ĐẾN QUYẾN THUỘC ĐÃ QUÁ VÃNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, các thí chủ này sau khi bố thí vật thí, hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Việc này hãy thành tựu cho những người ấy.’ Phải chăng những người ấy do nhân ấy nhận được quả thành tựu nào đó?”
“Tâu đại vương, một số nhận được, một số không nhận được.”
“Thưa ngài, những ai nhận được, những ai không nhận được?”
“Tâu đại vương, những người đã sanh vào địa ngục không nhận được, những người đã đi đến cõi trời không nhận được, những người đã đi đến bản thể loài thú không nhận được, trong số bốn hạng người đã quá vãng, ba hạng người đã quá vãng không nhận được—là hạng chỉ ăn đồ được mửa ra, hạng bị hành hạ bởi sự đói khát, hạng luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát. Hạng người đã quá vãng nhận được là hạng sống nhờ vào sự bố thí của người khác, thậm chí những người ấy ngay trong khi nhớ đến cũng nhận được.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì sự bố thí của các thí chủ đã được làm để hồi hướng đến những người nào, nếu những người ấy không nhận được, thì bị uổng phí, thì không có kết quả?”
“Tâu đại vương, việc bố thí ấy không hẳn là không có kết quả, là không có quả thành tựu. Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì xin ngài giúp cho trẫm hiểu bắng lý lẽ?”
“Tâu đại vương, ở đây một số người nào đó chuẩn bị cá, thịt, rượu, thức ăn, vật nhai, rồi đi đến nhà của thân quyến. Nếu những thân quyến ấy không thọ nhận quà biếu ấy, phải chăng quà biếu ấy trở nên uổng phí, hoặc bị mất mát?”
“Thưa ngài, không đúng. Vật ấy là thuộc về chính các người chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam đã đi vào nội phòng, trong khi lối đi ra không có ở phía trước thì có thể đi ra bằng cách nào?”
“Thưa ngài, bằng chính lối đã đi vào.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Chúng tôi chấp nhận điều này đúng theo như vậy: ‘Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Chúng tôi không bàn cãi về lý lẽ ấy.’
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, nếu vật thí đã được bố thí của các thí chủ này thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng, và họ thọ hưởng quả thành tựu của việc ấy, như thế thì kẻ nào có sự giết hại mạng sống, là thợ săn, có bàn tay vấy máu, có tâm tư tồi tệ, sau khi giết chết nhiều người, sau khi gây ra hành động tàn bạo, rồi hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Quả thành tựu của việc làm này của tôi hãy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng,’ phải chăng quả thành tựu của việc ấy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy, cái gì là nhân, cái gì là lý do khiến cho thiện thành tựu, còn bất thiện không thành tựu?”
“Tâu đại vương, câu hỏi ấy là không nên hỏi. Tâu đại vương, xin đại vương chớ (nghĩ rằng): ‘Có người trả lời’ rồi hỏi câu hỏi không thể trả lời được: ‘Tại sao bầu trời không có vật máng lên? Tại sao sông Gaṅgā không chảy về phía thượng nguồn? Tại sao những người này là lưỡng sanh và có hai chân, còn loài thú có bốn chân? Có phải đại vương cũng sẽ hỏi tôi câu hỏi ấy?”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm hỏi ngài không phải vì có ý muốn gây khó khăn. Tuy nhiên, trẫm hỏi nhằm mục đích làm tiêu tan sự nghi ngờ. Nhiều người ở thế gian có sự cầm nắm bằng tay trái, có mắt bị lòa, trẫm hỏi ngài điều ấy là như vầy: ‘Vì điều gì mà những người ấy không thể đạt được cơ hội?’”
“Tâu đại vương, không thể san sẻ nghiệp ác với người đã không làm, với người không tùy hỷ theo. Tâu đại vương, giống như những người chuyển nước đến nơi rất xa bằng ống dẫn nước. Tâu đại vương, phải chăng núi đá rắn chắc to lớn có thể chuyển dịch theo như ý muốn cũng bằng ống dẫn?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như có thể đốt sáng ngọn đèn với dầu. Tâu đại vương, phải chăng có thể đốt sáng ngọn đèn với nước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người nông dân lấy nước từ hồ nước rồi nấu chín gạo. Tâu đại vương, phải chăng có thể lấy nước từ biển cả rồi nấu chín gạo?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện? Xin ngài giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Trẫm không phải là mù lòa và không có ánh sáng, sau khi lắng nghe trẫm sẽ hiểu.”
“Tâu đại vương, bất thiện là ít ỏi, thiện thì dồi dào. Do tính chất ít ỏi, bất thiện tác động chỉ riêng người tạo tác. Bởi tính chất dồi dào, thiện bao phủ thế gian luôn cả cõi Trời.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như một giọt nước nhỏ nhoi rơi xuống trái đất. Tâu đại vương, phải chăng giọt nước ấy có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần?”
“Thưa ngài, không đúng. Giọt nước ấy đã rơi xuống ở nơi nào, thì nó tác động chỉ ở nơi ấy thôi.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của giọt nước.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế bất thiện là nhỏ nhoi. Do tính chất nhỏ nhoi, nó tác động chỉ riêng người tạo tác, không thể san sẻ. Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ, trong khi làm hài lòng mặt đất, có thể đổ mưa. Tâu đại vương, phải chăng đám mây to lớn ấy có thể phủ lên khắp nơi?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đám mây to lớn ấy sau khi làm tràn đầy hố, ao, suối, cành cây, hốc, khe, hồ, vũng, giếng, đầm sen, cũng có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất to lớn của đám mây.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện thì dồi dào. Do tính chất dồi dào, có thể san sẽ với chư Thiên và loài người.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà bất thiện là ít ỏi, còn thiện là dồi dào hơn?”
“Tâu đại vương, ở đây có ai đó dâng cúng vật thí, thọ trì giới, thực hành việc trai giới, người ấy vui mừng, mừng rỡ, vừa lòng, hài lòng, hoan hỷ, có tâm tịnh tín, hân hoan sanh khởi, đối với vị ấy hỷ sanh lên liên tục, đối với người có tâm hỷ thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa.
Tâu đại vương, giống như ở giếng nước được tràn đầy với nhiều nước, nước có thể đi vào bằng một lối, thoát ra bằng một lối, mặc dầu đang được thoát ra nước cũng vẫn liên tục sanh khởi, không thể nào bị lâm vào sự cạn kiệt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Tâu đại vương, nếu một người có thể hướng tâm đến việc thiện đã làm thậm chí cả một trăm năm, khi được liên tục hướng tâm thì thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Đối với người ấy, thiện ấy có thể san sẻ cho những người mong mỏi như thế ấy. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy thiện là dồi dào hơn.
Tâu đại vương, trái lại người đang làm việc bất thiện thì về sau có sự ân hận; đối với người có sự ân hận, thì tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, giống như chút ít nước đang rơi xuống phía bên trên của dòng sông khô cạn có bãi cát lớn lồi lõm uốn cong khúc khuỷu, thì tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đang làm việc bất thiện, tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy bất thiện là ít ỏi.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hồi hướng đến quyến thuộc đã quá vãng là thứ tư.
“Bhante nāgasena, ime dāyakā dānaṁ datvā pubbapetānaṁ ādisanti ‘idaṁ tesaṁ pāpuṇātū’ti, api nu te kiñci tatonidānaṁ vipākaṁ paṭilabhantī”ti?
“Keci, mahārāja, paṭilabhanti, keci nappaṭilabhantī”ti.
“Ke, bhante, paṭilabhanti, ke nappaṭilabhantī”ti?
“Nirayūpapannā, mahārāja, nappaṭilabhanti, saggagatā nappaṭilabhanti, tiracchānayonigatā nappaṭilabhanti, catunnaṁ petānaṁ tayo petā nappaṭilabhanti vantāsikā khuppipāsino nijjhāmataṇhikā, labhanti petā paradattūpajīvino, tepi saramānāyeva labhantī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, dāyakānaṁ dānaṁ visositaṁ hoti aphalaṁ, yesaṁ uddissa kataṁ yadi te nappaṭilabhantī”ti?
“Na hi taṁ, mahārāja, dānaṁ aphalaṁ hoti avipākaṁ, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavantī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Idha, mahārāja, keci manussā macchamaṁsasurābhattakhajjakāni paṭiyādetvā ñātikulaṁ gacchanti, yadi te ñātakā taṁ upāyanaṁ na sampaṭiccheyyuṁ, api nu taṁ upāyanaṁ visositaṁ gaccheyya vinasseyya vā”ti?
“Na hi, bhante, sāmikānaṁyeva taṁ hotī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavanti.
Yathā pana, mahārāja, puriso gabbhaṁ paviṭṭho asati purato nikkhamanamukhe kena nikkhameyyā”ti.
“Paviṭṭheneva, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavantī”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmi, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavanti, na mayaṁ taṁ kāraṇaṁ vilomemāti.
(…)
Bhante nāgasena, yadi imesaṁ dāyakānaṁ dinnadānaṁ pubbapetānaṁ pāpuṇāti, te ca tassa vipākaṁ anubhavanti.
Tena hi yo pāṇātipātī luddo lohitapāṇī paduṭṭhamanasaṅkappo manusse ghātetvā dāruṇaṁ kammaṁ katvā pubbapetānaṁ ādiseyya ‘imassa me kammassa vipāko pubbapetānaṁ pāpuṇātū’ti, api nu tassa vipāko pubbapetānaṁ pāpuṇātī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Bhante nāgasena, ko tattha hetu kiṅkāraṇaṁ, yena kusalaṁ pāpuṇāti akusalaṁ na pāpuṇātī”ti?
“Neso, mahārāja, pañho pucchitabbo, mā ca tvaṁ, mahārāja, ‘visajjako atthī’ti apucchitabbaṁ pucchi, ‘kissa ākāso nirālambo, kissa gaṅgā uddhammukhā na sandati, kissa ime manussā ca dijā ca dvipadā migā catuppadā’ti tampi maṁ tvaṁ pucchissasī”ti.
“Nāhaṁ taṁ, bhante nāgasena, vihesāpekkho pucchāmi, api ca nibbāhanatthāya sandehassa pucchāmi, bahū manussā loke vāmagāmino vicakkhukā, ‘kinti te otāraṁ na labheyyun’ti evāhaṁ taṁ pucchāmī”ti.
“Na sakkā, mahārāja, saha akatena ananumatena saha pāpaṁ kammaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā, mahārāja, manussā udakanibbāhanena udakaṁ suvidūrampi haranti, api nu, mahārāja, sakkā ghanamahāselapabbato nibbāhanena yathicchitaṁ haritun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, sakkā telena padīpo jāletuṁ, api nu, mahārāja, sakkā udakena padīpo jāletun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, kassakā taḷākato udakaṁ nīharitvā dhaññaṁ paripācenti, api nu kho, mahārāja, sakkā mahāsamuddato udakaṁ nīharitvā dhaññaṁ paripācetun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajitun”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ?
Kāraṇena maṁ saññāpehi, nāhaṁ andho anāloko sutvā vedissāmī”ti.
“Akusalaṁ, mahārāja, thokaṁ, kusalaṁ bahukaṁ, thokattā akusalaṁ kattāraṁyeva pariyādiyati, bahukattā kusalaṁ sadevakaṁ lokaṁ ajjhottharatī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, parittaṁ ekaṁ udakabindu pathaviyaṁ nipateyya, api nu kho taṁ, mahārāja, udakabindu dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā”ti?
“Na hi, bhante, yattha taṁ udakabindu nipatitaṁ, tattheva pariyādiyatī”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Parittattā, bhante, udakabindussā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, parittaṁ akusalaṁ parittattā kattāraṁyeva pariyādiyati, na sakkā saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivasseyya tappayanto dharaṇitalaṁ, api nu kho so, mahārāja, mahāmegho samantato otthareyyā”ti?
“Āma, bhante, pūrayitvā so mahāmegho sobbhasarasaritasākhākandarapadaradahataḷākaudapānapokkharaṇiyo dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Mahantattā, bhante, meghassā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kusalaṁ bahukaṁ, bahukattā sakkā devamanussehipi saṁvibhajitun”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena akusalaṁ thokaṁ kusalaṁ bahutaran”ti?
“Idha, mahārāja, yo koci dānaṁ deti, sīlaṁ samādiyati, uposathakammaṁ karoti, so haṭṭho pahaṭṭho hasito pamudito pasannamānaso vedajāto hoti, tassa aparāparaṁ pīti uppajjati, pītimanassa bhiyyo bhiyyo kusalaṁ pavaḍḍhati.
Yathā, mahārāja, udapāne bahusalilasampuṇṇe ekena desena udakaṁ paviseyya, ekena nikkhameyya, nikkhamantepi aparāparaṁ uppajjati, na sakkā hoti khayaṁ pāpetuṁ;
evameva kho, mahārāja, kusalaṁ bhiyyo bhiyyo pavaḍḍhati.
Vassasatepi ce, mahārāja, puriso kataṁ kusalaṁ āvajjeyya, āvajjite āvajjite bhiyyo bhiyyo kusalaṁ pavaḍḍhati.
Tassa taṁ kusalaṁ sakkā hoti yathicchakehi saddhiṁ saṁvibhajituṁ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena kusalaṁ bahutaraṁ.
Akusalaṁ pana, mahārāja, karonto pacchā vippaṭisārī hoti, vippaṭisārino cittaṁ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati.
Yathā, mahārāja, sukkhāya nadiyā mahāpuḷināya unnatāvanatāya kuṭilasaṅkuṭilāya uparito parittaṁ udakaṁ āgacchantaṁ hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati.
Evameva kho, mahārāja, akusalaṁ karontassa cittaṁ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena akusalaṁ thokan”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Pubbapetādisapañho catuttho.
PTS cs 29 ‘Venerable Nāgasena, these givers when they bestow their offerings, devote them specifically to former (relatives) now departed, saying: “May this gift benefit such and such.” Now do they (the dead) derive any benefit therefrom?’
‘Some do, O king, and some do not.’
‘Which then are they that do, and which do not?’
‘Those who have been reborn in purgatory, O king, do not; nor those reborn in heaven; nor those reborn as animals. And of those reborn as Pretas three kinds do not-the Vantāsikā (who feed on vomit), the Khuppipāsino (who hunger and thirst.), the Nijjhāma-taṇhikā (who are consumed by thirst). But the Paradattūpajīvino (who live on the gifts of others) they do derive profit, and those who bear them in remembrance do so too.’
‘Then, Nāgasena, offerings given by the givers have run to waste, and are fruitless, since those PTS vp En 152 for whose benefit they are given derive no profit therefrom.’
‘No, O king. They run not to waste, neither are fruitless. The givers themselves derive profit from them.’
‘Then convince me of this by a simile.’
‘Suppose, O king, people were to get ready fish and meat and strong drinks and rice and cakes, and make a visit on a family related to them. If their relatives should not accept their complimentary present, would that present be wasted or fruitless?’
No, Sir, it would go to the owners of it.’
‘Well, just so the givers themselves derive the profit. Or just, O king, PTS vp Pali 295 as if a man were to enter an inner chamber, and there were no exit in front of him, how would he get out?’
‘By the way he entered.’
‘Well, just so the givers themselves derive the profit.’
PTS cs 30 ‘Let that pass, Nāgasena. That is so, and I accept it as you say. We will not dispute your argument. But, venerable Nāgasena, if the offerings made by such givers do advantage certain of the departed, and they do reap the result of the gifts, then if a man who destroys living creatures and drinks blood and is of cruel heart, were after committing murder or any other dreadful act, to dedicate it to the departed, saying: “May the result of this act of mine accrue to the departed"—would it then be transferred to them?’
‘No, O king.’
‘But what is the reason, what is the cause, that a good deed can accrue to them, and not an evil one?’ PTS vp En 153
‘This is really not a question you should ask, O king. Ask me no foolish question, O king, in the idea that an answer will be forthcoming. You will be asking me next why space is boundless, why the Ganges does not flow up stream, why men and birds are bipeds, and the animals quadrupeds!’
‘It is not to annoy you that I ask this question, Nāgasena, but for the sake of resolving a doubt. There are many people in the world who are left-handed or squint. I put that question to you, thinking: “Why should not also these unlucky ones have a chance of bettering themselves?”’
‘An evil deed, O king, cannot be shared with one who has not done it, and has not consented to it. People convey water long distances by an aqueduct. But could they in the same way remove a great mountain of solid rock?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Well, just in that way can a good deed be shared, but a bad one cannot. And one can light a lamp with oil, but could one in the same way, O king, light it with water?’
PTS vp Pali 296 ‘Certainly not, Sir.’
‘Well, so is it that a good deed can be shared, but not an evil one. And husbandmen take water from a reservoir to bring their crops to maturity, but could they for the same purpose, O king, take water from the sea?’ PTS vp En 154
‘Certainly not, Sir.’
‘So again is it that though a good deed can be shared, an evil one cannot.’
PTS cs 31 ‘But, venerable Nāgasena, why is that? Convince me of this by a reason. I am not blind, or unobservant. I shall understand when I have heard.’
‘Vice, O king, is a mean thing, virtue is great and grand. By its meanness vice affects only the doer, but virtue by its grandeur overspreads the whole world of gods and men.’
‘Show me this by a metaphor.’
‘Were a tiny drop of water to fall on the ground, O king, would it flow on over ten leagues or twelve?’
‘Certainly not. It would only have effect on that very spot of ground on which it fell.’
‘But why so?’
‘Because o its minuteness.’
‘Just so, O king, is vice minute. And by reason of its littleness it affects the doer only, and cannot possibly be shared. But if a mighty rain cloud were to pour out rain satisfying the surface of the earth, would that water spread round about?’
‘Certainly, Sir. That thunderstorm would fill up the depressions in the ground and the pools and ponds, and the gullies and crevices and chasms, and the lakes and reservoirs and wells and lotus-tanks, and the water would spread abroad for ten leagues or for twelve.’ PTS vp En 155
‘But why so, O king?’
‘Because of the greatness of the storm.’
‘Just so, O king, is virtue great. And by reason of its abundance it can be shared by gods and men.
‘Venerable Nāgasena, why is it that vice is so limited, PTS vp Pali 297 and virtue so much more wide-reaching?’
‘Whosoever, O king, in this world gives gifts, and lives in righteousness, and keeps Uposatha, he, glad, right glad, joyful, cheerful, happy, becomes filled with a sweet sense of trust and bliss, and bliss ruling in his heart his goodness grows still more and more abundantly. Like a deep pool of clear water, O king, and into which on one side the spring pours, while on the other the water flows away; so as it flows away it comes again, and there can be no failure there—so, O king, does his goodness grow more and more abundantly. If even through a hundred years, O king, a man were to keep on transferring to others (the merit of) any good he PTS vp En 156 had done, the more he gave it away the more would his goodness grow, and he would still be able to share it with whomsoever he would. This, O king, is the reason why virtue is so much the greater of the two.
PTS cs 32 ‘But on doing evil, O king, a man becomes filled with remorse, and the heart of him who feels remorse cannot get away (from the thought of the evil he has done), it is forcibly bent back on it, thrown back on it, obtains no peace ; miserable, burning, abandoned of hope, he wastes away, and gaining no relief from depression, he is, as it were, possessed with his woe! just, O king, as a drop of water, falling on a dry river bed with its mighty sandbanks rising and falling in undulations along its crooked and shifty course, gains not in volume, but is swallowed up on the very spot where it fell, just so, O king, is a man, when he has done wrong, overcome with remorse, and the heart of him who feels remorse cannot get away from the thought of the evil he has done, it is forcibly bent back on it, thrown back on it, obtains no peace; miserable, burning, abandoned of hope, he wastes away, and gaining no release from his depression, he is, as it PTS vp En 157 were, swallowed up of his woe. This is the reason, O king, why vice is so mean.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to virtue and vice.
ĐẾN QUYẾN THUỘC ĐÃ QUÁ VÃNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, các thí chủ này sau khi bố thí vật thí, hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Việc này hãy thành tựu cho những người ấy.’ Phải chăng những người ấy do nhân ấy nhận được quả thành tựu nào đó?”
“Tâu đại vương, một số nhận được, một số không nhận được.”
“Thưa ngài, những ai nhận được, những ai không nhận được?”
“Tâu đại vương, những người đã sanh vào địa ngục không nhận được, những người đã đi đến cõi trời không nhận được, những người đã đi đến bản thể loài thú không nhận được, trong số bốn hạng người đã quá vãng, ba hạng người đã quá vãng không nhận được—là hạng chỉ ăn đồ được mửa ra, hạng bị hành hạ bởi sự đói khát, hạng luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát. Hạng người đã quá vãng nhận được là hạng sống nhờ vào sự bố thí của người khác, thậm chí những người ấy ngay trong khi nhớ đến cũng nhận được.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì sự bố thí của các thí chủ đã được làm để hồi hướng đến những người nào, nếu những người ấy không nhận được, thì bị uổng phí, thì không có kết quả?”
“Tâu đại vương, việc bố thí ấy không hẳn là không có kết quả, là không có quả thành tựu. Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì xin ngài giúp cho trẫm hiểu bắng lý lẽ?”
“Tâu đại vương, ở đây một số người nào đó chuẩn bị cá, thịt, rượu, thức ăn, vật nhai, rồi đi đến nhà của thân quyến. Nếu những thân quyến ấy không thọ nhận quà biếu ấy, phải chăng quà biếu ấy trở nên uổng phí, hoặc bị mất mát?”
“Thưa ngài, không đúng. Vật ấy là thuộc về chính các người chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam đã đi vào nội phòng, trong khi lối đi ra không có ở phía trước thì có thể đi ra bằng cách nào?”
“Thưa ngài, bằng chính lối đã đi vào.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Chúng tôi chấp nhận điều này đúng theo như vậy: ‘Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Chúng tôi không bàn cãi về lý lẽ ấy.’
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, nếu vật thí đã được bố thí của các thí chủ này thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng, và họ thọ hưởng quả thành tựu của việc ấy, như thế thì kẻ nào có sự giết hại mạng sống, là thợ săn, có bàn tay vấy máu, có tâm tư tồi tệ, sau khi giết chết nhiều người, sau khi gây ra hành động tàn bạo, rồi hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Quả thành tựu của việc làm này của tôi hãy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng,’ phải chăng quả thành tựu của việc ấy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy, cái gì là nhân, cái gì là lý do khiến cho thiện thành tựu, còn bất thiện không thành tựu?”
“Tâu đại vương, câu hỏi ấy là không nên hỏi. Tâu đại vương, xin đại vương chớ (nghĩ rằng): ‘Có người trả lời’ rồi hỏi câu hỏi không thể trả lời được: ‘Tại sao bầu trời không có vật máng lên? Tại sao sông Gaṅgā không chảy về phía thượng nguồn? Tại sao những người này là lưỡng sanh và có hai chân, còn loài thú có bốn chân? Có phải đại vương cũng sẽ hỏi tôi câu hỏi ấy?”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm hỏi ngài không phải vì có ý muốn gây khó khăn. Tuy nhiên, trẫm hỏi nhằm mục đích làm tiêu tan sự nghi ngờ. Nhiều người ở thế gian có sự cầm nắm bằng tay trái, có mắt bị lòa, trẫm hỏi ngài điều ấy là như vầy: ‘Vì điều gì mà những người ấy không thể đạt được cơ hội?’”
“Tâu đại vương, không thể san sẻ nghiệp ác với người đã không làm, với người không tùy hỷ theo. Tâu đại vương, giống như những người chuyển nước đến nơi rất xa bằng ống dẫn nước. Tâu đại vương, phải chăng núi đá rắn chắc to lớn có thể chuyển dịch theo như ý muốn cũng bằng ống dẫn?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như có thể đốt sáng ngọn đèn với dầu. Tâu đại vương, phải chăng có thể đốt sáng ngọn đèn với nước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người nông dân lấy nước từ hồ nước rồi nấu chín gạo. Tâu đại vương, phải chăng có thể lấy nước từ biển cả rồi nấu chín gạo?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện? Xin ngài giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Trẫm không phải là mù lòa và không có ánh sáng, sau khi lắng nghe trẫm sẽ hiểu.”
“Tâu đại vương, bất thiện là ít ỏi, thiện thì dồi dào. Do tính chất ít ỏi, bất thiện tác động chỉ riêng người tạo tác. Bởi tính chất dồi dào, thiện bao phủ thế gian luôn cả cõi Trời.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như một giọt nước nhỏ nhoi rơi xuống trái đất. Tâu đại vương, phải chăng giọt nước ấy có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần?”
“Thưa ngài, không đúng. Giọt nước ấy đã rơi xuống ở nơi nào, thì nó tác động chỉ ở nơi ấy thôi.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của giọt nước.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế bất thiện là nhỏ nhoi. Do tính chất nhỏ nhoi, nó tác động chỉ riêng người tạo tác, không thể san sẻ. Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ, trong khi làm hài lòng mặt đất, có thể đổ mưa. Tâu đại vương, phải chăng đám mây to lớn ấy có thể phủ lên khắp nơi?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đám mây to lớn ấy sau khi làm tràn đầy hố, ao, suối, cành cây, hốc, khe, hồ, vũng, giếng, đầm sen, cũng có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất to lớn của đám mây.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện thì dồi dào. Do tính chất dồi dào, có thể san sẽ với chư Thiên và loài người.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà bất thiện là ít ỏi, còn thiện là dồi dào hơn?”
“Tâu đại vương, ở đây có ai đó dâng cúng vật thí, thọ trì giới, thực hành việc trai giới, người ấy vui mừng, mừng rỡ, vừa lòng, hài lòng, hoan hỷ, có tâm tịnh tín, hân hoan sanh khởi, đối với vị ấy hỷ sanh lên liên tục, đối với người có tâm hỷ thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa.
Tâu đại vương, giống như ở giếng nước được tràn đầy với nhiều nước, nước có thể đi vào bằng một lối, thoát ra bằng một lối, mặc dầu đang được thoát ra nước cũng vẫn liên tục sanh khởi, không thể nào bị lâm vào sự cạn kiệt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Tâu đại vương, nếu một người có thể hướng tâm đến việc thiện đã làm thậm chí cả một trăm năm, khi được liên tục hướng tâm thì thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Đối với người ấy, thiện ấy có thể san sẻ cho những người mong mỏi như thế ấy. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy thiện là dồi dào hơn.
Tâu đại vương, trái lại người đang làm việc bất thiện thì về sau có sự ân hận; đối với người có sự ân hận, thì tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, giống như chút ít nước đang rơi xuống phía bên trên của dòng sông khô cạn có bãi cát lớn lồi lõm uốn cong khúc khuỷu, thì tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đang làm việc bất thiện, tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy bất thiện là ít ỏi.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hồi hướng đến quyến thuộc đã quá vãng là thứ tư.
“Bhante nāgasena, ime dāyakā dānaṁ datvā pubbapetānaṁ ādisanti ‘idaṁ tesaṁ pāpuṇātū’ti, api nu te kiñci tatonidānaṁ vipākaṁ paṭilabhantī”ti?
“Keci, mahārāja, paṭilabhanti, keci nappaṭilabhantī”ti.
“Ke, bhante, paṭilabhanti, ke nappaṭilabhantī”ti?
“Nirayūpapannā, mahārāja, nappaṭilabhanti, saggagatā nappaṭilabhanti, tiracchānayonigatā nappaṭilabhanti, catunnaṁ petānaṁ tayo petā nappaṭilabhanti vantāsikā khuppipāsino nijjhāmataṇhikā, labhanti petā paradattūpajīvino, tepi saramānāyeva labhantī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, dāyakānaṁ dānaṁ visositaṁ hoti aphalaṁ, yesaṁ uddissa kataṁ yadi te nappaṭilabhantī”ti?
“Na hi taṁ, mahārāja, dānaṁ aphalaṁ hoti avipākaṁ, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavantī”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, kāraṇena maṁ saññāpehī”ti.
“Idha, mahārāja, keci manussā macchamaṁsasurābhattakhajjakāni paṭiyādetvā ñātikulaṁ gacchanti, yadi te ñātakā taṁ upāyanaṁ na sampaṭiccheyyuṁ, api nu taṁ upāyanaṁ visositaṁ gaccheyya vinasseyya vā”ti?
“Na hi, bhante, sāmikānaṁyeva taṁ hotī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavanti.
Yathā pana, mahārāja, puriso gabbhaṁ paviṭṭho asati purato nikkhamanamukhe kena nikkhameyyā”ti.
“Paviṭṭheneva, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavantī”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmi, dāyakāyeva tassa phalaṁ anubhavanti, na mayaṁ taṁ kāraṇaṁ vilomemāti.
(…)
Bhante nāgasena, yadi imesaṁ dāyakānaṁ dinnadānaṁ pubbapetānaṁ pāpuṇāti, te ca tassa vipākaṁ anubhavanti.
Tena hi yo pāṇātipātī luddo lohitapāṇī paduṭṭhamanasaṅkappo manusse ghātetvā dāruṇaṁ kammaṁ katvā pubbapetānaṁ ādiseyya ‘imassa me kammassa vipāko pubbapetānaṁ pāpuṇātū’ti, api nu tassa vipāko pubbapetānaṁ pāpuṇātī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Bhante nāgasena, ko tattha hetu kiṅkāraṇaṁ, yena kusalaṁ pāpuṇāti akusalaṁ na pāpuṇātī”ti?
“Neso, mahārāja, pañho pucchitabbo, mā ca tvaṁ, mahārāja, ‘visajjako atthī’ti apucchitabbaṁ pucchi, ‘kissa ākāso nirālambo, kissa gaṅgā uddhammukhā na sandati, kissa ime manussā ca dijā ca dvipadā migā catuppadā’ti tampi maṁ tvaṁ pucchissasī”ti.
“Nāhaṁ taṁ, bhante nāgasena, vihesāpekkho pucchāmi, api ca nibbāhanatthāya sandehassa pucchāmi, bahū manussā loke vāmagāmino vicakkhukā, ‘kinti te otāraṁ na labheyyun’ti evāhaṁ taṁ pucchāmī”ti.
“Na sakkā, mahārāja, saha akatena ananumatena saha pāpaṁ kammaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā, mahārāja, manussā udakanibbāhanena udakaṁ suvidūrampi haranti, api nu, mahārāja, sakkā ghanamahāselapabbato nibbāhanena yathicchitaṁ haritun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, sakkā telena padīpo jāletuṁ, api nu, mahārāja, sakkā udakena padīpo jāletun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, kassakā taḷākato udakaṁ nīharitvā dhaññaṁ paripācenti, api nu kho, mahārāja, sakkā mahāsamuddato udakaṁ nīharitvā dhaññaṁ paripācetun”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajitun”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena sakkā kusalaṁ saṁvibhajituṁ, na sakkā akusalaṁ saṁvibhajituṁ?
Kāraṇena maṁ saññāpehi, nāhaṁ andho anāloko sutvā vedissāmī”ti.
“Akusalaṁ, mahārāja, thokaṁ, kusalaṁ bahukaṁ, thokattā akusalaṁ kattāraṁyeva pariyādiyati, bahukattā kusalaṁ sadevakaṁ lokaṁ ajjhottharatī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, parittaṁ ekaṁ udakabindu pathaviyaṁ nipateyya, api nu kho taṁ, mahārāja, udakabindu dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā”ti?
“Na hi, bhante, yattha taṁ udakabindu nipatitaṁ, tattheva pariyādiyatī”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Parittattā, bhante, udakabindussā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, parittaṁ akusalaṁ parittattā kattāraṁyeva pariyādiyati, na sakkā saṁvibhajituṁ.
Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivasseyya tappayanto dharaṇitalaṁ, api nu kho so, mahārāja, mahāmegho samantato otthareyyā”ti?
“Āma, bhante, pūrayitvā so mahāmegho sobbhasarasaritasākhākandarapadaradahataḷākaudapānapokkharaṇiyo dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā”ti.
“Kena kāraṇena, mahārājā”ti?
“Mahantattā, bhante, meghassā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, kusalaṁ bahukaṁ, bahukattā sakkā devamanussehipi saṁvibhajitun”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena akusalaṁ thokaṁ kusalaṁ bahutaran”ti?
“Idha, mahārāja, yo koci dānaṁ deti, sīlaṁ samādiyati, uposathakammaṁ karoti, so haṭṭho pahaṭṭho hasito pamudito pasannamānaso vedajāto hoti, tassa aparāparaṁ pīti uppajjati, pītimanassa bhiyyo bhiyyo kusalaṁ pavaḍḍhati.
Yathā, mahārāja, udapāne bahusalilasampuṇṇe ekena desena udakaṁ paviseyya, ekena nikkhameyya, nikkhamantepi aparāparaṁ uppajjati, na sakkā hoti khayaṁ pāpetuṁ;
evameva kho, mahārāja, kusalaṁ bhiyyo bhiyyo pavaḍḍhati.
Vassasatepi ce, mahārāja, puriso kataṁ kusalaṁ āvajjeyya, āvajjite āvajjite bhiyyo bhiyyo kusalaṁ pavaḍḍhati.
Tassa taṁ kusalaṁ sakkā hoti yathicchakehi saddhiṁ saṁvibhajituṁ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena kusalaṁ bahutaraṁ.
Akusalaṁ pana, mahārāja, karonto pacchā vippaṭisārī hoti, vippaṭisārino cittaṁ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati.
Yathā, mahārāja, sukkhāya nadiyā mahāpuḷināya unnatāvanatāya kuṭilasaṅkuṭilāya uparito parittaṁ udakaṁ āgacchantaṁ hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati.
Evameva kho, mahārāja, akusalaṁ karontassa cittaṁ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṁ, yena kāraṇena akusalaṁ thokan”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Pubbapetādisapañho catuttho.