BJT 1687Đấng Chiến Thắng cao quý Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu sau khi rời khỏi trú xá đã đi đến hồ nước.
BJT 1688Sau khi tắm và uống nước, bậc Toàn Giác, đức Thế Tôn, đã khoác lên một tấm y rồi đã đứng ở tại nơi ấy, quan sát khắp các phương.
BJT 1689Tôi đã đi vào cung điện và đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ khi ấy tôi đã vỗ tay.
BJT 1690Đức Phật đang chói sáng tợ như mặt trời, đang tỏa sáng tợ như khối vàng. Tôi đã ra sức trong điệu vũ lời ca và năm loại nhạc khí (cúng dường Ngài).
BJT 1691Nơi chốn nào tôi đi tái sanh, dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi vượt trội tất cả chúng sanh, danh tiếng của tôi là rộng khắp.
BJT 1692“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch bậc Hiền Trí, sau khi làm cho bản thân được hoan hỷ Ngài đã làm cho những người khác được hoan hỷ. ”
BJT 1693Sau khi xem xét rồi ngồi xuống, sau khi đã tạo niềm vui ở bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1694Trước đây một ngàn sáu trăm kiếp, đã có hai, rồi chín vị cùng tên Ekacintita, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1695Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumaṅgala đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Atthadassī jinavaro,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vihārā abhinikkhamma,
taḷākaṁ upasaṅkami.
Nhatvā pitvā ca sambuddho,
uttaritvekacīvaro;
Aṭṭhāsi bhagavā tattha,
vilokento disodisaṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
addasaṁ lokanāyakaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
apphoṭesiṁ ahaṁ tadā.
Sataraṁsiṁva jotantaṁ,
pabhāsantaṁva kañcanaṁ;
Naccagīte payuttohaṁ,
pañcaṅgatūriyamhi ca.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sabbe satte abhibhomi,
vipulo hoti me yaso.
Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Attānaṁ tosayitvāna,
pare tosesi tvaṁ muni.
Pariggahe nisīditvā,
hāsaṁ katvāna subbate;
Upaṭṭhahitvā sambuddhaṁ,
tusitaṁ upapajjahaṁ.
Soḷaseto kappasate,
dvinavaekacintitā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sumaṅgalo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sumaṅgalattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 1687 Atthadassi, the Best Victor,
the World’s Best One, the Bull of Men,
setting out from the monastery
came up to the lake near my home. Verse 1
Walt 1688 The Sambuddha bathed and drank there,
then he got out and in one robe
the Blessed One stood on that spot,
surveying all the directions. Verse 2
Walt 1689-1690While dwelling in my residence,
I saw the Leader of the World
shining like the hundred-rayed sun,
glittering like well-crafted gold
and happy, with a happy heart
I then snapped my fingers so to
conduct dances and also songs
and the five kinds of music there. Verse 3-4
Walt 1691 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
I surpass all other creatures
and my glory is abundant. Verse 5
Walt 1692 “Praise to you, O Well-Bred Person!
Praise to you, Ultimate Person!
Having made yourself happy, Sage,
now you are pleasing all others.” Verse 6
Walt 1693 Having accepted, sitting down,
the One With Good Vows caused laughter.
I having served the Sambuddha
was then reborn in Tusitā. Verse 7
Walt 1694 In the sixteenth aeon ago
eleven Ekacintitas
were wheel-turners with great power,
possessors of the seven gems. Verse 8
Walt 1695 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Sumaṅgala Thera spoke these verses.
The legend of Sumaṅgala Thera is finished.
BJT 1687Đấng Chiến Thắng cao quý Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu sau khi rời khỏi trú xá đã đi đến hồ nước.
BJT 1688Sau khi tắm và uống nước, bậc Toàn Giác, đức Thế Tôn, đã khoác lên một tấm y rồi đã đứng ở tại nơi ấy, quan sát khắp các phương.
BJT 1689Tôi đã đi vào cung điện và đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ khi ấy tôi đã vỗ tay.
BJT 1690Đức Phật đang chói sáng tợ như mặt trời, đang tỏa sáng tợ như khối vàng. Tôi đã ra sức trong điệu vũ lời ca và năm loại nhạc khí (cúng dường Ngài).
BJT 1691Nơi chốn nào tôi đi tái sanh, dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi vượt trội tất cả chúng sanh, danh tiếng của tôi là rộng khắp.
BJT 1692“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch bậc Hiền Trí, sau khi làm cho bản thân được hoan hỷ Ngài đã làm cho những người khác được hoan hỷ. ”
BJT 1693Sau khi xem xét rồi ngồi xuống, sau khi đã tạo niềm vui ở bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi phục vụ đấng Toàn Giác, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1694Trước đây một ngàn sáu trăm kiếp, đã có hai, rồi chín vị cùng tên Ekacintita, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1695Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sumaṅgala đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Atthadassī jinavaro,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vihārā abhinikkhamma,
taḷākaṁ upasaṅkami.
Nhatvā pitvā ca sambuddho,
uttaritvekacīvaro;
Aṭṭhāsi bhagavā tattha,
vilokento disodisaṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
addasaṁ lokanāyakaṁ;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
apphoṭesiṁ ahaṁ tadā.
Sataraṁsiṁva jotantaṁ,
pabhāsantaṁva kañcanaṁ;
Naccagīte payuttohaṁ,
pañcaṅgatūriyamhi ca.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sabbe satte abhibhomi,
vipulo hoti me yaso.
Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Attānaṁ tosayitvāna,
pare tosesi tvaṁ muni.
Pariggahe nisīditvā,
hāsaṁ katvāna subbate;
Upaṭṭhahitvā sambuddhaṁ,
tusitaṁ upapajjahaṁ.
Soḷaseto kappasate,
dvinavaekacintitā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sumaṅgalo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sumaṅgalattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.