Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả.
Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức loại bỏ tà kiến, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần.
Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.*
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’* như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), loại bỏ tà tư duy. …(như trên)… Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, loại bỏ tà ngữ. …(như trên)… Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, loại bỏ tà nghiệp. …(như trên)… Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, loại bỏ tà mạng. …(như trên)… Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, loại bỏ tà tinh tấn. …(như trên)… Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, loại bỏ tà niệm. …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, loại bỏ tà định, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú;’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái …(như trên)… như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(nt)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Ly tham ái là nhận thức, tức là chánh kiến. Ly tham ái là sự gắn chặt (tâm vào cảnh), tức là chánh tư duy. Ly tham ái là sự gìn giữ, tức là chánh ngữ. Ly tham ái là nguồn sanh khởi, tức là chánh nghiệp. Ly tham ái là sự trong sạch, tức là chánh mạng. Ly tham ái là sự ra sức, tức là chánh tinh tấn. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là chánh niệm. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là chánh định.
Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. Ly tham ái là sự suy xét, tức là trạch pháp giác chi. Ly tham ái là sự ra sức, tức là cần giác chi. Ly tham ái là sự lan tỏa, tức là hỷ giác chi. Ly tham ái là sự an tịnh, tức là tịnh giác chi. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định giác chi. Ly tham ái là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi.
Ly tham ái là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. Ly tham ái là không dao động ở sự biếng nhác, tức là tấn lực. Ly tham ái là không dao động ở sự buông lung, tức là niệm lực. Ly tham ái là không dao động ở sự phóng dật, tức là định lực. Ly tham ái là không dao động ở sự vô minh, tức là tuệ lực.
Ly tham ái là sự cương quyết, tức là tín quyền. Ly tham ái là sự ra sức, tức là tấn quyền. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm quyền. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định quyền. Ly tham ái là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Lực, theo ý nghĩa không thể bị lay chuyển, là ly tham ái. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là ly tham ái. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là ly tham ái. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là ly tham ái. Các chân lý, theo ý nghĩa của thực thể, là ly tham ái. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là ly tham ái. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là ly tham ái. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là ly tham ái. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là ly tham ái. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là ly tham ái. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là ly tham ái. Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, là ly tham ái. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là ly tham ái. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là ly tham ái. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là ly tham ái. Thọ, theo ý nghĩahội tụ, là ly tham ái. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là ly tham ái. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là ly tham ái. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là ly tham ái.
Sự nhận thức là Đạo, tức là chánh kiến. Sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là Đạo, tức là chánh tư duy …nt)… Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là Đạo. Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) như thế.
Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức được giải thoát khỏi tà kiến, được giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), giải thoát khỏi tà tư duy, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, giải thoát khỏi tà ngữ … Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, giải thoát khỏi tà nghiệp … Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, giải thoát khỏi tà mạng … Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, giải thoát khỏi tà tinh tấn … Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, giải thoát khỏi tà niệm … Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, giải thoát khỏi tà định, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, sự giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: …(nt)… giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Giải thoát là sự nhận thức, tức là chánh kiến. …(như trên)… Giải thoát là sự không tản mạn, tức là chánh định. Giải thoát là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. …(như trên)… Giải thoát là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi. Giải thoát là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. …(như trên)… Giải thoát là không dao động ở vô minh, tức là tuệ lực. Giải thoát là sự cương quyết, tức là tín quyền …(như trên)… Giải thoát là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Các lực, theo ý nghĩa không bị dao động, là sự giải thoát. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là sự giải thoát. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là sự giải thoát. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là sự giải thoát. Chánh cần, theo ý nghĩa nỗ lực là sự giải thoát. Các nền tảng của thần thông, theo ý nghĩa thành tựu, là sự giải thoát. Các chân lý, theo ý nghĩa thực thể, là sự giải thoát. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là sự giải thoát. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là sự giải thoát. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là sự giải thoát. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là sự giải thoát. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là sự giải thoát. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là sự giải thoát. Trí về vô thủ, theo ý nghĩa an tịnh, là sự giải thoát. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là sự giải thoát. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là sự giải thoát. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là sự giải thoát. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, là sự giải thoát. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là sự giải thoát. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là sự giải thoát. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là sự giải thoát. Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Phần Giảng về Ly Tham Ái được đầy đủ.
Virāgo maggo, vimutti phalaṁ.
Kathaṁ virāgo maggo?
Sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā virajjati.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya virajjati.
Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā virajjati.
Vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā virajjati.
Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā virajjati.
Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā virajjati.
Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito virajjati.
Tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati.
Bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā.
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo …pe…
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā.
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Dassanavirāgo sammādiṭṭhi.
Abhiniropanavirāgo sammāsaṅkappo.
Pariggahavirāgo sammāvācā.
Samuṭṭhānavirāgo sammākammanto.
Vodānavirāgo sammāājīvo.
Paggahavirāgo sammāvāyāmo.
Upaṭṭhānavirāgo sammāsati.
Avikkhepavirāgo sammāsamādhi.
Upaṭṭhānavirāgo satisambojjhaṅgo.
Pavicayavirāgo dhammavicayasambojjhaṅgo.
Paggahavirāgo vīriyasambojjhaṅgo.
Pharaṇavirāgo pītisambojjhaṅgo.
Upasamavirāgo passaddhisambojjhaṅgo.
Avikkhepavirāgo samādhisambojjhaṅgo.
Paṭisaṅkhānavirāgo upekkhāsambojjhaṅgo.
Assaddhiye akampiyavirāgo saddhābalaṁ.
Kosajje akampiyavirāgo vīriyabalaṁ.
Pamāde akampiyavirāgo satibalaṁ.
Uddhacce akampiyavirāgo samādhibalaṁ.
Avijjāya akampiyavirāgo paññābalaṁ.
Adhimokkhavirāgo saddhindriyaṁ.
Paggahavirāgo vīriyindriyaṁ.
Upaṭṭhānavirāgo satindriyaṁ.
Avikkhepavirāgo samādhindriyaṁ.
Dassanavirāgo paññindriyaṁ.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyāni virāgo.
Akampiyaṭṭhena balaṁ virāgo.
Niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā virāgo.
Hetuṭṭhena maggo virāgo.
Upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā virāgo.
Padahanaṭṭhena sammappadhānā virāgo.
Ijjhanaṭṭhena iddhipādā virāgo.
Tathaṭṭhena saccā virāgo.
Avikkhepaṭṭhena samatho virāgo.
Anupassanaṭṭhena vipassanā virāgo.
Ekarasaṭṭhena samathavipassanā virāgo.
Anativattanaṭṭhena yuganaddhaṁ virāgo.
Saṁvaraṭṭhena sīlavisuddhi virāgo.
Avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi virāgo.
Dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi virāgo.
Vimuttaṭṭhena vimokkho virāgo.
Paṭivedhaṭṭhena vijjā virāgo.
Pariccāgaṭṭhena vimutti virāgo.
Samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṁ virāgo.
Chando mūlaṭṭhena virāgo.
Manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena virāgo.
Phasso samodhānaṭṭhena virāgo.
Vedanā samosaraṇaṭṭhena virāgo.
Samādhi pamukhaṭṭhena virāgo.
Sati ādhipateyyaṭṭhena virāgo.
Paññā taduttaraṭṭhena virāgo.
Vimutti sāraṭṭhena virāgo.
Amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena maggo.
Dassanamaggo sammādiṭṭhi, abhiniropanamaggo sammāsaṅkappo …pe…
amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena maggo.
Evaṁ virāgo maggo.
Kathaṁ vimutti phalaṁ?
Sotāpattiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā vimuttā hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimuttā hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimuttā hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve muttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe ca vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya vimuttā hoti, samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā vimutto hoti, vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā vimutto hoti, paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā vimutto hoti, upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā vimuttā hoti, avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Sakadāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Anāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā …pe….
Arahattaphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Dassanavimutti sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepavimutti sammāsamādhi, upaṭṭhānavimutti satisambojjhaṅgo, paṭisaṅkhānavimutti upekkhāsambojjhaṅgo.
Assaddhiye akampiyavimutti saddhābalaṁ …pe…
avijjāya akampiyavimutti paññābalaṁ.
Adhimokkhavimutti saddhindriyaṁ …pe…
dassanavimutti paññindriyaṁ.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā vimutti.
Akampiyaṭṭhena balā vimutti, niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā vimutti, hetuṭṭhena maggo vimutti, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā vimutti, padahanaṭṭhena sammappadhānā vimutti, ijjhanaṭṭhena iddhipādā vimutti, tathaṭṭhena saccā vimutti, avikkhepaṭṭhena samatho vimutti, anupassanaṭṭhena vipassanā vimutti, ekarasaṭṭhena samathavipassanā vimutti, anativattanaṭṭhena yuganaddhaṁ vimutti, saṁvaraṭṭhena sīlavisuddhi vimutti, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi vimutti, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi vimutti, vimuttaṭṭhena vimokkho vimutti, paṭivedhaṭṭhena vijjā vimutti, pariccāgaṭṭhena vimutti vimutti, paṭippassaddhiyaṭṭhena anuppāde ñāṇaṁ vimutti, chando mūlaṭṭhena vimutti, manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena vimutti, phasso samodhānaṭṭhena vimutti, vedanā samosaraṇaṭṭhena vimutti, samādhi pamukhaṭṭhena vimutti, sati ādhipateyyaṭṭhena vimutti, paññā taduttaraṭṭhena vimutti, vimutti sāraṭṭhena vimutti, amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena vimutti.
Evaṁ vimutti phalaṁ.
Evaṁ virāgo maggo, vimutti phalanti.
Virāgakathā niṭṭhitā.
PTS vp En 3241. Fading away is the path, deliverance is its fruit.
2. How is fading away the path?
At the moment of the stream-entry path:
Right view in the sense of seeing fades away from wrong view, and it fades away from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it fades away from all signs.
Fading away has fading away as its supporting object, has fading away as its domain, is erected upon fading away, stands upon fading away, is founded upon fading away.
Fading away: there are two kinds of fading away: (1) fading away as nibbana; and (2) fading away described thus “All ideas born with nibbana as their supporting object are kinds of fading away”.
The seven path factors conascent [with right view] go to fading away, thus fading away is a path. By that path the Buddhas and their disciples go in a direction not gone in [before], namely, nibbana, thus the path is eightfold. With all the paths there are in the other beliefs of the many ascetics and brahmans, nevertheless the noble eightfold path is the highest, the best, the principal, the foremost, the most valuable, thus the eightfold is the best of paths.
Right thought in the sense of directing onto fades away from wrong thought … [complete as above with appropriate substitutions] …
Right speaking …
Right acting …
Right living …
Right effort …
Right mindfulness …
Right concentration in the sense of non-distraction … … thus the eightfold is the best of paths.
3. At the moment of the once-return path:
Right view in the sense of seeing …
Right concentration in the sense of non-distraction fades away from the gross fetters of greed for sensual-desires and of resistance, from the gross underlying tendencies to greed for sensual-desires and to resistance, and it fades away from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it fades away from all signs.
Fading away has fading away as its supporting object, …
Fading away: two kinds of fading away: …
The PTS vp En 325 seven path factors … thus the eightfold is the best of paths.
4. At the moment of the non-return path:
Right view in the sense of seeing …
Right concentration in the sense of non-distraction fades away from secondary fetters of greed for sensual-desires and of resistance, from secondary underlying tendencies to greed for sensual-desires and to resistance, and it fades away from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it fades away from all signs.
Fading away has fading away as its supporting object …
Fading away: two kinds of fading away: …
The seven path factors … thus the eightfold is the best of paths.
5. At the moment of the arahant path:
Right view in the sense of seeing …
Right concentration in the sense of non-distraction fades away from greed for material [being], from greed for immaterial [being], from conceit (pride), from agitation, from ignorance, from the underlying tendencies to conceit (pride), to greed for being and to ignorance, and it fades away from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it fades away from all signs.
Fading away has fading away as its supporting object …
Fading away: two kinds of fading away: …
The seven path factors … thus the eightfold is the best of paths.
6. Fading away as seeing is right view. Fading away as directing onto is right thought. Fading away as embracing is right speaking. Fading away as originating is right acting. Fading away as cleansing is right living. Fading away as exerting is right effort. Fading away as establishing is right mindfulness. Fading away as non-distraction is right concentration. Fading away as establishing is the mindfulness enlightenment factor. Fading away as investigating is the investigation-of-ideas enlightenment factor. Fading away as exerting is the energy enlightenment factor. Fading away as intentness upon is the happiness enlightenment factor. Fading away as peace is the tranquillity enlightenment factor. Fading away as non-distraction is the concentration enlightenment factor. Fading away as reflexion is the equanimity enlightenment factor.
Fading away as unshakability by non-faith is the faith power. Fading away as unshakability by idleness is the energy power. Fading away as unshakability by negligence is the mindfulness power. Fading away as unshakability by agitation is the concentration power. Fading away as unshakability by ignorance is the understanding power.
Fading PTS vp En 326 away as resolution is the faith faculty. Fading away as exertion is the energy faculty. Fading away as establishment is the mindfulness faculty. Fading away as non-distraction is the concentration faculty. Fading away as seeing is the understanding faculty.
The faculties are fading away in the sense of dominance. The powers are fading away in the sense of unshakability. The enlightenment factors are fading away in the sense of outlet. The path is fading away in the sense of cause. The foundations of mindfulness are fading away in the sense of establishment. The right endeavours are fading away in the sense of endeavouring. The bases for success (roads to power) are fading away in the sense of succeeding. The actualities are fading away in the sense of suchness (reality).
Serenity is fading away in the sense of non-distraction. Insight is fading away in the sense of contemplation. Serenity and insight are fading away in the sense of single function (taste). Coupling is fading away in the sense of non-excess.
Purification of virtue is fading away in the sense of restraint. Purification of cognizance is fading away in the sense of non-distraction. Purification of view is fading away in the sense of seeing. Liberation is fading away in the sense of being freed. Recognition is fading away in the sense of penetration. Deliverance is fading away in the sense of giving up. Knowledge of exhaustion is fading away in the sense of cutting off.
In the sense of root, zeal is fading away. In the sense of origination, attention is fading away. In the sense of combining, contact is fading away. In the sense of meeting place, feeling is fading away. In the sense of being foremost, concentration is fading away. In the sense of dominance, mindfulness is fading away. In the sense of being highest of all, understanding is fading away. In the sense of being the core (taste), deliverance is fading away. In the sense of end, nibbana which merges in the deathless is fading away.
That is how fading away is the path.
7. How is deliverance its fruit?
At the moment of stream-entry fruition:
Right view in the sense of seeing is delivered from wrong view, and it is delivered from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it is delivered from all signs.
Deliverance has deliverance as its supporting object, has deliverance for its domain, is erected upon deliverance, stands upon deliverance, is founded upon deliverance.
Deliverance: PTS vp En 327 there are two kinds of deliverance: (1) deliverance as nibbana, and (2) deliverance as fruit described thus “All ideas born with nibbana as their supporting object are delivered”.
Right thought in the sense of directing onto … [complete as above with appropriate substitutions] …
Right speaking …
Right acting …
Right living …
Right effort …
Right mindfulness …
Right concentration in the sense of non-distraction … “All ideas born with nibbana as their supporting object are delivered”.
8. At the moment of once-return fruition:
Right view in the sense of seeing …
…
Right concentration in the sense of non-distraction is delivered from the gross fetters of greed for sensual-desires and of resistance, from the gross underlying tendencies to greed for sensual-desires and to resistance, and it is delivered from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it is delivered from all signs.
Deliverance has deliverance as its supporting object, …
Deliverance: there are two kinds of deliverance; … “All ideas born with nibbana as their supporting object are delivered”.
9. At the moment of non-return fruition:
Right view in the sense of seeing …
…
Right concentration in the sense of non-distraction is delivered from secondary fetters of greed for sensual-desires and of resistance, from secondary underlying tendencies to greed for sensual-desires and to resistance, and it is delivered from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it is delivered from all signs.
Deliverance has deliverance as its supporting object …
…
Deliverance: there are two kinds of deliverance: … “All ideas born with nibbana as their supporting object are delivered”.
10. At the moment of arahant fruition:
Right view in the sense of seeing …
…
Right concentration in the sense of non-distraction is delivered from greed for material [being], from greed for immaterial [being], from conceit (pride), from agitation, from ignorance, from the underlying tendPTS vp En 328encies to conceit (pride), to greed for being and to ignorance, and it is delivered from defilements and from aggregates that occur consequent upon them, and externally it is delivered from all signs.
Deliverance has deliverance as its supporting object, …
Deliverance: there are two kinds of deliverance: … “All ideas born with nibbana as their supporting object are delivered”.
11. Deliverance as seeing is right view. Deliverance as directing onto is right thought … Deliverance as non-distraction is right concentration.
Deliverance as establishing is the mindfulness enlightenment factor. Deliverance as investigating is the investigation-of-ideas enlightenment factor … Deliverance as reflexion is the equanimity enlightenment factor.
Deliverance as unshakability by non-faith is the faith power … Deliverance as unshakability by ignorance is the understanding power.
Deliverance as resolution is the faith faculty … Deliverance as seeing is the understanding faculty.
The faculties are deliverance in the sense of dominance. The powers are deliverance in the sense of unshakability … The actualities are deliverance in the sense of suchness (reality).
Serenity is deliverance in the sense of non-distraction … Coupling is deliverance in the sense of non-excess.
Purification of virtue is deliverance in the sense of restraint … Liberation is deliverance in the sense of being freed. Recognition is deliverance in the sense of penetration. Deliverance is deliverance in the sense of giving up. Knowledge of non-arising is deliverance in the sense of tranquillization.
In the sense of root, zeal is deliverance. In the sense of origination, attention is deliverance … In the sense of end, nibbana which merges in the deathless is deliverance.
That is how deliverance is its fruit.
That is how fading away is the path, deliverance is its fruit.
End of Treatise on fading away.
Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả.
Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức loại bỏ tà kiến, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần.
Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.*
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’* như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), loại bỏ tà tư duy. …(như trên)… Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, loại bỏ tà ngữ. …(như trên)… Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, loại bỏ tà nghiệp. …(như trên)… Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, loại bỏ tà mạng. …(như trên)… Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, loại bỏ tà tinh tấn. …(như trên)… Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, loại bỏ tà niệm. …(như trên)… Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, loại bỏ tà định, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú;’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái …(như trên)… như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Vào sát-na Đạo A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(nt)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn loại bỏ ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, loại bỏ các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, loại bỏ tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Ly tham ái có đối tượng là ly tham ái, có hành xứ là ly tham ái, được hiện khởi ở ly tham ái, được tồn tại ở ly tham ái, được thiết lập ở ly tham ái.
Ly tham ái: Có hai ly tham ái: Niết Bàn là ly tham ái, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là ly tham ái. ‘Bảy chi phần đồng sanh đi đến ly tham ái,’ như thế ly tham ái là đạo lộ. ‘Bằng đạo lộ ấy, chư Phật và các Thinh Văn đi đến Niết Bàn là hướng chưa đi,’ như thế là đạo lộ có tám chi phần. ‘Cho đến các đạo lộ của các học thuyết khác của số đông Sa-môn và Bà-la-môn, chính Thánh Đạo tám chi phần này là tột đỉnh, hạng nhất, dẫn đầu, tối thượng, và ưu tú,’ như thế trong số các đạo lộ, tám chi phần là hạng nhất.
Ly tham ái là nhận thức, tức là chánh kiến. Ly tham ái là sự gắn chặt (tâm vào cảnh), tức là chánh tư duy. Ly tham ái là sự gìn giữ, tức là chánh ngữ. Ly tham ái là nguồn sanh khởi, tức là chánh nghiệp. Ly tham ái là sự trong sạch, tức là chánh mạng. Ly tham ái là sự ra sức, tức là chánh tinh tấn. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là chánh niệm. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là chánh định.
Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. Ly tham ái là sự suy xét, tức là trạch pháp giác chi. Ly tham ái là sự ra sức, tức là cần giác chi. Ly tham ái là sự lan tỏa, tức là hỷ giác chi. Ly tham ái là sự an tịnh, tức là tịnh giác chi. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định giác chi. Ly tham ái là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi.
Ly tham ái là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. Ly tham ái là không dao động ở sự biếng nhác, tức là tấn lực. Ly tham ái là không dao động ở sự buông lung, tức là niệm lực. Ly tham ái là không dao động ở sự phóng dật, tức là định lực. Ly tham ái là không dao động ở sự vô minh, tức là tuệ lực.
Ly tham ái là sự cương quyết, tức là tín quyền. Ly tham ái là sự ra sức, tức là tấn quyền. Ly tham ái là sự thiết lập, tức là niệm quyền. Ly tham ái là sự không tản mạn, tức là định quyền. Ly tham ái là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Lực, theo ý nghĩa không thể bị lay chuyển, là ly tham ái. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là ly tham ái. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là ly tham ái. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là ly tham ái. Các chân lý, theo ý nghĩa của thực thể, là ly tham ái. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là ly tham ái. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là ly tham ái. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là ly tham ái. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là ly tham ái. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là ly tham ái. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là ly tham ái. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là ly tham ái. Trí về sự đoạn tận, theo ý nghĩa đoạn trừ, là ly tham ái. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là ly tham ái. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là ly tham ái. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là ly tham ái. Thọ, theo ý nghĩahội tụ, là ly tham ái. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là ly tham ái. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là ly tham ái. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là ly tham ái. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là ly tham ái. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là ly tham ái.
Sự nhận thức là Đạo, tức là chánh kiến. Sự gắn chặt (tâm vào cảnh) là Đạo, tức là chánh tư duy …nt)… Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là Đạo. Ly tham ái là Đạo là (có ý nghĩa) như thế.
Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) thế nào? Vào sát-na Đạo Nhập Lưu, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức được giải thoát khỏi tà kiến, được giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, được giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh tư duy, theo ý nghĩa gắn chặt (tâm vào cảnh), giải thoát khỏi tà tư duy, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Chánh ngữ, theo ý nghĩa gìn giữ, giải thoát khỏi tà ngữ … Chánh nghiệp, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, giải thoát khỏi tà nghiệp … Chánh mạng, theo ý nghĩa trong sạch, giải thoát khỏi tà mạng … Chánh tinh tấn, theo ý nghĩa ra sức, giải thoát khỏi tà tinh tấn … Chánh niệm, theo ý nghĩa thiết lập, giải thoát khỏi tà niệm … Chánh định, theo ý nghĩa không tản mạn, giải thoát khỏi tà định, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, sự giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Nhất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục, sự ràng buộc của bất bình có tính chất thô thiển, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất thô thiển, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả Bất Lai, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục và sự ràng buộc của bất bình có tính chất vi tế, ái dục ngủ ngầm và bất bình ngủ ngầm có tính chất vi tế giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được hiện khởi ở giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: …(nt)… giải thoát là Quả.
Vào sát-na Quả A-la-hán, chánh kiến theo ý nghĩa nhận thức …(như trên)… Chánh định theo ý nghĩa không tản mạn giải thoát khỏi ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng dật, vô minh, ngã mạn ngủ ngầm, ái hữu ngủ ngầm, vô minh ngủ ngầm, giải thoát khỏi các phiền não xu hướng theo điều ấy và khỏi các uẩn, giải thoát khỏi tất cả các hiện tướng ở ngoại phần. Sự giải thoát có đối tượng là giải thoát, có hành xứ là giải thoát, được tồn tại ở giải thoát, được thiết lập ở giải thoát.
Sự giải thoát: Có hai sự giải thoát: ‘Niết Bàn là sự giải thoát, và tất cả các pháp sanh lên từ đối tượng Niết Bàn đều là sự giải thoát;’ như thế, giải thoát là Quả.
Giải thoát là sự nhận thức, tức là chánh kiến. …(như trên)… Giải thoát là sự không tản mạn, tức là chánh định. Giải thoát là sự thiết lập, tức là niệm giác chi. …(như trên)… Giải thoát là sự phân biệt rõ, tức là xả giác chi. Giải thoát là không dao động ở sự không có đức tin, tức là tín lực. …(như trên)… Giải thoát là không dao động ở vô minh, tức là tuệ lực. Giải thoát là sự cương quyết, tức là tín quyền …(như trên)… Giải thoát là sự nhận thức, tức là tuệ quyền.
Các quyền, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Các lực, theo ý nghĩa không bị dao động, là sự giải thoát. Các giác chi, theo ý nghĩa dẫn xuất, là sự giải thoát. Đạo, theo ý nghĩ chủng tử, là sự giải thoát. Sự thiết lập niệm, theo ý nghĩa thiết lập, là sự giải thoát. Chánh cần, theo ý nghĩa nỗ lực là sự giải thoát. Các nền tảng của thần thông, theo ý nghĩa thành tựu, là sự giải thoát. Các chân lý, theo ý nghĩa thực thể, là sự giải thoát. Chỉ tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Minh sát theo ý nghĩa quán xét, là sự giải thoát. Chỉ tịnh và minh sát, theo ý nghĩa nhất vị, là sự giải thoát. Sự kết hợp chung, theo ý nghĩa không vượt quá, là sự giải thoát. Giới thanh tịnh, theo ý nghĩa thu thúc, là sự giải thoát. Tâm thanh tịnh, theo ý nghĩa không tản mạn, là sự giải thoát. Kiến thanh tịnh, theo ý nghĩa nhận thức, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa thoát khỏi, là sự giải thoát. Minh, theo ý nghĩa thấu triệt, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa buông bỏ, là sự giải thoát. Trí về vô thủ, theo ý nghĩa an tịnh, là sự giải thoát. Ước muốn, theo ý nghĩa nguồn cội, là sự giải thoát. Tác ý, theo ý nghĩa nguồn sanh khởi, là sự giải thoát. Xúc, theo ý nghĩa liên kết, là sự giải thoát. Thọ, theo ý nghĩa hội tụ, là sự giải thoát. Định, theo ý nghĩa dẫn đầu, là sự giải thoát. Niệm, theo ý nghĩa chủ đạo, là sự giải thoát. Tuệ, theo ý nghĩa cao thượng trong các pháp thiện, là sự giải thoát. Giải thoát, theo ý nghĩa của cốt lỏi, là sự giải thoát. Niết Bàn liên quan đến bất tử, theo ý nghĩa kết thúc, là sự giải thoát. Sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Ly tham ái là Đạo, sự giải thoát là Quả là (có ý nghĩa) như thế.
Phần Giảng về Ly Tham Ái được đầy đủ.
Virāgo maggo, vimutti phalaṁ.
Kathaṁ virāgo maggo?
Sotāpattimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā virajjati.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya virajjati.
Samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā virajjati.
Vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā virajjati.
Paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā virajjati.
Upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā virajjati.
Avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito virajjati.
Tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati.
Bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā, ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Sakadāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā.
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Anāgāmimaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati.
Virāgo virāgārammaṇo …pe…
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Arahattamaggakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā virajjati, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca virajjati, bahiddhā ca sabbanimittehi virajjati virāgo virāgārammaṇo virāgagocaro virāge samudāgato virāge ṭhito virāge patiṭṭhito.
Virāgoti dve virāgā—
nibbānañca virāgo, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe virāgā hontīti—virāgā.
Sahajātāni sattaṅgāni virāgaṁ gacchantīti—virāgo maggo.
Etena maggena buddhā ca sāvakā ca agataṁ disaṁ nibbānaṁ gacchantīti—
aṭṭhaṅgiko maggo.
Yāvatā puthusamaṇabrāhmaṇānaṁ parappavādānaṁ maggā.
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo aggo ca seṭṭho ca pāmokkho ca uttamo ca pavaro cāti—
maggānaṁ aṭṭhaṅgiko seṭṭho.
Dassanavirāgo sammādiṭṭhi.
Abhiniropanavirāgo sammāsaṅkappo.
Pariggahavirāgo sammāvācā.
Samuṭṭhānavirāgo sammākammanto.
Vodānavirāgo sammāājīvo.
Paggahavirāgo sammāvāyāmo.
Upaṭṭhānavirāgo sammāsati.
Avikkhepavirāgo sammāsamādhi.
Upaṭṭhānavirāgo satisambojjhaṅgo.
Pavicayavirāgo dhammavicayasambojjhaṅgo.
Paggahavirāgo vīriyasambojjhaṅgo.
Pharaṇavirāgo pītisambojjhaṅgo.
Upasamavirāgo passaddhisambojjhaṅgo.
Avikkhepavirāgo samādhisambojjhaṅgo.
Paṭisaṅkhānavirāgo upekkhāsambojjhaṅgo.
Assaddhiye akampiyavirāgo saddhābalaṁ.
Kosajje akampiyavirāgo vīriyabalaṁ.
Pamāde akampiyavirāgo satibalaṁ.
Uddhacce akampiyavirāgo samādhibalaṁ.
Avijjāya akampiyavirāgo paññābalaṁ.
Adhimokkhavirāgo saddhindriyaṁ.
Paggahavirāgo vīriyindriyaṁ.
Upaṭṭhānavirāgo satindriyaṁ.
Avikkhepavirāgo samādhindriyaṁ.
Dassanavirāgo paññindriyaṁ.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyāni virāgo.
Akampiyaṭṭhena balaṁ virāgo.
Niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā virāgo.
Hetuṭṭhena maggo virāgo.
Upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā virāgo.
Padahanaṭṭhena sammappadhānā virāgo.
Ijjhanaṭṭhena iddhipādā virāgo.
Tathaṭṭhena saccā virāgo.
Avikkhepaṭṭhena samatho virāgo.
Anupassanaṭṭhena vipassanā virāgo.
Ekarasaṭṭhena samathavipassanā virāgo.
Anativattanaṭṭhena yuganaddhaṁ virāgo.
Saṁvaraṭṭhena sīlavisuddhi virāgo.
Avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi virāgo.
Dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi virāgo.
Vimuttaṭṭhena vimokkho virāgo.
Paṭivedhaṭṭhena vijjā virāgo.
Pariccāgaṭṭhena vimutti virāgo.
Samucchedaṭṭhena khaye ñāṇaṁ virāgo.
Chando mūlaṭṭhena virāgo.
Manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena virāgo.
Phasso samodhānaṭṭhena virāgo.
Vedanā samosaraṇaṭṭhena virāgo.
Samādhi pamukhaṭṭhena virāgo.
Sati ādhipateyyaṭṭhena virāgo.
Paññā taduttaraṭṭhena virāgo.
Vimutti sāraṭṭhena virāgo.
Amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena maggo.
Dassanamaggo sammādiṭṭhi, abhiniropanamaggo sammāsaṅkappo …pe…
amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena maggo.
Evaṁ virāgo maggo.
Kathaṁ vimutti phalaṁ?
Sotāpattiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi micchādiṭṭhiyā vimuttā hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimuttā hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimuttā hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve muttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe ca vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Abhiniropanaṭṭhena sammāsaṅkappo micchāsaṅkappā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Pariggahaṭṭhena sammāvācā micchāvācāya vimuttā hoti, samuṭṭhānaṭṭhena sammākammanto micchākammantā vimutto hoti, vodānaṭṭhena sammāājīvo micchāājīvā vimutto hoti, paggahaṭṭhena sammāvāyāmo micchāvāyāmā vimutto hoti, upaṭṭhānaṭṭhena sammāsati micchāsatiyā vimuttā hoti, avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi micchāsamādhito vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Sakadāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi oḷārikā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā oḷārikā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Anāgāmiphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi anusahagatā kāmarāgasaññojanā paṭighasaññojanā anusahagatā kāmarāgānusayā paṭighānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā …pe….
Arahattaphalakkhaṇe dassanaṭṭhena sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepaṭṭhena sammāsamādhi rūparāgā arūparāgā mānā uddhaccā avijjāya mānānusayā bhavarāgānusayā avijjānusayā vimutto hoti, tadanuvattakakilesehi ca khandhehi ca vimutto hoti, bahiddhā ca sabbanimittehi vimutto hoti, vimutti vimuttārammaṇā vimuttigocarā vimuttiyā samudāgatā vimuttiyā ṭhitā vimuttiyā patiṭṭhitā.
Vimuttīti dve vimuttiyo—
nibbānañca vimutti, ye ca nibbānārammaṇatājātā dhammā sabbe vimuttā hontīti—
vimutti phalaṁ.
Dassanavimutti sammādiṭṭhi …pe…
avikkhepavimutti sammāsamādhi, upaṭṭhānavimutti satisambojjhaṅgo, paṭisaṅkhānavimutti upekkhāsambojjhaṅgo.
Assaddhiye akampiyavimutti saddhābalaṁ …pe…
avijjāya akampiyavimutti paññābalaṁ.
Adhimokkhavimutti saddhindriyaṁ …pe…
dassanavimutti paññindriyaṁ.
Ādhipateyyaṭṭhena indriyā vimutti.
Akampiyaṭṭhena balā vimutti, niyyānaṭṭhena bojjhaṅgā vimutti, hetuṭṭhena maggo vimutti, upaṭṭhānaṭṭhena satipaṭṭhānā vimutti, padahanaṭṭhena sammappadhānā vimutti, ijjhanaṭṭhena iddhipādā vimutti, tathaṭṭhena saccā vimutti, avikkhepaṭṭhena samatho vimutti, anupassanaṭṭhena vipassanā vimutti, ekarasaṭṭhena samathavipassanā vimutti, anativattanaṭṭhena yuganaddhaṁ vimutti, saṁvaraṭṭhena sīlavisuddhi vimutti, avikkhepaṭṭhena cittavisuddhi vimutti, dassanaṭṭhena diṭṭhivisuddhi vimutti, vimuttaṭṭhena vimokkho vimutti, paṭivedhaṭṭhena vijjā vimutti, pariccāgaṭṭhena vimutti vimutti, paṭippassaddhiyaṭṭhena anuppāde ñāṇaṁ vimutti, chando mūlaṭṭhena vimutti, manasikāro samuṭṭhānaṭṭhena vimutti, phasso samodhānaṭṭhena vimutti, vedanā samosaraṇaṭṭhena vimutti, samādhi pamukhaṭṭhena vimutti, sati ādhipateyyaṭṭhena vimutti, paññā taduttaraṭṭhena vimutti, vimutti sāraṭṭhena vimutti, amatogadhaṁ nibbānaṁ pariyosānaṭṭhena vimutti.
Evaṁ vimutti phalaṁ.
Evaṁ virāgo maggo, vimutti phalanti.
Virāgakathā niṭṭhitā.