“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của cây sālā xinh đẹp nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như cây sālā xinh đẹp tăng trưởng luôn cả ở bên trong trái đất đến hơn một trăm cánh tay. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên làm cho tròn đủ bốn quả vị Sa-môn, bốn Tuệ Phân Tích, sáu Thắng Trí, và toàn bộ pháp Sa-môn ở ngay tại ngôi nhà trống vắng. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của cây sālā xinh đẹp nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Rāhula nói đến:
‘Loài cây có tên sālā xinh đẹp, mọc ở trái đất, tăng trưởng luôn cả ở bên trong trái đất đến một trăm cánh tay.
Giống như vào lúc thời điểm đã đến, với sự trưởng thành cây ấy vươn lên, tăng trưởng thậm chí một trăm cánh tay trong một ngày.
Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, con tiến triển một cách tự nhiên ở ngôi nhà trống vắng, tợ như cây sālā xinh đẹp tăng trưởng ở khoảng không.’”
Câu hỏi về tính chất của cây sālāxinh đẹp là thứ tư.
“Bhante nāgasena, ‘sālakalyāṇikāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, sālakalyāṇikā nāma antopathaviyaṁyeva abhivaḍḍhati hatthasatampi bhiyyopi;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidā chaḷabhiññāyo kevalañca samaṇadhammaṁ suññāgāreyeva paripūrayitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sālakalyāṇikāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena rāhulena—
‘Sālakalyāṇikā nāma,
pādapo dharaṇīruho;
Antopathaviyaṁyeva,
satahatthopi vaḍḍhati.
Yathā kālamhi sampatte,
paripākena so dumo;
Uggañchitvāna ekāhaṁ,
satahatthopi vaḍḍhati.
Evamevāhaṁ mahāvīra,
sālakalyāṇikā viya;
Abbhantare suññāgāre,
dhammato abhivaḍḍhayin’”ti.
Sālakalyāṇikaṅgapañho catuttho.
PTS cs 7 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the Sal-tree which you say he ought to take, which is it?’ PTS vp En 297
‘Just, O king, as the Sal-tree grows within the ground to the depth of a hundred cubits or more; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, perfect in solitude the four Fruits of Samanaship, the four Discriminations, the six forms of transcendental Insight, and all the qualities befitting a recluse. This, O king, is the one quality of the Sal-tree he ought to have. For it was said, O king, by Rāhula, the Elder:
“The tree that’s called the Sal-tree grows above the earth,
And shoots beneath, a hundred cubits deep.
As in the fullness of time, and at its highest growth
That tree shoots in one day a hundred cubits high,
Just so do I, O Buddha, like the Sal,
Increase, in solitude, in inward good.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của cây sālā xinh đẹp nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như cây sālā xinh đẹp tăng trưởng luôn cả ở bên trong trái đất đến hơn một trăm cánh tay. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên làm cho tròn đủ bốn quả vị Sa-môn, bốn Tuệ Phân Tích, sáu Thắng Trí, và toàn bộ pháp Sa-môn ở ngay tại ngôi nhà trống vắng. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của cây sālā xinh đẹp nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Rāhula nói đến:
‘Loài cây có tên sālā xinh đẹp, mọc ở trái đất, tăng trưởng luôn cả ở bên trong trái đất đến một trăm cánh tay.
Giống như vào lúc thời điểm đã đến, với sự trưởng thành cây ấy vươn lên, tăng trưởng thậm chí một trăm cánh tay trong một ngày.
Bạch đấng Đại Hùng, tương tợ y như thế, con tiến triển một cách tự nhiên ở ngôi nhà trống vắng, tợ như cây sālā xinh đẹp tăng trưởng ở khoảng không.’”
Câu hỏi về tính chất của cây sālāxinh đẹp là thứ tư.
“Bhante nāgasena, ‘sālakalyāṇikāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, sālakalyāṇikā nāma antopathaviyaṁyeva abhivaḍḍhati hatthasatampi bhiyyopi;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidā chaḷabhiññāyo kevalañca samaṇadhammaṁ suññāgāreyeva paripūrayitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, sālakalyāṇikāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena rāhulena—
‘Sālakalyāṇikā nāma,
pādapo dharaṇīruho;
Antopathaviyaṁyeva,
satahatthopi vaḍḍhati.
Yathā kālamhi sampatte,
paripākena so dumo;
Uggañchitvāna ekāhaṁ,
satahatthopi vaḍḍhati.
Evamevāhaṁ mahāvīra,
sālakalyāṇikā viya;
Abbhantare suññāgāre,
dhammato abhivaḍḍhayin’”ti.
Sālakalyāṇikaṅgapañho catuttho.