BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của người thuyền trưởng nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người thuyền trưởng, ngày đêm, thường xuyên, liên tục, không xao lãng, gắng sức, ra sức, điều khiển con tàu di chuyển. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, trong khi kiểm soát tâm, nên kiểm soát tâm bằng sự tác ý đúng đường lối, ngày đêm, thường xuyên, liên tục, không xao lãng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người thuyền trưởng nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Pháp Cú:
‘Các ngươi hãy thích thú trong sự không phóng dật, hãy phòng hộ tâm của mình, hãy đưa bản thân ra khỏi chốn khổ đau, tợ như con voi bị vướng trong vũng bùn (cố gắng lê thân ra khỏi bãi lầy).’
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa đối với người thuyền trưởng bất cứ việc gì ở biển cả là tốt hay là xấu, tất cả các điều ấy đều được biết đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên nhận biết thiện hay bất thiện, có tội lỗi hay không tội lỗi, hạ liệt hay cao quý, tối hay sáng hay có sự xen lẫn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người thuyền trưởng nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa người thuyền trưởng đánh dấu ở bộ phận điều khiển (nói rằng): ‘Chớ có người nào chạm đến bộ phận điều khiển.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên làm dấu ấn về sự thu thúc ở tâm rằng: ‘Chớ suy tư về bất cứ suy tư nào ác và bất thiện.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người thuyền trưởng nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ cao quý:
‘Này các tỳ khưu, các ngươi chớ suy tư về các điều suy tư ác và bất thiện, như là sự suy tư về ái dục, sự suy tư về oán hận, sự suy tư về hãm hại.’”
Câu hỏi về tính chất của người thuyền trưởng là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘niyāmakassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, niyāmako rattindivaṁ satataṁ samitaṁ appamatto yattappayatto nāvaṁ sāreti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena cittaṁ niyāmayamānena rattindivaṁ satataṁ samitaṁ appamattena yattappayattena yoniso manasikārena cittaṁ niyāmetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, niyāmakassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dhammapade—
‘Appamādaratā hotha,
sacittamanurakkhatha;
Duggā uddharathattānaṁ,
paṅke sannova kuñjaro’ti.
Puna caparaṁ, mahārāja, niyāmakassa yaṁ kiñci mahāsamudde kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā, sabbaṁ taṁ viditaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kusalākusalaṁ sāvajjānavajjaṁ hīnappaṇītaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgaṁ vijānitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, niyāmakassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, niyāmako yante muddikaṁ deti ‘mā koci yantaṁ āmasitthā’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena citte saṁvaramuddikā dātabbā ‘mā kiñci pāpakaṁ akusalavitakkaṁ vitakkesī’ti, idaṁ, mahārāja, niyāmakassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare—
‘mā, bhikkhave, pāpake akusale vitakke vitakkeyyātha, seyyathidaṁ—
kāmavitakkaṁ byāpādavitakkaṁ vihiṁsāvitakkan’”ti.
Niyāmakaṅgapañho aṭṭhamo.
PTS cs 14 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of the pilot which you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as the pilot, day and night, with PTS vp En 301 continuous and unceasing zeal and effort, navigates his ship; just so, O king, does the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when regulating his mind, continue night and day unceasingly zealous and earnest in regulating his mind by careful thought. This, O king, is the one quality of the pilot he ought to have. For it was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the Dhammapada (the Collection of scripture verses):
“Be full of zeal, watch over your own thoughts;
Raise yourselves up out of the slough of endless births,
As the strong elephant engulphed in depths of mud.”
PTS vp Pali 379 PTS cs 15 ‘And again, O king, as the pilot knows all that is in the sea, whether good or bad; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, know good from evil, and what is an offence from what is not, and what is mean from what is exalted, and what is dark from what is light. This, O king, is the second quality of the pilot he ought to have.
PTS cs 16 ‘And again, O king, as the pilot puts a seal on the steering apparatus lest any one should touch it; so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, put the seal of self-control on his heart, lest any evil or wrong thoughts should arise within it. This is the third quality of the pilot he ought to have. For it was said, O king, by the PTS vp En 302 Blessed One, the god over all gods, in the most excellent Saṁyutta Nikāya:
“Think, O Bhikshus, no evil or wrong thoughts, such as thoughts of lust, or of malice, or of delusion.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của người thuyền trưởng nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như người thuyền trưởng, ngày đêm, thường xuyên, liên tục, không xao lãng, gắng sức, ra sức, điều khiển con tàu di chuyển. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, trong khi kiểm soát tâm, nên kiểm soát tâm bằng sự tác ý đúng đường lối, ngày đêm, thường xuyên, liên tục, không xao lãng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của người thuyền trưởng nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Pháp Cú:
‘Các ngươi hãy thích thú trong sự không phóng dật, hãy phòng hộ tâm của mình, hãy đưa bản thân ra khỏi chốn khổ đau, tợ như con voi bị vướng trong vũng bùn (cố gắng lê thân ra khỏi bãi lầy).’
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa đối với người thuyền trưởng bất cứ việc gì ở biển cả là tốt hay là xấu, tất cả các điều ấy đều được biết đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên nhận biết thiện hay bất thiện, có tội lỗi hay không tội lỗi, hạ liệt hay cao quý, tối hay sáng hay có sự xen lẫn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của người thuyền trưởng nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa người thuyền trưởng đánh dấu ở bộ phận điều khiển (nói rằng): ‘Chớ có người nào chạm đến bộ phận điều khiển.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên làm dấu ấn về sự thu thúc ở tâm rằng: ‘Chớ suy tư về bất cứ suy tư nào ác và bất thiện.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của người thuyền trưởng nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ cao quý:
‘Này các tỳ khưu, các ngươi chớ suy tư về các điều suy tư ác và bất thiện, như là sự suy tư về ái dục, sự suy tư về oán hận, sự suy tư về hãm hại.’”
Câu hỏi về tính chất của người thuyền trưởng là thứ tám.
“Bhante nāgasena, ‘niyāmakassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, niyāmako rattindivaṁ satataṁ samitaṁ appamatto yattappayatto nāvaṁ sāreti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena cittaṁ niyāmayamānena rattindivaṁ satataṁ samitaṁ appamattena yattappayattena yoniso manasikārena cittaṁ niyāmetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, niyāmakassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dhammapade—
‘Appamādaratā hotha,
sacittamanurakkhatha;
Duggā uddharathattānaṁ,
paṅke sannova kuñjaro’ti.
Puna caparaṁ, mahārāja, niyāmakassa yaṁ kiñci mahāsamudde kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā, sabbaṁ taṁ viditaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kusalākusalaṁ sāvajjānavajjaṁ hīnappaṇītaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgaṁ vijānitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, niyāmakassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, niyāmako yante muddikaṁ deti ‘mā koci yantaṁ āmasitthā’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena citte saṁvaramuddikā dātabbā ‘mā kiñci pāpakaṁ akusalavitakkaṁ vitakkesī’ti, idaṁ, mahārāja, niyāmakassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare—
‘mā, bhikkhave, pāpake akusale vitakke vitakkeyyātha, seyyathidaṁ—
kāmavitakkaṁ byāpādavitakkaṁ vihiṁsāvitakkan’”ti.
Niyāmakaṅgapañho aṭṭhamo.