BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng:
‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’ Tuy nhiên, điều đã được nói ấy: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ không dành cho tất cả, mà chỉ liên quan đến các người con trai của đấng Chiến Thắng.
Tâu đại vương, điều này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
Tâu đại vương, giống như đối với các vị hoàng tử ở trên quả đất thì có các môn học về voi, ngựa, xe, cung, gươm, viết chữ, quản lý, binh thư, lắng nghe, khéo tiếp nhận, chiến đấu, động viên là công việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đối với các thanh niên Bà-la-môn thì các môn học như (bốn bộ Vệ Đà) Rig-Veda, Yajur-Veda, Sāma-Veda, Atharva-Veda, tướng số, truyền thống, truyền thuyết, từ vựng, nghi thức, sự phân tích âm từ, cú pháp, văn phạm, cấu trúc ngôn ngữ, hiện tượng, giấc mơ, điềm báo hiệu, sáu chi phần (của kinh Vệ Đà), nguyệt thực, nhật thực, sự di chuyển che khuất của các thiên thể, sự tranh giành ảnh hưởng của các vì sao, sự xuất hiện, sự rơi của thiên thể, sự động đất, sự bừng sáng ở các phương, bầu khí quyển, thiên văn học, tương lai của thế gian, điềm báo từ loài chó, điềm báo từ loài thú, điểm báo từ vị trí của các vì sao, hiện tượng bị xáo trộn, tiếng kêu của các loài chim là việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại. Tâu đại vương, do đó đức Như Lai (nghĩ rằng): ‘Chớ để những người này vướng bận về những việc không phải là phận sự. Hãy để những người này gắn bó với những công việc của chính mình’ nên đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không nói điều này, thì các vị tỳ khưu sau khi nhận lấy y và bình bát của mình rồi làm chỉ mỗi việc cúng dường đức Phật.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cúng dường đức Phật là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ tathāgatena ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘Pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ,
Evaṁ kira saggamito gamissathā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, tena hi ‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti, tena hi ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, puna ca bhaṇitaṁ—
‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti, tañca pana na sabbesaṁ jinaputtānaṁyeva ārabbha bhaṇitaṁ—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Akammaṁ hetaṁ, mahārāja, jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā.
Yathā, mahārāja, mahiyā rājaputtānaṁ hatthiassarathadhanutharulekhamuddāsikkhākhaggamantasutisammutiyuddhayujjhāpanakiriyā karaṇīyā, avasesānaṁ puthuvessasuddānaṁ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā;
evameva kho, mahārāja, akammaṁ hetaṁ jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā.
Yathā vā pana, mahārāja, brāhmaṇamāṇavakānaṁ iruvedaṁ yajuvedaṁ sāmavedaṁ athabbaṇavedaṁ lakkhaṇaṁ itihāsaṁ purāṇaṁ nighaṇḍu keṭubhaṁ akkharappabhedaṁ padaṁ veyyākaraṇaṁ bhāsamaggaṁ uppātaṁ supinaṁ nimittaṁ chaḷaṅgaṁ candaggāhaṁ sūriyaggāhaṁ sukkarāhucaritaṁ uḷuggahayuddhaṁ devadundubhissaraṁ okkanti ukkāpātaṁ bhūmikammaṁ disādāhaṁ bhummantalikkhaṁ jotisaṁ lokāyatikaṁ sācakkaṁ migacakkaṁ antaracakkaṁ missakuppādaṁ sakuṇarutaravitaṁ sikkhā karaṇīyā, avasesānaṁ puthuvessasuddānaṁ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā;
evameva kho, mahārāja, akammaṁ hetaṁ jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā, tasmā, mahārāja, tathāgato ‘mā ime akamme yuñjantu, kamme ime yuñjantū’ti—
āha—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Yadetaṁ, mahārāja, tathāgato na bhaṇeyya, pattacīvarampi attano pariyādāpetvā bhikkhū buddhapūjaṁyeva kareyyun”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhapūjanapañho sattamo.
PTS cs 24 ‘Venerable Nāgasena, the Tathāgata said: “Hinder not yourselves, Ānanda, by honouring the remains of the Tathāgata.” And on the other hand he said:
“Honour that relic of him who is worthy of honour,
Acting in that way you go from this world to heaven.”
‘Now if the first injunction was right the second must be wrong, and if the second is right the first must be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 25 ‘Both the passages you quote were spoken by the Blessed One. But it was not to all men, it was to the sons of the Conqueror that it was said: “Hinder not yourselves, Ānanda, by honouring the remains of the Tathāgata “. Paying reverence is not the work of the sons of the Conqueror, PTS vp Pali 178 but rather the grasping of the true nature of all PTS vp En 247 compounded things, the practice of thought, contemplation in accordance with the rules of Satipaṭṭhāna, the seizing of the real essence of all objects of thought, the struggle against evil, and devotion to their own (spiritual) good. These are things which the sons of the Conqueror ought to do, leaving to others, whether gods or men, the paying of reverence.’
PTS cs 26 ‘And that is so, O king, just as it is the business of the princes of the earth to learn all about elephants, and horses, and chariots, and bows, and rapiers, and documents, and the law of property, to carry on the traditions of the Khattiya clans, and to fight themselves and to lead others in war, while husbandry, merchandise, and the care of cattle are the business of other folk, ordinary Vessas and Suddas.—Or just as the business of Brahmins and their sons is concerned with the Rig-veda, the Yajur-veda, the Sama-veda, the Atharva-veda, with the knowledge of lucky marks (on the body), of legends, Purānas, lexicography, prosody, phonology, verses. grammar, etymology, astrology, interpretation of omens, and of dreams, and of signs, study of the six Vedāṅgas, of eclipses of the sun and moon, of the prognostications to be drawn from the flight of comets, the thunderings of the gods, the junctions of planets, the fall of meteors, earthquakes, conflagrations, and signs in the heavens and on the earth, the study of arithmetic, of casuistry, PTS vp En 248 of the interpretation of the omens to be drawn from dogs, and deer, and rats, and mixtures of liquids, and the sounds and cries of birds-while husbandry, merchandise, and the care of cattle are the business of other folk, ordinary Vessas and Suddas. So it was, O king, in the sense of “Devote not yourselves to such things as are not your business, but to such things as are so” that the Tathāgata was speaking PTS vp Pali 179 when he said: “Hinder not yourselves, Ānanda, by honouring the remains of the Tathāgata.” And if, O king, he had not said so, then would the Bhikkhus have taken his bowl and his robe, and occupied themselves with paying reverence to the Buddha through them!’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to reverence to relics.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng:
‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’ Tuy nhiên, điều đã được nói ấy: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ không dành cho tất cả, mà chỉ liên quan đến các người con trai của đấng Chiến Thắng.
Tâu đại vương, điều này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
Tâu đại vương, giống như đối với các vị hoàng tử ở trên quả đất thì có các môn học về voi, ngựa, xe, cung, gươm, viết chữ, quản lý, binh thư, lắng nghe, khéo tiếp nhận, chiến đấu, động viên là công việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đối với các thanh niên Bà-la-môn thì các môn học như (bốn bộ Vệ Đà) Rig-Veda, Yajur-Veda, Sāma-Veda, Atharva-Veda, tướng số, truyền thống, truyền thuyết, từ vựng, nghi thức, sự phân tích âm từ, cú pháp, văn phạm, cấu trúc ngôn ngữ, hiện tượng, giấc mơ, điềm báo hiệu, sáu chi phần (của kinh Vệ Đà), nguyệt thực, nhật thực, sự di chuyển che khuất của các thiên thể, sự tranh giành ảnh hưởng của các vì sao, sự xuất hiện, sự rơi của thiên thể, sự động đất, sự bừng sáng ở các phương, bầu khí quyển, thiên văn học, tương lai của thế gian, điềm báo từ loài chó, điềm báo từ loài thú, điểm báo từ vị trí của các vì sao, hiện tượng bị xáo trộn, tiếng kêu của các loài chim là việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại. Tâu đại vương, do đó đức Như Lai (nghĩ rằng): ‘Chớ để những người này vướng bận về những việc không phải là phận sự. Hãy để những người này gắn bó với những công việc của chính mình’ nên đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không nói điều này, thì các vị tỳ khưu sau khi nhận lấy y và bình bát của mình rồi làm chỉ mỗi việc cúng dường đức Phật.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cúng dường đức Phật là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ tathāgatena ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘Pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ,
Evaṁ kira saggamito gamissathā’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, tena hi ‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti, tena hi ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, puna ca bhaṇitaṁ—
‘pūjetha naṁ pūjaniyassa dhātuṁ, evaṁ karā saggamito gamissathā’ti, tañca pana na sabbesaṁ jinaputtānaṁyeva ārabbha bhaṇitaṁ—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Akammaṁ hetaṁ, mahārāja, jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā.
Yathā, mahārāja, mahiyā rājaputtānaṁ hatthiassarathadhanutharulekhamuddāsikkhākhaggamantasutisammutiyuddhayujjhāpanakiriyā karaṇīyā, avasesānaṁ puthuvessasuddānaṁ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā;
evameva kho, mahārāja, akammaṁ hetaṁ jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā.
Yathā vā pana, mahārāja, brāhmaṇamāṇavakānaṁ iruvedaṁ yajuvedaṁ sāmavedaṁ athabbaṇavedaṁ lakkhaṇaṁ itihāsaṁ purāṇaṁ nighaṇḍu keṭubhaṁ akkharappabhedaṁ padaṁ veyyākaraṇaṁ bhāsamaggaṁ uppātaṁ supinaṁ nimittaṁ chaḷaṅgaṁ candaggāhaṁ sūriyaggāhaṁ sukkarāhucaritaṁ uḷuggahayuddhaṁ devadundubhissaraṁ okkanti ukkāpātaṁ bhūmikammaṁ disādāhaṁ bhummantalikkhaṁ jotisaṁ lokāyatikaṁ sācakkaṁ migacakkaṁ antaracakkaṁ missakuppādaṁ sakuṇarutaravitaṁ sikkhā karaṇīyā, avasesānaṁ puthuvessasuddānaṁ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā;
evameva kho, mahārāja, akammaṁ hetaṁ jinaputtānaṁ yadidaṁ pūjā, sammasanaṁ saṅkhārānaṁ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṁ, sadatthamanuyuñjanā, etaṁ jinaputtānaṁ karaṇīyaṁ, avasesānaṁ devamanussānaṁ pūjā karaṇīyā, tasmā, mahārāja, tathāgato ‘mā ime akamme yuñjantu, kamme ime yuñjantū’ti—
āha—
‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti.
Yadetaṁ, mahārāja, tathāgato na bhaṇeyya, pattacīvarampi attano pariyādāpetvā bhikkhū buddhapūjaṁyeva kareyyun”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhapūjanapañho sattamo.