;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī hoti karuṇāsahagatā.
Pharusāpi, mahārāja, tathāgatassa vācā sattānaṁ kilesappahānā hoti.
Yathā, mahārāja, duggandhampi gomuttaṁ pītaṁ virasampi agadaṁ khāyitaṁ sattānaṁ byādhiṁ hanati;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā atthavatī karuṇāsahagatā.
Yathā, mahārāja, mahantopi tūlapuñjo parassa kāye nipatitvā rujaṁ na karoti;
evameva kho, mahārāja, pharusāpi tathāgatassa vācā na kassaci dukkhaṁ uppādetī”ti.
“Suvinicchito, bhante nāgasena, pañho bahūhi kāraṇehi.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Pharusavācābhāvapañho catuttho.