BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe.’ Và thêm nữa, đức Như Lai đã giải tán hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng (của hai vị). Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Như Lai đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, hay là đã giải tán khi được vui vẻ? Xin ngài nhận biết cho việc ấy là thuộc về trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, nếu đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, như thế thì đối với đức Thế Tôn sự nổi giận còn chưa được dứt trừ. Nếu đã giải tán đồ chúng khi được vui vẻ, như thế thì (đồ chúng) đã bị giải tán khi không có cớ sự, trong khi không hay biết. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe,’ và hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng đã bị giải tán. Tuy nhiên, điều ấy không do sự nổi giận. Tâu đại vương, ở đây có người nam nào đó vấp chân vào rễ cây, gốc cây, cục đá, miểng sành, hoặc chỗ đất không bằng phẳng rồi té ngã. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này bị nổi giận rồi làm cho kẻ ấy té ngã?”
“Thưa ngài Nāgasena, không đúng. Đối với đại địa cầu không có sự nổi giận hay vui thích. Đại địa cầu được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Kẻ ấy chính tự mình lơ đễnh nên mới bị vấp chân rồi té ngã.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình nên mới bị giải tán vì sự sai trái của bản thân. Tâu đại vương, hơn nữa ở đây biển cả không sống chung với xác chết. Nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy ra khỏi, hoặc hất lên đất liền. Tâu đại vương, phải chăng biển cả bị nổi giận rồi đưa xác chết ấy ra khỏi?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Đối với biển cả không có sự nổi giận hay vui thích. Biển cả được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình, vì sự sai trái của bản thân nên mới bị giải tán.
Tâu đại vương, giống như người bị lỗi lầm với trái đất rồi té ngã, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán. Giống như xác chết ở trong biển cả thì bị đưa ra khỏi, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán.
Tâu đại vương, hơn nữa việc đức Như Lai đã giải tán các vị ấy với sự mong muốn điều tốt đẹp, mong muốn điều lợi ích, mong muốn sự an lạc, mong muốn sự thanh tịnh cho các vị ấy; Ngài đã giải tán (nghĩ rằng): ‘Như vậy những người này sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi sanh-già-bệnh-chết.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc đã giải tán các vị tỳ khưu là thứ mười hai.
Phẩm Đã Bị Giải Tán là thứ ba.
(Trong phẩm này có mười hai câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘akkodhano vigatakhilohamasmī’ti, puna ca tathāgato there sāriputtamoggallāne saparise paṇāmesi, kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgato kupito parisaṁ paṇāmesi, udāhu tuṭṭho paṇāmesi, etaṁ tāva jānāhi imaṁ nāmāti?
Yadi, bhante nāgasena, kupito parisaṁ paṇāmesi, tena hi tathāgatassa kodho appaṭivattito, yadi tuṭṭho paṇāmesi, tena hi avatthusmiṁ ajānantena paṇāmitā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘akkodhano vigatakhilohamasmī’ti, paṇāmitā ca therā sāriputtamoggallānā saparisā, tañca pana na kopena.
Idha, mahārāja, kocideva puriso mahāpathaviyā mūle vā khāṇuke vā pāsāṇe vā kaṭhale vā visame vā bhūmibhāge khalitvā patati, api nu kho, mahārāja, mahāpathavī kupitā taṁ pātetī”ti?
“Na hi, bhante, natthi mahāpathaviyā kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā mahāpathavī, sayameva so alaso khalitvā patito”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṁ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṁ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
Idha pana, mahārāja, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippameva nicchubhati thalaṁ ussāreti.
Api nu kho, mahārāja, mahāsamuddo kupito taṁ kuṇapaṁ nicchubhatī”ti?
“Na hi, bhante, natthi mahāsamuddassa kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamutto mahāsamuddo”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṁ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṁ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
Yathā, mahārāja, pathaviyā khalito patīyati, evaṁ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati.
Yathā, mahārāja, samudde mataṁ kuṇapaṁ nicchubhīyati, evaṁ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati.
Yaṁ pana te, mahārāja, tathāgato paṇāmesi, tesaṁ atthakāmo hitakāmo sukhakāmo visuddhikāmo ‘evaṁ ime jātijarābyādhimaraṇehi parimuccissantī’ti—
paṇāmesī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Bhikkhupaṇāmitapañho dvādasamo.
Paṇāmitavaggo tatiyo.
Imasmiṁ vagge dvādasa pañhā.
PTS cs 38 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One:
“Anger I harbour not, nor sulkiness.”
But on the other hand the Tathāgata dismissed the Elders Sāriputta and Moggallāna, together with the brethren who formed their company of disciples. PTS vp En 258 How now, Nāgasena, PTS vp Pali 187 was it in anger that the Tathāgata sent away the disciples, or was it in pleasure? Be so good as to explain to me how this was. For if, Nāgasena, he dismissed them in anger, then had the Tathāgata not subdued all liability to anger in himself. But if it was in pleasure, then he did so ignorantly, and without due cause. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 39 ‘The Blessed One did say, O king:
“Anger I harbour not, nor sulkiness.”
And he did dismiss the Elders with their disciples. But that was not in anger. Suppose, O king, that a man were to stumble against some root, or stake, or stone, or potsherd, or on uneven ground, and fall upon the broad earth. Would it be that the broad earth, angry with him, had made him fall?’
‘No, indeed, Sir. The broad earth feels neither anger against any man nor delight. It is altogether PTS vp En 259 free from ill-will, neither needs it to fawn on any one. It would be by reason of his own carelessness that that man stumbled and fell.’
‘Just so, great king, do the Tathāgatas experience neither anger against, nor pride in any man. Altogether free are the Tathāgatas, the Arahat-Buddhas, alike from ill-will, and from the need to fawn on any one. And those disciples were sent away by reason of what they themselves had done. So also the great ocean endures not association with any corpse. Any dead body there may be in it that does it promptly cast up, and leave high and dry on the shore. But is it in anger that it casts it up?’
‘Certainly not, Sir. The broad ocean feels neither anger against any, nor does it take delight in any. It seeks not in the least to please any, and is altogether free from the desire to harm.’
‘Just so, great king, do the Tathāgatas feel neither anger against any man, nor do they place their faith in any man. The Tathāgatas, the Arahat-Buddhas, are quite set free from the desire either to gain the goodwill of any man, or to do him harm, And it was by reason of what they themselves had done that those disciples were sent away. Just as a man, great king, who stumbles against the ground is made to fall, so is he who stumbles in the excellent teaching of the Conqueror made to go away. just as a corpse in the great ocean is cast up, PTS vp Pali 188 so is he who stumbles in the excellent teaching of the Conqueror sent away. And when the Tathāgata sent those disciples away it was for their good, and their PTS vp En 260 gain, their happiness, and their purification, and in order that in that way they should be delivered from birth, old age, disease, and death.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the dismissal of the Elders.
Here ends the Third Chapter.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe.’ Và thêm nữa, đức Như Lai đã giải tán hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng (của hai vị). Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Như Lai đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, hay là đã giải tán khi được vui vẻ? Xin ngài nhận biết cho việc ấy là thuộc về trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, nếu đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, như thế thì đối với đức Thế Tôn sự nổi giận còn chưa được dứt trừ. Nếu đã giải tán đồ chúng khi được vui vẻ, như thế thì (đồ chúng) đã bị giải tán khi không có cớ sự, trong khi không hay biết. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe,’ và hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng đã bị giải tán. Tuy nhiên, điều ấy không do sự nổi giận. Tâu đại vương, ở đây có người nam nào đó vấp chân vào rễ cây, gốc cây, cục đá, miểng sành, hoặc chỗ đất không bằng phẳng rồi té ngã. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này bị nổi giận rồi làm cho kẻ ấy té ngã?”
“Thưa ngài Nāgasena, không đúng. Đối với đại địa cầu không có sự nổi giận hay vui thích. Đại địa cầu được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Kẻ ấy chính tự mình lơ đễnh nên mới bị vấp chân rồi té ngã.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình nên mới bị giải tán vì sự sai trái của bản thân. Tâu đại vương, hơn nữa ở đây biển cả không sống chung với xác chết. Nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy ra khỏi, hoặc hất lên đất liền. Tâu đại vương, phải chăng biển cả bị nổi giận rồi đưa xác chết ấy ra khỏi?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Đối với biển cả không có sự nổi giận hay vui thích. Biển cả được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình, vì sự sai trái của bản thân nên mới bị giải tán.
Tâu đại vương, giống như người bị lỗi lầm với trái đất rồi té ngã, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán. Giống như xác chết ở trong biển cả thì bị đưa ra khỏi, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán.
Tâu đại vương, hơn nữa việc đức Như Lai đã giải tán các vị ấy với sự mong muốn điều tốt đẹp, mong muốn điều lợi ích, mong muốn sự an lạc, mong muốn sự thanh tịnh cho các vị ấy; Ngài đã giải tán (nghĩ rằng): ‘Như vậy những người này sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi sanh-già-bệnh-chết.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc đã giải tán các vị tỳ khưu là thứ mười hai.
Phẩm Đã Bị Giải Tán là thứ ba.
(Trong phẩm này có mười hai câu hỏi)
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘akkodhano vigatakhilohamasmī’ti, puna ca tathāgato there sāriputtamoggallāne saparise paṇāmesi, kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgato kupito parisaṁ paṇāmesi, udāhu tuṭṭho paṇāmesi, etaṁ tāva jānāhi imaṁ nāmāti?
Yadi, bhante nāgasena, kupito parisaṁ paṇāmesi, tena hi tathāgatassa kodho appaṭivattito, yadi tuṭṭho paṇāmesi, tena hi avatthusmiṁ ajānantena paṇāmitā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘akkodhano vigatakhilohamasmī’ti, paṇāmitā ca therā sāriputtamoggallānā saparisā, tañca pana na kopena.
Idha, mahārāja, kocideva puriso mahāpathaviyā mūle vā khāṇuke vā pāsāṇe vā kaṭhale vā visame vā bhūmibhāge khalitvā patati, api nu kho, mahārāja, mahāpathavī kupitā taṁ pātetī”ti?
“Na hi, bhante, natthi mahāpathaviyā kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā mahāpathavī, sayameva so alaso khalitvā patito”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṁ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṁ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
Idha pana, mahārāja, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṁvasati, yaṁ hoti mahāsamudde mataṁ kuṇapaṁ, taṁ khippameva nicchubhati thalaṁ ussāreti.
Api nu kho, mahārāja, mahāsamuddo kupito taṁ kuṇapaṁ nicchubhatī”ti?
“Na hi, bhante, natthi mahāsamuddassa kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamutto mahāsamuddo”ti.
“Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṁ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṁ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
Yathā, mahārāja, pathaviyā khalito patīyati, evaṁ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati.
Yathā, mahārāja, samudde mataṁ kuṇapaṁ nicchubhīyati, evaṁ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati.
Yaṁ pana te, mahārāja, tathāgato paṇāmesi, tesaṁ atthakāmo hitakāmo sukhakāmo visuddhikāmo ‘evaṁ ime jātijarābyādhimaraṇehi parimuccissantī’ti—
paṇāmesī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Bhikkhupaṇāmitapañho dvādasamo.
Paṇāmitavaggo tatiyo.
Imasmiṁ vagge dvādasa pañhā.