BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Niết Bàn, Niết Bàn,’ vậy thì có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn ấy không?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là không có vật đối chiếu. Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận điều ấy, là việc không có được sự xác định bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận về hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn là pháp có thật. Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, hãy là vậy. Tôi sẽ giúp cho ngài hiểu bằng lý lẽ. Tâu đại vương, có cái gọi là đại dương không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái đại dương ấy.”
“Tâu đại vương, nếu có ai đó hỏi đại vương như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Tâu đại vương, được hỏi như vậy, đại vương giải thích cho người ấy như thế nào?”
“Thưa ngài, nếu có ai đó hỏi trẫm như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Thưa ngài, trẫm sẽ nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, ông hỏi trẫm điều không nên hỏi, câu hỏi ấy là không nên hỏi bởi bất cứ người nào, câu hỏi ấy nên được bỏ qua, đại dương chưa được phân tích bởi các nhà tự nhiên học, không thể ước lượng nước ở đại dương, hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy.’ Thưa ngài, trẫm sẽ cho người ấy câu trả lời như vậy.”
BJT 2“Tâu đại vương, tại sao ngài lại cho câu trả lời như vậy về đại dương là pháp có thật, sao không tính toán rồi thuật lại cho người ấy rằng: ‘Nước ở đại dương là chừng này, và chúng sanh cư ngụ ở đại dương là chừng này’?”
“Thưa ngài, không thể được. Câu hỏi này là không có thực tế.”
“Tâu đại vương, giống như đại dương đúng là pháp có thật còn không thể tính toán lượng nước hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với Niết Bàn đúng là pháp có thật, cũng không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước. Tâu đại vương, người có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, có thể tính toán nước ở đại dương, và chúng sanh có chỗ ở tại nơi ấy. Nhưng vị ấy, có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, vẫn không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.’ Tâu đại vương, trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Được nghe là: ‘Trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.’”
“Tâu đại vương, phải chăng đối với chư Thiên thuộc tập thể vô sắc ấy, có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, như thế thì không có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.”
“Thưa ngài, có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc. Và đối với các vị ấy, không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước.”
“Tâu đại vương, giống như không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của chư Thiên thuộc tập thể vô sắc, đúng là các chúng sanh có thật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, Niết Bàn là thuần lạc. Và không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn. Thưa ngài, vậy thì có đức tính nào đó của Niết Bàn được liên quan với các thứ khác có thể làm ví dụ so sánh?”
“Tâu đại vương, về phương diện hình thể thì không có. Tuy nhiên, có thể có cái gì đó về phương diện đức tính để chỉ ra làm ví dụ so sánh.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm tiếp nhận việc giải thích từng phần một về đức tính của Niết Bàn như thế nào thì bằng cách mau chóng như thế ấy ngài hãy nói lên, hãy dập tắt sự nóng nảy ở trái tim của trẫm, hãy đưa nó đi bằng làn gió mát lạnh, ngọt ngào của lời nói.”
BJT 5“Tâu đại vương, cây sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn, nước có hai đức tính, thuốc giải độc có ba đức tính, đại dương có bốn đức tính, vật thực có năm đức tính, bầu trời có mười đức tính, ngọc báu ma-ni có ba đức tính, trầm hương đỏ có ba đức tính, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính, đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Loài sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ loài sen có một đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không bị lấm lem bởi tất cả các phiền não. Tâu đại vương, loài sen có một đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước có hai đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước có hai đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực của tất cả các phiền não. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước xua đi cơn khát của các loài người và thú bị nhọc mệt, bị run rẩy, bị khát, bị thiêu đốt bởi sự nóng bức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn xua đi cơn khát về dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước có hai đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Thuốc giải độc có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ thuốc giải độc có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như thuốc giải độc là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc phiền não. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc làm chấm dứt các căn bệnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm chấm dứt tất cả các khổ đau. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, thuốc giải độc có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đại dương có bốn đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đại dương có bốn đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đại dương là trống không đối với tất cả các xác chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là trống không đối với tất cả các xác chết phiền não. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các dòng sông. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các chúng sanh. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là nơi cư trú của các sinh vật vĩ đại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi cư trú của các bậc A-la-hán vĩ đại, là các sinh vật vĩ đại không bị ô nhiễm, có các lậu đã cạn kiệt, đã đạt được năng lực, có trạng thái làm chủ. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương được trổ hoa với các bông hoa là những làn sóng vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được trổ hoa với các bông hoa là sự thanh tịnh, minh, và giải thoát vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đại dương có bốn đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Vật thực có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ vật thực có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như vật thực duy trì sự sống của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ thì duy trì sự sống nhờ vào việc tiêu diệt sự già và sự chết. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm tăng trưởng sức mạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm tăng trưởng sức mạnh về thần thông của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm sanh ra sắc đẹp của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm sanh ra sắc đẹp về đức hạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm lắng dịu sự buồn bực của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm lắng dịu sự buồn bực về mọi phiền não của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực xua đi cơn đói và sự yếu đuối của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ xua đi cơn đói và sự yếu đuối về mọi sự khổ đau của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, vật thực có năm đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hư không có mười đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ hư không có mười đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như hư không là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của loài chim, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của các bậc Thánh, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, hư không có mười đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ngọc báu ma-ni có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ ngọc báu ma-ni có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như ngọc báu ma-ni ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni làm cho tươi cười. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm cho tươi cười. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Trầm hương đỏ có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ trầm hương đỏ có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như trầm hương đỏ là khó đạt được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó đạt được. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ được những người tốt ca tụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được các bậc Thánh nhân ca tụng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước trong của bơ lỏng có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước trong của bơ lỏng có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước trong của bơ lỏng được thành tựu màu sắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu màu sắc của đức hạnh. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu hương thơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu hương thơm của giới. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu phẩm vị. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu phẩm vị (giải thoát). Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đỉnh núi có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đỉnh núi là cao ngất. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là cao ngất. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là không dao động. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không dao động. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là khó trèo lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó trèo lên đối với tất cả các phiền não. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi đối với tất cả các hạt giống là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đối với tất cả các phiền não là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đỉnh núi có năm đức tính thứ này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hình thể và vị trí của Niết Bàn là thứ mười.
“Bhante nāgasena, ‘nibbānaṁ nibbānan’ti yaṁ vadesi, sakkā pana tassa nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti?
“Appaṭibhāgaṁ, mahārāja, nibbānaṁ, na sakkā nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Etampāhaṁ, bhante nāgasena, na sampaṭicchāmi, yaṁ atthidhammassa nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā apaññāpanaṁ, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Hotu, mahārāja, kāraṇena taṁ saññāpessāmi.
Atthi, mahārāja, mahāsamuddo nāmā”ti?
“Āma, bhante, attheso mahāsamuddo”ti.
“Sace taṁ, mahārāja, koci evaṁ puccheyya ‘kittakaṁ, mahārāja, mahāsamudde udakaṁ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, evaṁ puṭṭho tvaṁ, mahārāja, kinti tassa byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, koci evaṁ puccheyya ‘kittakaṁ, mahārāja, mahāsamudde udakaṁ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, tamahaṁ, bhante, evaṁ vadeyyaṁ ‘apucchitabbaṁ maṁ tvaṁ, ambho purisa, pucchasi, nesā pucchā kenaci pucchitabbā, ṭhapanīyo eso pañho.
Avibhatto lokakkhāyikehi mahāsamuddo, na sakkā mahāsamudde udakaṁ pariminituṁ sattā vā ye tattha vāsamupagatāti evāhaṁ, bhante tassa paṭivacanaṁ dadeyyan’”ti.
“Kissa pana tvaṁ, mahārāja, atthidhamme mahāsamudde evaṁ paṭivacanaṁ dadeyyāsi, nanu vigaṇetvā tassa ācikkhitabbaṁ ‘ettakaṁ mahāsamudde udakaṁ, ettakā ca sattā mahāsamudde paṭivasantī’”ti?
“Na sakkā, bhante, avisayo eso pañho”ti.
“Yathā, mahārāja, atthidhammeyeva mahāsamudde na sakkā udakaṁ parigaṇetuṁ sattā vā ye tattha vāsamupagatā;
evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ, vigaṇeyya, mahārāja, iddhimā cetovasippatto mahāsamudde udakaṁ tatrāsaye ca satte, na tveva so iddhimā cetovasippatto sakkuṇeyya nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitunti.
Atthi, mahārāja, devesu arūpakāyikā nāma devā”ti.
“Āma, bhante, suyyati ‘atthi devesu arūpakāyikā nāma devā’”ti.
“Sakkā pana, mahārāja, tesaṁ arūpakāyikānaṁ devānaṁ rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, natthi arūpakāyikā devā”ti?
“Atthi, bhante, arūpakāyikā devā, na ca sakkā tesaṁ rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Yathā, mahārāja, atthisattānaṁyeva arūpakāyikānaṁ devānaṁ na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ;
evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Bhante nāgasena, hotu ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na ca sakkā tassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ.
Atthi pana, bhante, nibbānassa guṇaṁ aññehi anupaviṭṭhaṁ kiñci opammanidassanamattan”ti?
“Sarūpato, mahārāja, natthi, guṇato pana sakkā kiñci opammanidassanamattaṁ upadassayitun”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, yathāhaṁ labhāmi nibbānassa guṇatopi ekadesaparidīpanamattaṁ, tathā sīghaṁ brūhi, nibbāpehi me hadayapariḷāhaṁ vinaya sītalamadhuravacanamālutenā”ti.
“Padumassa, mahārāja, eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho, udakassa dve guṇā, agadassa tayo guṇā, mahāsamuddassa cattāro guṇā, bhojanassa pañca guṇā, ākāsassa dasa guṇā, maṇiratanassa tayo guṇā, lohitacandanassa tayo guṇā, sappimaṇḍassa tayo guṇā, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho’ti yaṁ vadesi, katamo padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho”ti?
“Yathā, mahārāja, padumaṁ anupalittaṁ udakena;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbakilesehi anupalittaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho”ti.
“Bhante nāgasena, ‘udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, udakaṁ sītalaṁ pariḷāhanibbāpanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sītalaṁ sabbakilesapariḷāhanibbāpanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, udakassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, udakaṁ kilantatasitapipāsitaghammābhitattānaṁ janapasupajānaṁ pipāsāvinayanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kāmataṇhābhavataṇhāvibhavataṇhāpipāsāvinayanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, udakassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, agado visapīḷitānaṁ sattānaṁ paṭisaraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kilesavisapīḷitānaṁ sattānaṁ paṭisaraṇaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, agado rogānaṁ antakaro;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbadukkhānaṁ antakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, agado amataṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ amataṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, mahāsamuddo suñño sabbakuṇapehi;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ suññaṁ sabbakilesakuṇapehi.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo mahanto anorapāro, na paripūrati sabbasavantīhi;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ mahantaṁ anorapāraṁ, na pūrati sabbasattehi.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo mahantānaṁ bhūtānaṁ āvāso;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ mahantānaṁ arahantānaṁ vimalakhīṇāsavabalappattavasībhūtamahābhūtānaṁ āvāso.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo aparimitavividhavipulavīcipupphasaṅkusumito;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ aparimitavividhavipulaparisuddhavijjāvimuttipupphasaṅkusumitaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ āyudhāraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ jarāmaraṇanāsanato āyudhāraṇaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ balavaḍḍhanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ iddhibalavaḍḍhanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ vaṇṇajananaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ guṇavaṇṇajananaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ darathavūpasamanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ sabbakilesadarathavūpasamanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ jighacchādubbalyapaṭivinodanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ sabbadukkhajighacchādubbalyapaṭivinodanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa pañcamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, ākāso na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasaho, acorāharaṇo, anissito, vihagagamano, nirāvaraṇo, ananto.
Evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasahaṁ, acorāharaṇaṁ, anissitaṁ, ariyagamanaṁ, nirāvaraṇaṁ, anantaṁ.
Ime kho, mahārāja, ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, maṇiratanaṁ kāmadadaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kāmadadaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, maṇiratanaṁ hāsakaraṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ hāsakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, maṇiratanaṁ ujjotattakaraṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ ujjotattakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, lohitacandanaṁ dullabhaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ dullabhaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, lohitacandanaṁ asamasugandhaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ asamasugandhaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, lohitacandanaṁ sajjanapasatthaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ ariyasajjanapasatthaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, sappimaṇḍo vaṇṇasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ guṇavaṇṇasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, sappimaṇḍo gandhasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sīlagandhasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, sappimaṇḍo rasasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ rasasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, girisikharaṁ accuggataṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ accuggataṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ acalaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ acalaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ duradhirohaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ duradhirohaṁ sabbakilesānaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ sabbabījānaṁ avirūhanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbakilesānaṁ avirūhanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ anunayappaṭighavippamuttaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ anunayappaṭighavippamuttaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa pañcamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānarūpasaṇṭhānapañho dasamo.
PTS vp En 186 PTS cs 61 ‘Venerable Nāgasena, this Nirvāṇa that you are always talking of—can you make clear by metaphor, or explanation, or reason, or argument, the form, or figure, or duration, or measure of it?’
PTS vp Pali 316 ‘Nirvāṇa, O king, has nothing similar to it. By no metaphor, or explanation, or reason, or argument can its form, or figure, or duration, or measure be made clear.’
‘That I cannot believe, Nāgasena—that of Nirvāṇa, which really after all is a condition that exists, it should be so impossible in any way to make us understand either the form, or figure, or duration, or measure! Give me some explanation of this.’
PTS cs 62 ‘Very well, O king, I will do so. Is there such a thing, O king, as the great ocean?’
‘Yes, the ocean exists.’
‘Well, suppose some one were to ask you, saying: “How much water is there, your majesty, in the sea, and how many are the creatures that dwell therein?” When that question had been put, how would you answer him?’
‘I should reply thus to such a question: “My good fellow! this is an unaskable thing that you ask me. No one ought to ask such a question. It PTS vp En 187 is a point that should be left alone. The physicists have never examined into the ocean in that way. And no one can measure the water there, or count the creatures who dwell therein.” Thus, Sir, should I make reply.’
PTS cs 63 ‘But why, O king, would you make such a reply about the ocean which, after all, is really an existing condition of things. Ought you not rather to count and tell him, saying: “So and so much is the water in the sea, and so and so many are the creatures that dwell therein?”’
‘That would be impossible, Sir. The question is beyond one’s power.’
‘As impossible as it is, O king, to tell the measure of the water in the sea, or the number of the creatures dwelling therein, though after all the sea exists, so impossible is it in any of the ways you suggest to tell the form, or figure, or duration, or measure of Nirvāṇa, though after all it is a condition that does exist. PTS vp Pali 317 And even, O king, if one of magical powers, master over mind, were to be able to count the water and the creatures in the sea, even he could not tell the form or the figure, the duration or the measure of Nirvāṇa.
PTS cs 64 ‘And hear another explanation of the same thing, O king. Are there, O king, among the gods certain of them called “The Formless Ones ? PTS vp En 188
‘Yes, Sir. I have heard there are such.’
‘Well, O king, can you make clear by metaphor, or explanation, or reason, or argument the form, or figure, or duration, or size of these gods, the “Formless Ones?”’
‘No, I cannot.’
‘Then, O king, there are none.’
‘The Formless Ones, Sir, do exist; and yet it is impossible in any of the ways you suggest to explain either their form or figure, either their duration or their size.’
‘As impossible as it is, O king, to tell the form or figure, the duration or the size of the gods called “Formless Ones,” though they after all are beings that exist, so impossible is it in any of the ways you suggest to explain the form or the figure, the duration or the measure of Nirvāṇa, though after all it is a condition that does exist.’
PTS cs 65 ‘Venerable Nāgasena, I will grant you that Nirvāṇa is bliss unalloyed, and yet that is impossible to make clear, either by simile or explanation, by reason or by argument, either its form or its figure, either its duration or its size. But is there no quality of Nirvāṇa which is inherent also in other PTS vp En 189 things, and is such that it can be made evident by metaphor ?’
‘Though there is nothing as to its form which can be so explained, there is something, O king, as to its qualities which can.’
PTS vp Pali 318 ‘O happy word, Nāgasena! Speak then, quickly, that I may have an explanation of even one point in the characteristics of Nirvāṇa. Appease the fever of my heart. Allay it by the cool sweet breezes of your words!’
‘There is one quality of the lotus, O king, inherent in Nirvāṇa, and two qualities of water, and three of medicine, and four of the ocean, and five of food, and ten of space, and three of the wish-conferring gem, and three of red sandal wood, and three of the froth of ghee, and five of a mountain peak.’
PTS cs 66 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the lotus which you said was inherent in Nirvāṇa—which is that?’
‘As the lotus, O king, is untarnished by the water, so is Nirvāṇa untarnished by any evil dispositions. This is the one quality of the lotus inherent in Nirvāṇa.’ PTS vp En 190
PTS cs 67 ‘Venerable Nāgasena, those two qualities of water which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As water, O king, is cool and assuages heat, so also is Nirvāṇa cool, and assuages the fever arising from all evil dispositions. This is the first quality of water inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as water allays the thirst of men and beasts when they are exhausted and anxious, craving for drink, and tormented by thirst, so does Nirvāṇa allay the thirst of the craving after lusts, the craving after future life, and the craving after worldly prosperity. This is the second quality of water inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 68 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of medicine, which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
PTS vp Pali 319 ‘As medicine, O king, is the refuge of beings tormented by poison, so is Nirvāṇa the refuge of beings tormented with the poison of evil dispositions. This is the first quality of medicine inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as medicine puts an end to diseases, so does Nirvāṇa put an end to griefs. This is the second quality of medicine inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as medicine is ambrosia, so also is Nirvāṇa ambrosia. This is the third quality of medicine inherent in Nirvāṇa.’ PTS vp En 191
PTS cs 69 ‘Venerable Nāgasena, those four qualities of the ocean which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As the ocean, O king, is free from (empty of) corpses, so also is Nirvāṇa free from (empty of) the dead bodies of all evil dispositions. This, O king, is the first quality of the ocean inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as the ocean is mighty and boundless, and fills not with all the rivers that flow in to it; so is Nirvāṇa mighty and boundless, and fills not with all beings (who enter in to it). This is the second quality of the ocean inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as the ocean is the abode of mighty creatures, so is Nirvāṇa the abode of great men—Arahats, in whom the Great Evils and all stains have been destroyed, endowed with power, masters of themselves. This is the third quality of the ocean inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as the ocean is all in blossom, as it were, with the innumerable and various and fine flowers of the ripple of its waves, so is Nirvāṇa all in blossom, as it were, with the innumerable and PTS vp En 192 various and fine flowers of purity, of knowledge, and of emancipation. This is the fourth quality of the ocean inherent in Nirvāṇa.’
PTS vp Pali 320 PTS cs 70 ‘Venerable Nāgasena, those five qualities of food which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As food, O king, is the support of the life of all beings, so is Nirvāṇa, when it has been realised, the support of life, for it puts an end to old age and death. This is the first quality of food inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as food increases the strength of all beings, so does Nirvāṇa, when it has been realised, increase the power of Iddhi of all beings. This is the second quality of food inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as food is the source of the beauty of all beings, so is Nirvāṇa, when it has been realised, the source to all beings of the beauty of holiness. This is the third quality of food inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as food puts a stop to suffering in all beings, so does Nirvāṇa, when it has been realised, put a stop in all beings to the suffering arising from every evil disposition. This is the fourth quality of food inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as food overcomes in all beings the weakness of hunger, so does Nirvāṇa, when it has been realised, overcome in all beings the weakness which arises from hunger and every sort of pain. This is the fifth quality of food inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 71 ‘Venerable Nāgasena, those ten qualities of space which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As space, O king, neither is born nor grows old, neither dies nor passes away nor is reborn (has PTS vp En 193 a future life to spring up into), as it is incompressible, cannot be carried off by thieves, rests on nothing, is the sphere in which birds fly, is unobstructed, and is infinite; PTS vp Pali 321 so, O king, Nirvāṇa is not born, neither does it grow old, it dies not, it passes not away, it has no rebirth (no future life to spring up into), it is unconquerable, thieves carry it not off, it is not attached to anything, it is the sphere in which Arahats move, nothing can obstruct it, and it is infinite. These are the ten qualities of space inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 72 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of the wish-conferring gem which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As the wishing-gem, O king, satisfies every desire, so also does Nirvāṇa. This is the first quality of the wishing-gem inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as the wishing-gem causes delight, so also does Nirvāṇa. This is the second quality of the wishing-gem inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as the wishing-gem is full of lustre, so also is Nirvāṇa. This is the third quality of the wishing-gem inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 73 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of red sandal wood which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’ PTS vp En 194
‘As red sandal wood, O king, is hard to get, so is Nirvāṇa hard to attain to. This is the first quality of red sandal wood inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as red sandal wood is unequalled in the beauty of its perfume, so is Nirvāṇa. This is the second quality of red sandal wood inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as red sandal wood is praised by all the good, so is Nirvāṇa praised by all the Noble Ones. This is the third quality of red sandal wood inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 74 PTS vp Pali 322 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of the skimmings of ghee which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As ghee is beautiful in colour, O king, so also is Nirvāṇa beautiful in righteousness. This is the first quality of the ghee inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as ghee has a pleasant perfume, so also has Nirvāṇa the pleasant perfume of righteousness. This is the second quality of ghee inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as ghee has a pleasant taste, so also has Nirvāṇa. This is the third quality of ghee inherent in Nirvāṇa.’
PTS cs 75 ‘Venerable Nāgasena, those five qualities of a mountain peak which you said were inherent in Nirvāṇa—which are they?’
‘As a mountain peak is very lofty, so also is Nirvāṇa very exalted. This is the first quality of a mountain peak inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as a mountain peak is immoveable, so also is Nirvāṇa. This is the second quality of a mountain peak inherent in Nirvāṇa. And again, O king, PTS vp En 195 as a mountain peak is inaccessible, so also is Nirvāṇa inaccessible to all evil dispositions. This is the third quality of a mountain peak inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as a mountain peak is a place where no plants can grow, so also is Nirvāṇa a condition in which no evil dispositions can grow. This is the fourth quality of a mountain peak inherent in Nirvāṇa. And again, O king, as a mountain peak is free alike from desire to please and from resentment, so also is Nirvāṇa. This is the fifth quality of a mountain peak inherent in Nirvāṇa.’
PTS vp Pali 323 ‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the form of Nirvāṇa.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Niết Bàn, Niết Bàn,’ vậy thì có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn ấy không?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là không có vật đối chiếu. Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận điều ấy, là việc không có được sự xác định bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận về hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn là pháp có thật. Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, hãy là vậy. Tôi sẽ giúp cho ngài hiểu bằng lý lẽ. Tâu đại vương, có cái gọi là đại dương không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái đại dương ấy.”
“Tâu đại vương, nếu có ai đó hỏi đại vương như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Tâu đại vương, được hỏi như vậy, đại vương giải thích cho người ấy như thế nào?”
“Thưa ngài, nếu có ai đó hỏi trẫm như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Thưa ngài, trẫm sẽ nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, ông hỏi trẫm điều không nên hỏi, câu hỏi ấy là không nên hỏi bởi bất cứ người nào, câu hỏi ấy nên được bỏ qua, đại dương chưa được phân tích bởi các nhà tự nhiên học, không thể ước lượng nước ở đại dương, hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy.’ Thưa ngài, trẫm sẽ cho người ấy câu trả lời như vậy.”
BJT 2“Tâu đại vương, tại sao ngài lại cho câu trả lời như vậy về đại dương là pháp có thật, sao không tính toán rồi thuật lại cho người ấy rằng: ‘Nước ở đại dương là chừng này, và chúng sanh cư ngụ ở đại dương là chừng này’?”
“Thưa ngài, không thể được. Câu hỏi này là không có thực tế.”
“Tâu đại vương, giống như đại dương đúng là pháp có thật còn không thể tính toán lượng nước hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với Niết Bàn đúng là pháp có thật, cũng không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước. Tâu đại vương, người có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, có thể tính toán nước ở đại dương, và chúng sanh có chỗ ở tại nơi ấy. Nhưng vị ấy, có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, vẫn không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.’ Tâu đại vương, trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Được nghe là: ‘Trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.’”
“Tâu đại vương, phải chăng đối với chư Thiên thuộc tập thể vô sắc ấy, có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, như thế thì không có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.”
“Thưa ngài, có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc. Và đối với các vị ấy, không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước.”
“Tâu đại vương, giống như không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của chư Thiên thuộc tập thể vô sắc, đúng là các chúng sanh có thật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, Niết Bàn là thuần lạc. Và không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn. Thưa ngài, vậy thì có đức tính nào đó của Niết Bàn được liên quan với các thứ khác có thể làm ví dụ so sánh?”
“Tâu đại vương, về phương diện hình thể thì không có. Tuy nhiên, có thể có cái gì đó về phương diện đức tính để chỉ ra làm ví dụ so sánh.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm tiếp nhận việc giải thích từng phần một về đức tính của Niết Bàn như thế nào thì bằng cách mau chóng như thế ấy ngài hãy nói lên, hãy dập tắt sự nóng nảy ở trái tim của trẫm, hãy đưa nó đi bằng làn gió mát lạnh, ngọt ngào của lời nói.”
BJT 5“Tâu đại vương, cây sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn, nước có hai đức tính, thuốc giải độc có ba đức tính, đại dương có bốn đức tính, vật thực có năm đức tính, bầu trời có mười đức tính, ngọc báu ma-ni có ba đức tính, trầm hương đỏ có ba đức tính, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính, đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Loài sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ loài sen có một đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không bị lấm lem bởi tất cả các phiền não. Tâu đại vương, loài sen có một đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước có hai đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước có hai đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực của tất cả các phiền não. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước xua đi cơn khát của các loài người và thú bị nhọc mệt, bị run rẩy, bị khát, bị thiêu đốt bởi sự nóng bức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn xua đi cơn khát về dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước có hai đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Thuốc giải độc có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ thuốc giải độc có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như thuốc giải độc là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc phiền não. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc làm chấm dứt các căn bệnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm chấm dứt tất cả các khổ đau. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, thuốc giải độc có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đại dương có bốn đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đại dương có bốn đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đại dương là trống không đối với tất cả các xác chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là trống không đối với tất cả các xác chết phiền não. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các dòng sông. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các chúng sanh. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là nơi cư trú của các sinh vật vĩ đại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi cư trú của các bậc A-la-hán vĩ đại, là các sinh vật vĩ đại không bị ô nhiễm, có các lậu đã cạn kiệt, đã đạt được năng lực, có trạng thái làm chủ. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương được trổ hoa với các bông hoa là những làn sóng vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được trổ hoa với các bông hoa là sự thanh tịnh, minh, và giải thoát vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đại dương có bốn đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Vật thực có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ vật thực có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như vật thực duy trì sự sống của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ thì duy trì sự sống nhờ vào việc tiêu diệt sự già và sự chết. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm tăng trưởng sức mạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm tăng trưởng sức mạnh về thần thông của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm sanh ra sắc đẹp của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm sanh ra sắc đẹp về đức hạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm lắng dịu sự buồn bực của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm lắng dịu sự buồn bực về mọi phiền não của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực xua đi cơn đói và sự yếu đuối của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ xua đi cơn đói và sự yếu đuối về mọi sự khổ đau của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, vật thực có năm đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hư không có mười đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ hư không có mười đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như hư không là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của loài chim, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của các bậc Thánh, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, hư không có mười đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ngọc báu ma-ni có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ ngọc báu ma-ni có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như ngọc báu ma-ni ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni làm cho tươi cười. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm cho tươi cười. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Trầm hương đỏ có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ trầm hương đỏ có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như trầm hương đỏ là khó đạt được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó đạt được. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ được những người tốt ca tụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được các bậc Thánh nhân ca tụng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước trong của bơ lỏng có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước trong của bơ lỏng có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước trong của bơ lỏng được thành tựu màu sắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu màu sắc của đức hạnh. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu hương thơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu hương thơm của giới. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu phẩm vị. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu phẩm vị (giải thoát). Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đỉnh núi có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đỉnh núi là cao ngất. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là cao ngất. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là không dao động. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không dao động. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là khó trèo lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó trèo lên đối với tất cả các phiền não. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi đối với tất cả các hạt giống là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đối với tất cả các phiền não là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đỉnh núi có năm đức tính thứ này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hình thể và vị trí của Niết Bàn là thứ mười.
“Bhante nāgasena, ‘nibbānaṁ nibbānan’ti yaṁ vadesi, sakkā pana tassa nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti?
“Appaṭibhāgaṁ, mahārāja, nibbānaṁ, na sakkā nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Etampāhaṁ, bhante nāgasena, na sampaṭicchāmi, yaṁ atthidhammassa nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā apaññāpanaṁ, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Hotu, mahārāja, kāraṇena taṁ saññāpessāmi.
Atthi, mahārāja, mahāsamuddo nāmā”ti?
“Āma, bhante, attheso mahāsamuddo”ti.
“Sace taṁ, mahārāja, koci evaṁ puccheyya ‘kittakaṁ, mahārāja, mahāsamudde udakaṁ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, evaṁ puṭṭho tvaṁ, mahārāja, kinti tassa byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, koci evaṁ puccheyya ‘kittakaṁ, mahārāja, mahāsamudde udakaṁ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, tamahaṁ, bhante, evaṁ vadeyyaṁ ‘apucchitabbaṁ maṁ tvaṁ, ambho purisa, pucchasi, nesā pucchā kenaci pucchitabbā, ṭhapanīyo eso pañho.
Avibhatto lokakkhāyikehi mahāsamuddo, na sakkā mahāsamudde udakaṁ pariminituṁ sattā vā ye tattha vāsamupagatāti evāhaṁ, bhante tassa paṭivacanaṁ dadeyyan’”ti.
“Kissa pana tvaṁ, mahārāja, atthidhamme mahāsamudde evaṁ paṭivacanaṁ dadeyyāsi, nanu vigaṇetvā tassa ācikkhitabbaṁ ‘ettakaṁ mahāsamudde udakaṁ, ettakā ca sattā mahāsamudde paṭivasantī’”ti?
“Na sakkā, bhante, avisayo eso pañho”ti.
“Yathā, mahārāja, atthidhammeyeva mahāsamudde na sakkā udakaṁ parigaṇetuṁ sattā vā ye tattha vāsamupagatā;
evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ, vigaṇeyya, mahārāja, iddhimā cetovasippatto mahāsamudde udakaṁ tatrāsaye ca satte, na tveva so iddhimā cetovasippatto sakkuṇeyya nibbānassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ.
Aparampi, mahārāja, uttariṁ kāraṇaṁ suṇohi, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitunti.
Atthi, mahārāja, devesu arūpakāyikā nāma devā”ti.
“Āma, bhante, suyyati ‘atthi devesu arūpakāyikā nāma devā’”ti.
“Sakkā pana, mahārāja, tesaṁ arūpakāyikānaṁ devānaṁ rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Tena hi, mahārāja, natthi arūpakāyikā devā”ti?
“Atthi, bhante, arūpakāyikā devā, na ca sakkā tesaṁ rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Yathā, mahārāja, atthisattānaṁyeva arūpakāyikānaṁ devānaṁ na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ;
evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitun”ti.
“Bhante nāgasena, hotu ekantasukhaṁ nibbānaṁ, na ca sakkā tassa rūpaṁ vā saṇṭhānaṁ vā vayaṁ vā pamāṇaṁ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṁ.
Atthi pana, bhante, nibbānassa guṇaṁ aññehi anupaviṭṭhaṁ kiñci opammanidassanamattan”ti?
“Sarūpato, mahārāja, natthi, guṇato pana sakkā kiñci opammanidassanamattaṁ upadassayitun”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, yathāhaṁ labhāmi nibbānassa guṇatopi ekadesaparidīpanamattaṁ, tathā sīghaṁ brūhi, nibbāpehi me hadayapariḷāhaṁ vinaya sītalamadhuravacanamālutenā”ti.
“Padumassa, mahārāja, eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho, udakassa dve guṇā, agadassa tayo guṇā, mahāsamuddassa cattāro guṇā, bhojanassa pañca guṇā, ākāsassa dasa guṇā, maṇiratanassa tayo guṇā, lohitacandanassa tayo guṇā, sappimaṇḍassa tayo guṇā, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho’ti yaṁ vadesi, katamo padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho”ti?
“Yathā, mahārāja, padumaṁ anupalittaṁ udakena;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbakilesehi anupalittaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, padumassa eko guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho”ti.
“Bhante nāgasena, ‘udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, udakaṁ sītalaṁ pariḷāhanibbāpanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sītalaṁ sabbakilesapariḷāhanibbāpanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, udakassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, udakaṁ kilantatasitapipāsitaghammābhitattānaṁ janapasupajānaṁ pipāsāvinayanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kāmataṇhābhavataṇhāvibhavataṇhāpipāsāvinayanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, udakassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, udakassa dve guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, agado visapīḷitānaṁ sattānaṁ paṭisaraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kilesavisapīḷitānaṁ sattānaṁ paṭisaraṇaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, agado rogānaṁ antakaro;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbadukkhānaṁ antakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, agado amataṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ amataṁ.
Ayaṁ, mahārāja, agadassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, agadassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, mahāsamuddo suñño sabbakuṇapehi;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ suññaṁ sabbakilesakuṇapehi.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo mahanto anorapāro, na paripūrati sabbasavantīhi;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ mahantaṁ anorapāraṁ, na pūrati sabbasattehi.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo mahantānaṁ bhūtānaṁ āvāso;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ mahantānaṁ arahantānaṁ vimalakhīṇāsavabalappattavasībhūtamahābhūtānaṁ āvāso.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, mahāsamuddo aparimitavividhavipulavīcipupphasaṅkusumito;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ aparimitavividhavipulaparisuddhavijjāvimuttipupphasaṅkusumitaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, mahāsamuddassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ āyudhāraṇaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ jarāmaraṇanāsanato āyudhāraṇaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ balavaḍḍhanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ iddhibalavaḍḍhanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ vaṇṇajananaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ guṇavaṇṇajananaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ darathavūpasamanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ sabbakilesadarathavūpasamanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, bhojanaṁ sabbasattānaṁ jighacchādubbalyapaṭivinodanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sacchikataṁ sabbasattānaṁ sabbadukkhajighacchādubbalyapaṭivinodanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, bhojanassa pañcamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, bhojanassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, ākāso na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasaho, acorāharaṇo, anissito, vihagagamano, nirāvaraṇo, ananto.
Evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasahaṁ, acorāharaṇaṁ, anissitaṁ, ariyagamanaṁ, nirāvaraṇaṁ, anantaṁ.
Ime kho, mahārāja, ākāsassa dasa guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, maṇiratanaṁ kāmadadaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ kāmadadaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, maṇiratanaṁ hāsakaraṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ hāsakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, maṇiratanaṁ ujjotattakaraṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ ujjotattakaraṁ.
Ayaṁ, mahārāja, maṇiratanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, lohitacandanaṁ dullabhaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ dullabhaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, lohitacandanaṁ asamasugandhaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ asamasugandhaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, lohitacandanaṁ sajjanapasatthaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ ariyasajjanapasatthaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, lohitacandanassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, sappimaṇḍo vaṇṇasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ guṇavaṇṇasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, sappimaṇḍo gandhasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sīlagandhasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, sappimaṇḍo rasasampanno;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ rasasampannaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, sappimaṇḍassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Bhante nāgasena, ‘girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā’ti yaṁ vadesi, katame girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti?
“Yathā, mahārāja, girisikharaṁ accuggataṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ accuggataṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa paṭhamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ acalaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ acalaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa dutiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ duradhirohaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ duradhirohaṁ sabbakilesānaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa tatiyo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ sabbabījānaṁ avirūhanaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ sabbakilesānaṁ avirūhanaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa catuttho guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Puna caparaṁ, mahārāja, girisikharaṁ anunayappaṭighavippamuttaṁ;
evameva kho, mahārāja, nibbānaṁ anunayappaṭighavippamuttaṁ.
Ayaṁ, mahārāja, girisikharassa pañcamo guṇo nibbānaṁ anupaviṭṭho.
Ime kho, mahārāja, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṁ anupaviṭṭhā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānarūpasaṇṭhānapañho dasamo.