BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái nào trội hơn, mạnh hơn, thiện hay là bất thiện?”
“Tâu đại vương, thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận lời nói ấy: ‘Thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây được thấy những kẻ giết hại mạng sống, lấy vật chưa được cho, có hành vi sai trái trong các dục, nói lời dối trá, tàn phá làng mạc, quân cướp đường, gian lận, lường gạt, tất cả những kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm tương xứng với tội ác, những ai làm điều ác ban đêm thì gánh chịu hậu quả ngay trong đêm, những ai làm ban đêm thì gánh chịu trong ngày (kế), những ai làm ban ngày thì gánh chịu ngay trong đêm, những ai đã trải qua hai ba ngày thì gánh chịu hai ba ngày, tất cả những người ấy đều gánh chịu hậu quả ngay trong hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, trái lại có phải có người nào đó sau khi bố thí vật thí có cả vật phụ tùng đến một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, hoặc bốn vị, hoặc năm vị, hoặc mười vị, hoặc một trăm vị, hoặc một ngàn vị, hoặc một trăm ngàn vị, thì trở thành người hưởng thụ của cải, hoặc danh tiếng, hoặc an lạc, nhờ vào giới hoặc việc hành trai giới trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, có bốn người sau khi bố thí vật thí, sau khi thọ trì giới, sau khi thực hiện việc hành trai giới thì đạt đến danh vọng ở thành phố của chư Thiên bằng chính cơ thể thân xác ấy ngay trong thời hiện tại.”
BJT 2“Thưa ngài, ai và ai vậy?”
“Tâu đại vương, đức vua Mandhātā, đức vua Nimi, đức vua Sādhīna, và Càn-thát-bà Guttila.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy rõ ràng là đã trải qua nhiều ngàn đời. Điều ấy cũng là vượt ngoài tầm nhìn của hai chúng ta. Nếu ngài có khả năng, xin ngài hãy nói về cuộc đời đang còn tiếp diễn, vào thời điểm đang còn đức Thế Tôn.”
“Tâu đại vương, thậm chí ở cuộc đời đang còn tiếp diễn, kẻ nô lệ Puṇṇaka sau khi dâng vật thực đến trưởng lão Sāriputta thì đã đạt đến địa vị nhà triệu phú ngay trong ngày ấy, vị ấy hiện nay đã được biết là: ‘Triệu phú Puṇṇaka.’ Hoàng hậu Gopālamātā sau khi bán mái tóc của chính mình, với tám đồng tiền nhận được đã dâng đồ ăn khất thực đến trưởng lão Mahākaccāyana, (cùng với bảy vị khác) và bản thân ngài là vị thứ tám, thì đã đạt được ngôi vị hoàng hậu chánh cung của đức vua Udena ngay trong ngày ấy. Nữ cư sĩ Suppiyā sau khi đã dâng nước xúp nấu với thịt đùi của chính mình đến một vị tỳ khưu bệnh nọ, thì ngay trong ngày thứ nhì vết thương đã được liền lại, có làn da đẹp, đã được hết bệnh.
Mallikādevī, sau khi dâng phần cháo chua của đêm hôm qua đến đức Thế Tôn, đã trở thành hoàng hậu chánh cung của đức vua Kosala ngay trong ngày ấy. Người thợ làm tràng hoa Sumana, sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tám nắm hoa nhài, đã đạt được sự thành tựu lớn lao ngay trong ngày ấy. Vị Bà-la-môn Ekasāṭaka (có độc một tấm vải che thân), sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tấm vải khoác ngoài, đã đạt được tất cả mỗi thứ tám món ngay trong ngày ấy. Tâu đại vương, tất cả những người này cũng đã hưởng thụ của cải và danh vọng ở thời hiện tại.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, sau khi chọn lựa và tìm kiếm, có phải ngài đã thấy chỉ có sáu người?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, bởi vì chỉ trong một ngày trẫm nhìn thấy mười người nam, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Trẫm nhìn thấy trăm người nam, ngàn người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, người con trai của vị tướng quân thuộc dòng họ Nanda có tên là Bhaddasāla. Cuộc chiến đấu giữa vị ấy và đức vua Candagutta đã diễn ra ác liệt. Thưa ngài Nāgasena, hơn nữa trong cuộc chiến đấu ấy, đã có tám mươi thây người cụt đầu ở cả hai đoàn quân. Nghe nói khi một cái giỏ đựng đầu được tràn đầy thì có một thây người cụt đầu đứng dậy. Tất cả những người này lâm vào tai họa và bất hạnh do hậu quả của chính nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, cũng vì lý do này mà trẫm nói rằng: ‘Chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, có phải được nghe là trong thời Giáo Pháp của đức Phật này, vật thí không thể sánh bằng đã được bố thí bởi đức vua Kosala?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có được nghe.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức vua Kosala, sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng ấy, do nhân ấy đã nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc nào đó trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức vua Kosala, thậm chí sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng có hình thức như thế, do nhân ấy đã không nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc trong thời hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.”
BJT 4“Tâu đại vương, vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài. Tâu đại vương, điều này nên được quan sát bằng ví dụ. Tâu đại vương, giống như ở xứ sở Aparanta, có giống lúa tên là kumudabhaṇḍikā sau một tháng thì được gặt rồi đem vào trong nhà. Các lúa sāli chín sau năm sáu tháng. Tâu đại vương, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Giữa lúa kumudabhaṇḍikā và các loại lúa sāli có điều gì là khác biệt?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của lúa kumudabhaṇḍikā, và tính chất rộng lớn của các lúa sāli. Thưa ngài Nāgasena, các lúa sāli là xứng đáng với đức vua, là thực phẩm của đức vua, còn lúa kumudabhaṇḍikā là thực phẩm của các nô bộc và những người làm công việc.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy cái nào chuyển biến mau chóng, cái ấy ở thế gian gọi là trội hơn, mạnh hơn. Do đó, bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, giống như người lính chiến nào đó, sau khi tiến vào cuộc chiến đấu lớn lao vĩ đại, thì nắm lấy kẻ thù ở nách, lôi đi, rồi mau chóng hơn nữa đưa đến các chủ soái, người lính chiến ấy ở thế gian gọi là dũng sĩ tài năng. Và người thầy thuốc nào nhanh chóng lấy ra mũi tên, xua đi cơn bệnh, người thầy thuốc ấy gọi là thông thạo. Người kế toán nào tính toán vô cùng mau lẹ và nhanh chóng phô bày (kết quả), người kế toán ấy gọi là thông thạo. Người võ sĩ nào nhanh chóng nhấc bổng và vật ngã ngửa đối thủ, người võ sĩ ấy gọi là dũng sĩ tài năng. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế cái nào chuyển biến mau chóng, dầu là thiện hay là bất thiện, cái ấy ở thế gian là trội hơn, mạnh hơn.”
BJT 5“Tâu đại vương, luôn cả hai nghiệp ấy đều được cảm thọ trong tương lai. Tuy nhiên, bất thiện do có tội lỗi nên lập tức chịu cảm thọ trong thời hiện tại. Tâu đại vương, các vị Sát-đế-lỵ trước đây đã thành lập quy định này: ‘Kẻ nào giết hại mạng sống, kẻ ấy xứng đáng hình phạt; kẻ nào lấy vật chưa cho, kẻ nào đi đến vợ người khác, kẻ nào nói lời dối trá, kẻ nào tàn phá xóm làng, kẻ nào cướp giật đường xá, kẻ nào thực hiện việc gian lận và lường gạt, kẻ ấy xứng đáng hình phạt, nên bị giết chết, nên bị chém, nên bị phanh (thây), nên bị trừng phạt.’ Căn cứ vào việc ấy, sau khi cân nhắc xét đoán họ gia hình, giết chết, chém, phanh (thây), và trừng phạt. Tâu đại vương, phải chăng có điều quy định đã được thành lập bởi những ai đó rằng: ‘Người nào bố thí vật thí, hoặc gìn giữ giới, hoặc thực hiện việc hành trai giới, thì người ấy sẽ được ban thưởng tài sản hoặc danh vọng’? Phải chăng sau khi cân nhắc xét đoán về việc ấy, họ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng, tương tợ như việc giết chết hoặc giam cầm đối với hành động đã làm của kẻ trộm cướp?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu họ sau khi cân nhắc xét đoán có thể ban thưởng tài sản hoặc danh vọng đến các thí chủ, thì thiện cũng có thể được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, bởi vì họ không cân nhắc về các thí chủ rằng: ‘Chúng ta sẽ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng,’ vì thế thiện không được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, vì lý do này bất thiện chịu cảm thọ trong hiện tại, và kẻ ấy cảm nhận cảm thọ trội hơn, mạnh hơn ngay trong tương lai.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Thiếu vắng bậc có sự giác ngộ như là ngài, câu hỏi này đã không khéo được tháo gỡ. Thưa ngài Nāgasena, việc thuộc về thế gian đã được giảng giải bằng cách vượt trên thế gian.”
Câu hỏi về thiện hay bất thiện mạnh hơn là thứ ba.
“Bhante nāgasena, katamaṁ adhimattaṁ balavataraṁ kusalaṁ vā akusalaṁ vā”ti?
“Kusalaṁ, mahārāja, adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā akusalan”ti.
“Nāhaṁ, bhante nāgasena, taṁ vacanaṁ sampaṭicchāmi ‘kusalaṁ adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā akusalan’ti, dissanti, bhante nāgasena, idha pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino gāmaghātikā panthadūsakā nekatikā vañcanikā, sabbe te tāvatakena pāpena labhanti hatthacchedaṁ pādacchedaṁ hatthapādacchedaṁ kaṇṇacchedaṁ nāsacchedaṁ kaṇṇanāsacchedaṁ bilaṅgathālikaṁ saṅkhamuṇḍikaṁ rāhumukhaṁ jotimālikaṁ hatthapajjotikaṁ erakavattikaṁ cīrakavāsikaṁ eṇeyyakaṁ baḷisamaṁsikaṁ kahāpaṇikaṁ khārāpatacchikaṁ palighaparivattikaṁ palālapīṭhakaṁ tattenapi telena osiñcanaṁ sunakhehipi khādāpanaṁ jīvasūlāropanaṁ asināpi sīsacchedaṁ, keci rattiṁ pāpaṁ katvā rattiṁ yeva vipākaṁ anubhavanti, keci rattiṁ katvā divāyeva anubhavanti, keci divā katvā divāyeva anubhavanti, keci divā katvā rattiṁ yeva anubhavanti, keci dve tayo divase vītivatte anubhavanti, sabbepi te diṭṭheva dhamme vipākaṁ anubhavanti.
Atthi pana, bhante nāgasena, koci ekassa vā dvinnaṁ vā tiṇṇaṁ vā catunnaṁ vā pañcannaṁ vā dasannaṁ vā satassa vā sahassassa vā satasahassassa vā saparivāraṁ dānaṁ datvā diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā anubhavitā sīlena vā uposathakammena vā”ti?
“Atthi, mahārāja, cattāro purisā dānaṁ datvā sīlaṁ samādiyitvā uposathakammaṁ katvā diṭṭheva dhamme teneva sarīradehena tidasapure samanuppattā”ti.
“Ko ca ko ca, bhante”ti?
“Mandhātā, mahārāja, rājā, nimi rājā, sādhīno rājā, guttilo ca gandhabbo”ti.
“Bhante nāgasena, anekehi taṁ bhavasahassehi antaritaṁ, dvinnampetaṁ amhākaṁ parokkhaṁ, yadi samatthosi vattamānake bhave bhagavato dharamānakāle kathehī”ti?
“Vattamānakepi, mahārāja, bhave puṇṇako dāso therassa sāriputtassa bhojanaṁ datvā tadaheva seṭṭhiṭṭhānaṁ ajjhupagato, so etarahi puṇṇako seṭṭhīti paññāyi, gopālamātā devī attano kese vikkiṇitvā laddhehi aṭṭhahi kahāpaṇehi therassa mahākaccāyanassa attaṭṭhamakassa piṇḍapātaṁ datvā tadaheva rañño candapajjotassa aggamahesiṭṭhānaṁ pattā.
Suppiyā upāsikā aññatarassa gilānabhikkhuno attano ūrumaṁsena paṭicchādanīyaṁ datvā dutiyadivaseyeva rūḷhavaṇā sañchavī arogā jātā.
Mallikā devī bhagavato ābhidosikaṁ kummāsapiṇḍaṁ datvā tadaheva rañño kosalassa aggamahesī jātā.
Sumano mālākāro aṭṭhahi sumanapupphamuṭṭhīhi bhagavantaṁ pūjetvā taṁ divasaṁyeva mahāsampattiṁ patto.
Ekasāṭako brāhmaṇo uttarasāṭakena bhagavantaṁ pūjetvā taṁ divasaṁ yeva sabbaṭṭhakaṁ labhi, sabbepete, mahārāja, diṭṭhadhammikaṁ bhogañca yasañca anubhaviṁsū”ti.
“Bhante nāgasena, vicinitvā pariyesitvā cha janeyeva addasāsī”ti.
“Āma, mahārājā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalaṁ.
Ahañhi, bhante nāgasena, ekadivasaṁyeva dasapi purise passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente, vīsampi tiṁsampi cattālīsampi paññāsampi purisasatampi purisasahassampi passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente.
Nandakulassa, bhante nāgasena, bhaddasālo nāma senāpatiputto ahosi.
Tena ca raññā candaguttena saṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhante nāgasena, saṅgāme ubhato balakāye asītikabandharūpāni ahesuṁ, ekasmiṁ kira sīsakabandhe paripāte ekaṁ kabandharūpaṁ uṭṭhahati, sabbepete pāpasseva kammassa vipākena anayabyasanaṁ āpannā.
Imināpi, bhante nāgasena, kāraṇena bhaṇāmi akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalanti.
Suyyati, bhante nāgasena, imasmiṁ buddhasāsane kosalena raññā asadisadānaṁ dinnan”ti?
“Āma, mahārāja, suyyatī”ti.
“Api nu kho, bhante nāgasena, kosalarājā taṁ asadisaṁ dānaṁ datvā tatonidānaṁ kañci diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā paṭilabhī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, kosalarājā evarūpaṁ anuttaraṁ dānaṁ datvāpi na labhi tatonidānaṁ kañci diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā, tena hi, bhante nāgasena, akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalan”ti.
“Parittattā, mahārāja, akusalaṁ khippaṁ pariṇamati, vipulattā kusalaṁ dīghena kālena pariṇamati, upamāyapi, mahārāja, etaṁ upaparikkhitabbaṁ.
Yathā, mahārāja, aparante janapade kumudabhaṇḍikā nāma dhaññajāti māsalūnā antogehagatā hoti, sālayo chappañcamāsehi pariṇamanti, kiṁ panettha, mahārāja, antaraṁ ko viseso kumudabhaṇḍikāya ca sālīnañcā”ti?
“Parittattā, bhante, kumudabhaṇḍikāya, vipulattā ca sālīnaṁ.
Sālayo, bhante nāgasena, rājārahā rājabhojanaṁ, kumudabhaṇḍikā dāsakammakarānaṁ bhojanan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, parittattā akusalaṁ khippaṁ pariṇamati, vipulattā kusalaṁ dīghena kālena pariṇamatī”ti.
“Yaṁ tattha, bhante nāgasena, khippaṁ pariṇamati, taṁ nāma loke adhimattaṁ balavataraṁ, tasmā akusalaṁ balavataraṁ, no tathā kusalaṁ.
Yathā nāma, bhante nāgasena, yo koci yodho mahatimahāyuddhaṁ pavisitvā paṭisattuṁ upakacchake gahetvā ākaḍḍhitvā khippataraṁ sāmino upaneyya, so yodho loke samattho sūro nāma.
Yo ca bhisakko khippaṁ sallaṁ uddharati rogamapaneti, so bhisakko cheko nāma.
Yo gaṇako sīghasīghaṁ gaṇetvā khippaṁ dassayati, so gaṇako cheko nāma.
Yo mallo khippaṁ paṭimallaṁ ukkhipitvā uttānakaṁ pāteti, so mallo samattho sūro nāma.
Evameva kho, bhante nāgasena, yaṁ khippaṁ pariṇamati kusalaṁ vā akusalaṁ vā, taṁ loke adhimattaṁ balavataran”ti.
“Ubhayampi taṁ, mahārāja, kammaṁ samparāyavedanīyameva, api ca kho akusalaṁ sāvajjatāya khaṇena diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, pubbakehi, mahārāja, khattiyehi ṭhapito eso niyamo ‘yo pāṇaṁ hanati, so daṇḍāraho … yo adinnaṁ ādiyati … yo paradāraṁ gacchati … yo musā bhaṇati … yo gāmaṁ ghāteti … yo panthaṁ dūseti … yo nikatiṁ karoti … yo vañcanaṁ karoti, so daṇḍāraho vadhitabbo chettabbo bhettabbo hantabbo’ti.
Taṁ te upādāya vicinitvā vicinitvā daṇḍenti vadhenti chindanti bhindanti hananti ca, api nu, mahārāja, atthi kehici ṭhapito niyamo ‘yo dānaṁ vā deti, sīlaṁ vā rakkhati, uposathakammaṁ vā karoti, tassa dhanaṁ vā yasaṁ vā dātabban’ti;
api nu taṁ vicinitvā vicinitvā dhanaṁ vā yasaṁ vā denti, corassa katakammassa vadhabandhanaṁ viyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yadi, mahārāja, dāyakānaṁ vicinitvā vicinitvā dhanaṁ vā yasaṁ vā dadeyyuṁ, kusalampi diṭṭhadhammavedanīyaṁ bhaveyya, yasmā ca kho, mahārāja, dāyake na vicinanti ‘dhanaṁ vā yasaṁ vā dassāmā’ti, tasmā kusalaṁ na diṭṭhadhammavedanīyaṁ.
Iminā, mahārāja, kāraṇena akusalaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, samparāyeva so adhimattaṁ balavataraṁ vedanaṁ vedayatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, tavādisena buddhimantena vinā neso pañho sunibbeṭhiyo, lokikaṁ, bhante nāgasena, lokuttarena viññāpitan”ti.
Kusalākusalabalavatarapañho tatiyo.
PTS cs 24 ‘Venerable Nāgasena, which is the more powerful, virtue or vice?’
‘Virtue, O king.’
‘That is a saying, Nāgasena, which I cannot believe-that virtue is more powerful than vice. For there are to be seen here (in the world) men who destroy living creatures, who take to themselves what has not been given, who walk in evil in their lusts, who speak lies, who commit gang robberies on whole villages, who are highwaymen, sharpers, and swindlers, and these all according to their crime suffer the cutting off of their hands, or their feet, or their hands and feet, or their ears, or PTS vp En 145 Their nose, or their ears and nose, or the Gruel Pot, or the Chank Crown, or the Rāhu’s Mouth, or the Fire Garland, or the Hand Torch, or the Snake Strips, or the Bark Dress, or the Spotted Antelope, or the Flesh Hooks, or the Penny Cuts, or the Brine Slits, or the Bar Turn, or the Straw Seat, or they are anointed with boiling oil, or eaten by dogs, or are impaled alive, or are beheaded with a sword. Some of them sin one night and that night experience the fruit of their sin, some sinning by night experience the next day, some sinning one day experience that day, some sinning by day experience that night, some experience when two days or three have elapsed. But all experience in this present visible world the result of their iniquity. And is there any one, Nāgasena, who from having provided a meal with all its accessories for one, or two, or three, or four, or five, or ten, or a hundred, or a thousand (members of the Order), has enjoyed in this present visible world wealth or fame or happiness—(is there any one who) from righteousness of life, or from observance of the Uposatha, (has received bliss even in this life)?’
PTS cs 25 ‘There are PTS vp Pali 291 , O king, four men who by giving gifts, and by the practice of uprightness, and by the keeping of Uposatha, even in their earthly bodies attained to glory in Tidasapura (the city of the gods).’ PTS vp En 146
‘And who, Sir, were they ?’
‘Mandhātā the king, and Nimi the king, and Sādhīna the king, and Guttila the musician.’
‘Venerable Nāgasena, this happened thousands of births ago, and is beyond the ken of either of us two. Give me, if you can, some examples from that period (of the world) which is now elapsing in which the Blessed One has been alive.’
‘In this present period, O king, the slave Puṇṇaka, on giving a meal to Sāriputta the Elder, attained that day to the dignity of a treasurer (Seṭṭhi), and he is now generally known as Puṇṇaka the Seṭṭhi. The queen, the mother of Gopāla, who (being the daughter of poor peasant folk) sold her hair for eight pennies, and therewith gave a meal to Mahā Kaccāyana the Elder and his seven companions, became that very day the chief queen of king Udena. Suppiyā, the believing woman, cut flesh from her own thigh to provide broth for a sick Bhikkhu, and on the very next day the wound closed up, and the place became cured, with skin grown over it. Mallikā, the queen who (when a poor flower girl) gave the last night’s gruel (she had reserved for her own dinner) to the Blessed One, became that very day the chief queen of the king of Kosala. Sumana, the garland maker, when he had PTS vp En 147 presented to the Blessed One eight bunches of jessamine flowers, came that very day into great prosperity. Eka-sāṭaka the Brahman, who gave to the Blessed One his only garment, received that very day the office of Sabbaṭṭhaka (Minister in general). All these, O king, came into the enjoyment of wealth and glory in their then existing lives.’
‘So then, Nāgasena, with all your searching and enquiry you have only found six cases ?’
‘That is so, O king.’
PTS cs 26 ‘Then it is vice, Nāgasena, and not virtue which is the more powerful. For on one day alone I have seen ten men expiating their crimes by being impaled alive, and thirty even, and forty, and fifty, PTS vp Pali 292 , and a hundred, and a thousand. And further, there was Bhaddasāla, the soldier in the service of the royal family of Nanda, and he waged war against king candagutta. Now in that war, Nāgasena, there were eighty Corpse Dances. For they say that when one great Head Holocaust has taken place (by which is meant the slaughter of ten thousand elephants, and a lac of horses, and five thousand charioteers, and a hundred koṭis of soldiers on foot), then the headless corpses arise and dance in frenzy over the battle-field. And all the men PTS vp En 148 thus slain came to destruction through the fruit of the Karma of their evil deeds. And therefore, too, do I say, Nāgasena, that vice is more powerful than virtue. And have you heard, Nāgasena, that in all this dispensation (since the time of Gotama the Buddha) the giving by the Kosala king has been unequalled?’
‘Yes, I have heard so, O king.’
‘But did he, Nāgasena, on account of his having given gifts so unequalled, receive in this present life wealth, or glory, or happiness?’
‘No, O king, he did not.’
‘Then, in that case, surely, Nāgasena, vice is more powerful than virtue?’
PTS cs 27 ‘Vice, O king, by reason of its meanness, dies quickly away. But virtue, by reason of its grandeur, takes a long time to die. And this can be further examined into by a metaphor. just, O king, as in the West Country the kind of corn called Kumuda-bhaṇḍikā, ripening quickly and being garnered in a month, is called Māsalu (got in a month), but the rices only come to perfection in six months or five. What then is the difference, what the distinction herein between Kumuda-bhaṇḍikā and rice?
‘The one is a mean plant, Sir, the other a grand one. The rices are worthy of kings, meet for PTS vp En 149 The king’s table; the other is the food of servants and of slaves.
PTS vp Pali 293 ‘Just so, O king, it is by reason of its meanness that vice dies quickly away. But virtue, by its grandeur, takes a long time to die.’
PTS cs 28 ‘But, Nāgasena, it is just those things which come most quickly to their end which are in the world considered the most powerful. And so still vice must be the more powerful, not virtue. just, Nāgasena, as the strong man who, when he enters into a terrible battle, is able the most quickly to get hold of his enemies’ heads under his armpit, and dragging them along to bring them prisoners to his lord, that is the champion who is regarded, in the world, as the ablest hero—just as that surgeon who is able the most quickly to extract the dart, and allay the disease, is considered the most clever—just as the accountant who is able with the greatest speed to make his calculations, and with most rapidity to show the result, is considered the cleverest counter—just as the wrestler who is able the most quickly to lift his opponent up, and make him fall flat on his back, is considered the ablest hero—just so, Nāgasena, it is that one of these two things—virtue and vice—which most quickly reaches its end that is, in the world, the more powerful of the two.’
‘The Karma of both the two, O king, will be made evident in future births; but vice besides that will by reason of its guilt be made evident at once, and in this present life. The rulers (Kshatriyas) PTS vp En 150 of old, O king, established this decree: “Whosoever takes life shall be subject to a fine, and whosoever takes to himself what has not been given, and whosoever commits adultery,, and whosoever speaks lies, and whosoever is a dacoit, and whosoever is a highwayman, and whosoever cheats and swindles. Such men shall be liable to be fined or beaten or mutilated or broken or executed.” And in pursuance thereof they held repeated enquiry, and then adjudged one or other punishment accordingly. But, O king, has there ever been by any one a decree promulgated: “Whosoever gives gifts, or observes a virtuous life, or keeps Uposatha, to him shall wealth be given, or honours?” And do they make continued enquiry, and bestow wealth or honours accordingly, as they do stripes or bonds upon a thief?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Well, if they did so then would virtue too be made evident even in this life. PTS vp Pali 294 But as they neither make such enquiry concerning givers, nor bestow wealth and honours upon them, therefore is virtue not manifested now. And this is the reason, O king, why vice is made known in this life, whereas he (the giver) receives the more abundantly in the lives to come. And therefore it is virtue which, through the distinctions brought about by Karma, is by far the more powerful of the two.’
‘Very good, Nāgasena! Only by one wise as you could this puzzle have been so well solved. PTS vp En 151 the problem put by me in worldly sense have you in transcendental sense made clear.’
Here ends the dilemma as to virtue and vice.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái nào trội hơn, mạnh hơn, thiện hay là bất thiện?”
“Tâu đại vương, thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận lời nói ấy: ‘Thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây được thấy những kẻ giết hại mạng sống, lấy vật chưa được cho, có hành vi sai trái trong các dục, nói lời dối trá, tàn phá làng mạc, quân cướp đường, gian lận, lường gạt, tất cả những kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm tương xứng với tội ác, những ai làm điều ác ban đêm thì gánh chịu hậu quả ngay trong đêm, những ai làm ban đêm thì gánh chịu trong ngày (kế), những ai làm ban ngày thì gánh chịu ngay trong đêm, những ai đã trải qua hai ba ngày thì gánh chịu hai ba ngày, tất cả những người ấy đều gánh chịu hậu quả ngay trong hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, trái lại có phải có người nào đó sau khi bố thí vật thí có cả vật phụ tùng đến một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, hoặc bốn vị, hoặc năm vị, hoặc mười vị, hoặc một trăm vị, hoặc một ngàn vị, hoặc một trăm ngàn vị, thì trở thành người hưởng thụ của cải, hoặc danh tiếng, hoặc an lạc, nhờ vào giới hoặc việc hành trai giới trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, có bốn người sau khi bố thí vật thí, sau khi thọ trì giới, sau khi thực hiện việc hành trai giới thì đạt đến danh vọng ở thành phố của chư Thiên bằng chính cơ thể thân xác ấy ngay trong thời hiện tại.”
BJT 2“Thưa ngài, ai và ai vậy?”
“Tâu đại vương, đức vua Mandhātā, đức vua Nimi, đức vua Sādhīna, và Càn-thát-bà Guttila.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy rõ ràng là đã trải qua nhiều ngàn đời. Điều ấy cũng là vượt ngoài tầm nhìn của hai chúng ta. Nếu ngài có khả năng, xin ngài hãy nói về cuộc đời đang còn tiếp diễn, vào thời điểm đang còn đức Thế Tôn.”
“Tâu đại vương, thậm chí ở cuộc đời đang còn tiếp diễn, kẻ nô lệ Puṇṇaka sau khi dâng vật thực đến trưởng lão Sāriputta thì đã đạt đến địa vị nhà triệu phú ngay trong ngày ấy, vị ấy hiện nay đã được biết là: ‘Triệu phú Puṇṇaka.’ Hoàng hậu Gopālamātā sau khi bán mái tóc của chính mình, với tám đồng tiền nhận được đã dâng đồ ăn khất thực đến trưởng lão Mahākaccāyana, (cùng với bảy vị khác) và bản thân ngài là vị thứ tám, thì đã đạt được ngôi vị hoàng hậu chánh cung của đức vua Udena ngay trong ngày ấy. Nữ cư sĩ Suppiyā sau khi đã dâng nước xúp nấu với thịt đùi của chính mình đến một vị tỳ khưu bệnh nọ, thì ngay trong ngày thứ nhì vết thương đã được liền lại, có làn da đẹp, đã được hết bệnh.
Mallikādevī, sau khi dâng phần cháo chua của đêm hôm qua đến đức Thế Tôn, đã trở thành hoàng hậu chánh cung của đức vua Kosala ngay trong ngày ấy. Người thợ làm tràng hoa Sumana, sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tám nắm hoa nhài, đã đạt được sự thành tựu lớn lao ngay trong ngày ấy. Vị Bà-la-môn Ekasāṭaka (có độc một tấm vải che thân), sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tấm vải khoác ngoài, đã đạt được tất cả mỗi thứ tám món ngay trong ngày ấy. Tâu đại vương, tất cả những người này cũng đã hưởng thụ của cải và danh vọng ở thời hiện tại.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, sau khi chọn lựa và tìm kiếm, có phải ngài đã thấy chỉ có sáu người?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, bởi vì chỉ trong một ngày trẫm nhìn thấy mười người nam, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Trẫm nhìn thấy trăm người nam, ngàn người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, người con trai của vị tướng quân thuộc dòng họ Nanda có tên là Bhaddasāla. Cuộc chiến đấu giữa vị ấy và đức vua Candagutta đã diễn ra ác liệt. Thưa ngài Nāgasena, hơn nữa trong cuộc chiến đấu ấy, đã có tám mươi thây người cụt đầu ở cả hai đoàn quân. Nghe nói khi một cái giỏ đựng đầu được tràn đầy thì có một thây người cụt đầu đứng dậy. Tất cả những người này lâm vào tai họa và bất hạnh do hậu quả của chính nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, cũng vì lý do này mà trẫm nói rằng: ‘Chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, có phải được nghe là trong thời Giáo Pháp của đức Phật này, vật thí không thể sánh bằng đã được bố thí bởi đức vua Kosala?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có được nghe.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức vua Kosala, sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng ấy, do nhân ấy đã nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc nào đó trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức vua Kosala, thậm chí sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng có hình thức như thế, do nhân ấy đã không nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc trong thời hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.”
BJT 4“Tâu đại vương, vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài. Tâu đại vương, điều này nên được quan sát bằng ví dụ. Tâu đại vương, giống như ở xứ sở Aparanta, có giống lúa tên là kumudabhaṇḍikā sau một tháng thì được gặt rồi đem vào trong nhà. Các lúa sāli chín sau năm sáu tháng. Tâu đại vương, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Giữa lúa kumudabhaṇḍikā và các loại lúa sāli có điều gì là khác biệt?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của lúa kumudabhaṇḍikā, và tính chất rộng lớn của các lúa sāli. Thưa ngài Nāgasena, các lúa sāli là xứng đáng với đức vua, là thực phẩm của đức vua, còn lúa kumudabhaṇḍikā là thực phẩm của các nô bộc và những người làm công việc.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy cái nào chuyển biến mau chóng, cái ấy ở thế gian gọi là trội hơn, mạnh hơn. Do đó, bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, giống như người lính chiến nào đó, sau khi tiến vào cuộc chiến đấu lớn lao vĩ đại, thì nắm lấy kẻ thù ở nách, lôi đi, rồi mau chóng hơn nữa đưa đến các chủ soái, người lính chiến ấy ở thế gian gọi là dũng sĩ tài năng. Và người thầy thuốc nào nhanh chóng lấy ra mũi tên, xua đi cơn bệnh, người thầy thuốc ấy gọi là thông thạo. Người kế toán nào tính toán vô cùng mau lẹ và nhanh chóng phô bày (kết quả), người kế toán ấy gọi là thông thạo. Người võ sĩ nào nhanh chóng nhấc bổng và vật ngã ngửa đối thủ, người võ sĩ ấy gọi là dũng sĩ tài năng. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế cái nào chuyển biến mau chóng, dầu là thiện hay là bất thiện, cái ấy ở thế gian là trội hơn, mạnh hơn.”
BJT 5“Tâu đại vương, luôn cả hai nghiệp ấy đều được cảm thọ trong tương lai. Tuy nhiên, bất thiện do có tội lỗi nên lập tức chịu cảm thọ trong thời hiện tại. Tâu đại vương, các vị Sát-đế-lỵ trước đây đã thành lập quy định này: ‘Kẻ nào giết hại mạng sống, kẻ ấy xứng đáng hình phạt; kẻ nào lấy vật chưa cho, kẻ nào đi đến vợ người khác, kẻ nào nói lời dối trá, kẻ nào tàn phá xóm làng, kẻ nào cướp giật đường xá, kẻ nào thực hiện việc gian lận và lường gạt, kẻ ấy xứng đáng hình phạt, nên bị giết chết, nên bị chém, nên bị phanh (thây), nên bị trừng phạt.’ Căn cứ vào việc ấy, sau khi cân nhắc xét đoán họ gia hình, giết chết, chém, phanh (thây), và trừng phạt. Tâu đại vương, phải chăng có điều quy định đã được thành lập bởi những ai đó rằng: ‘Người nào bố thí vật thí, hoặc gìn giữ giới, hoặc thực hiện việc hành trai giới, thì người ấy sẽ được ban thưởng tài sản hoặc danh vọng’? Phải chăng sau khi cân nhắc xét đoán về việc ấy, họ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng, tương tợ như việc giết chết hoặc giam cầm đối với hành động đã làm của kẻ trộm cướp?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu họ sau khi cân nhắc xét đoán có thể ban thưởng tài sản hoặc danh vọng đến các thí chủ, thì thiện cũng có thể được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, bởi vì họ không cân nhắc về các thí chủ rằng: ‘Chúng ta sẽ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng,’ vì thế thiện không được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, vì lý do này bất thiện chịu cảm thọ trong hiện tại, và kẻ ấy cảm nhận cảm thọ trội hơn, mạnh hơn ngay trong tương lai.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Thiếu vắng bậc có sự giác ngộ như là ngài, câu hỏi này đã không khéo được tháo gỡ. Thưa ngài Nāgasena, việc thuộc về thế gian đã được giảng giải bằng cách vượt trên thế gian.”
Câu hỏi về thiện hay bất thiện mạnh hơn là thứ ba.
“Bhante nāgasena, katamaṁ adhimattaṁ balavataraṁ kusalaṁ vā akusalaṁ vā”ti?
“Kusalaṁ, mahārāja, adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā akusalan”ti.
“Nāhaṁ, bhante nāgasena, taṁ vacanaṁ sampaṭicchāmi ‘kusalaṁ adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā akusalan’ti, dissanti, bhante nāgasena, idha pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino gāmaghātikā panthadūsakā nekatikā vañcanikā, sabbe te tāvatakena pāpena labhanti hatthacchedaṁ pādacchedaṁ hatthapādacchedaṁ kaṇṇacchedaṁ nāsacchedaṁ kaṇṇanāsacchedaṁ bilaṅgathālikaṁ saṅkhamuṇḍikaṁ rāhumukhaṁ jotimālikaṁ hatthapajjotikaṁ erakavattikaṁ cīrakavāsikaṁ eṇeyyakaṁ baḷisamaṁsikaṁ kahāpaṇikaṁ khārāpatacchikaṁ palighaparivattikaṁ palālapīṭhakaṁ tattenapi telena osiñcanaṁ sunakhehipi khādāpanaṁ jīvasūlāropanaṁ asināpi sīsacchedaṁ, keci rattiṁ pāpaṁ katvā rattiṁ yeva vipākaṁ anubhavanti, keci rattiṁ katvā divāyeva anubhavanti, keci divā katvā divāyeva anubhavanti, keci divā katvā rattiṁ yeva anubhavanti, keci dve tayo divase vītivatte anubhavanti, sabbepi te diṭṭheva dhamme vipākaṁ anubhavanti.
Atthi pana, bhante nāgasena, koci ekassa vā dvinnaṁ vā tiṇṇaṁ vā catunnaṁ vā pañcannaṁ vā dasannaṁ vā satassa vā sahassassa vā satasahassassa vā saparivāraṁ dānaṁ datvā diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā anubhavitā sīlena vā uposathakammena vā”ti?
“Atthi, mahārāja, cattāro purisā dānaṁ datvā sīlaṁ samādiyitvā uposathakammaṁ katvā diṭṭheva dhamme teneva sarīradehena tidasapure samanuppattā”ti.
“Ko ca ko ca, bhante”ti?
“Mandhātā, mahārāja, rājā, nimi rājā, sādhīno rājā, guttilo ca gandhabbo”ti.
“Bhante nāgasena, anekehi taṁ bhavasahassehi antaritaṁ, dvinnampetaṁ amhākaṁ parokkhaṁ, yadi samatthosi vattamānake bhave bhagavato dharamānakāle kathehī”ti?
“Vattamānakepi, mahārāja, bhave puṇṇako dāso therassa sāriputtassa bhojanaṁ datvā tadaheva seṭṭhiṭṭhānaṁ ajjhupagato, so etarahi puṇṇako seṭṭhīti paññāyi, gopālamātā devī attano kese vikkiṇitvā laddhehi aṭṭhahi kahāpaṇehi therassa mahākaccāyanassa attaṭṭhamakassa piṇḍapātaṁ datvā tadaheva rañño candapajjotassa aggamahesiṭṭhānaṁ pattā.
Suppiyā upāsikā aññatarassa gilānabhikkhuno attano ūrumaṁsena paṭicchādanīyaṁ datvā dutiyadivaseyeva rūḷhavaṇā sañchavī arogā jātā.
Mallikā devī bhagavato ābhidosikaṁ kummāsapiṇḍaṁ datvā tadaheva rañño kosalassa aggamahesī jātā.
Sumano mālākāro aṭṭhahi sumanapupphamuṭṭhīhi bhagavantaṁ pūjetvā taṁ divasaṁyeva mahāsampattiṁ patto.
Ekasāṭako brāhmaṇo uttarasāṭakena bhagavantaṁ pūjetvā taṁ divasaṁ yeva sabbaṭṭhakaṁ labhi, sabbepete, mahārāja, diṭṭhadhammikaṁ bhogañca yasañca anubhaviṁsū”ti.
“Bhante nāgasena, vicinitvā pariyesitvā cha janeyeva addasāsī”ti.
“Āma, mahārājā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalaṁ.
Ahañhi, bhante nāgasena, ekadivasaṁyeva dasapi purise passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente, vīsampi tiṁsampi cattālīsampi paññāsampi purisasatampi purisasahassampi passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente.
Nandakulassa, bhante nāgasena, bhaddasālo nāma senāpatiputto ahosi.
Tena ca raññā candaguttena saṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Tasmiṁ kho pana, bhante nāgasena, saṅgāme ubhato balakāye asītikabandharūpāni ahesuṁ, ekasmiṁ kira sīsakabandhe paripāte ekaṁ kabandharūpaṁ uṭṭhahati, sabbepete pāpasseva kammassa vipākena anayabyasanaṁ āpannā.
Imināpi, bhante nāgasena, kāraṇena bhaṇāmi akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalanti.
Suyyati, bhante nāgasena, imasmiṁ buddhasāsane kosalena raññā asadisadānaṁ dinnan”ti?
“Āma, mahārāja, suyyatī”ti.
“Api nu kho, bhante nāgasena, kosalarājā taṁ asadisaṁ dānaṁ datvā tatonidānaṁ kañci diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā paṭilabhī”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, kosalarājā evarūpaṁ anuttaraṁ dānaṁ datvāpi na labhi tatonidānaṁ kañci diṭṭhadhammikaṁ bhogaṁ vā yasaṁ vā sukhaṁ vā, tena hi, bhante nāgasena, akusalaṁyeva adhimattaṁ balavataraṁ, no tathā kusalan”ti.
“Parittattā, mahārāja, akusalaṁ khippaṁ pariṇamati, vipulattā kusalaṁ dīghena kālena pariṇamati, upamāyapi, mahārāja, etaṁ upaparikkhitabbaṁ.
Yathā, mahārāja, aparante janapade kumudabhaṇḍikā nāma dhaññajāti māsalūnā antogehagatā hoti, sālayo chappañcamāsehi pariṇamanti, kiṁ panettha, mahārāja, antaraṁ ko viseso kumudabhaṇḍikāya ca sālīnañcā”ti?
“Parittattā, bhante, kumudabhaṇḍikāya, vipulattā ca sālīnaṁ.
Sālayo, bhante nāgasena, rājārahā rājabhojanaṁ, kumudabhaṇḍikā dāsakammakarānaṁ bhojanan”ti.
“Evameva kho, mahārāja, parittattā akusalaṁ khippaṁ pariṇamati, vipulattā kusalaṁ dīghena kālena pariṇamatī”ti.
“Yaṁ tattha, bhante nāgasena, khippaṁ pariṇamati, taṁ nāma loke adhimattaṁ balavataraṁ, tasmā akusalaṁ balavataraṁ, no tathā kusalaṁ.
Yathā nāma, bhante nāgasena, yo koci yodho mahatimahāyuddhaṁ pavisitvā paṭisattuṁ upakacchake gahetvā ākaḍḍhitvā khippataraṁ sāmino upaneyya, so yodho loke samattho sūro nāma.
Yo ca bhisakko khippaṁ sallaṁ uddharati rogamapaneti, so bhisakko cheko nāma.
Yo gaṇako sīghasīghaṁ gaṇetvā khippaṁ dassayati, so gaṇako cheko nāma.
Yo mallo khippaṁ paṭimallaṁ ukkhipitvā uttānakaṁ pāteti, so mallo samattho sūro nāma.
Evameva kho, bhante nāgasena, yaṁ khippaṁ pariṇamati kusalaṁ vā akusalaṁ vā, taṁ loke adhimattaṁ balavataran”ti.
“Ubhayampi taṁ, mahārāja, kammaṁ samparāyavedanīyameva, api ca kho akusalaṁ sāvajjatāya khaṇena diṭṭhadhammavedanīyaṁ hoti, pubbakehi, mahārāja, khattiyehi ṭhapito eso niyamo ‘yo pāṇaṁ hanati, so daṇḍāraho … yo adinnaṁ ādiyati … yo paradāraṁ gacchati … yo musā bhaṇati … yo gāmaṁ ghāteti … yo panthaṁ dūseti … yo nikatiṁ karoti … yo vañcanaṁ karoti, so daṇḍāraho vadhitabbo chettabbo bhettabbo hantabbo’ti.
Taṁ te upādāya vicinitvā vicinitvā daṇḍenti vadhenti chindanti bhindanti hananti ca, api nu, mahārāja, atthi kehici ṭhapito niyamo ‘yo dānaṁ vā deti, sīlaṁ vā rakkhati, uposathakammaṁ vā karoti, tassa dhanaṁ vā yasaṁ vā dātabban’ti;
api nu taṁ vicinitvā vicinitvā dhanaṁ vā yasaṁ vā denti, corassa katakammassa vadhabandhanaṁ viyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yadi, mahārāja, dāyakānaṁ vicinitvā vicinitvā dhanaṁ vā yasaṁ vā dadeyyuṁ, kusalampi diṭṭhadhammavedanīyaṁ bhaveyya, yasmā ca kho, mahārāja, dāyake na vicinanti ‘dhanaṁ vā yasaṁ vā dassāmā’ti, tasmā kusalaṁ na diṭṭhadhammavedanīyaṁ.
Iminā, mahārāja, kāraṇena akusalaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, samparāyeva so adhimattaṁ balavataraṁ vedanaṁ vedayatī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, tavādisena buddhimantena vinā neso pañho sunibbeṭhiyo, lokikaṁ, bhante nāgasena, lokuttarena viññāpitan”ti.
Kusalākusalabalavatarapañho tatiyo.