BJT 1716Đức Thế Tôn tên Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đang ngồi thuyết giảng đạo lộ Bất Tử cho tập thể dân chúng.
BJT 1717Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài là đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã dâng lên đức Phật bốn bông hoa bằng vàng.
BJT 1718Khi ấy, đã có mái che bằng vàng (che) khắp cả hội chúng. Hào quang của đức Phật và vẻ sáng của vàng đã là nguồn ánh sáng bao la.
BJT 1719Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã chắp tay lên. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho những người ấy.
BJT 1720Sau khi thỉnh cầu bậc Toàn Giác và đảnh lễ bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã đi về chỗ trú ngụ của mình.
BJT 1721Bước vào chỗ ngụ, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1722(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1723Trước đây bốn mươi ba kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Nemisammata, là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1724Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Suvaṇṇapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vipassī nāma bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Nisinno janakāyassa,
desesi amataṁ padaṁ.
Tassāhaṁ dhammaṁ sutvāna,
dvipadindassa tādino;
Soṇṇapupphāni cattāri,
buddhassa abhiropayiṁ.
Suvaṇṇacchadanaṁ āsi,
yāvatā parisā tadā;
Buddhābhā ca suvaṇṇābhā,
āloko vipulo ahu.
Udaggacitto sumano,
vedajāto katañjalī;
Vittisañjanano tesaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho.
Āyācitvāna sambuddhaṁ,
vanditvāna ca subbataṁ;
Pāmojjaṁ janayitvāna,
sakaṁ bhavanupāgamiṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
buddhaseṭṭhaṁ anussariṁ;
Tena cittappasādena,
tusitaṁ upapajjahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Soḷasāsiṁsu rājāno,
nemisammatanāmakā;
Tetālīse ito kappe,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā suvaṇṇapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Suvaṇṇapupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 1716 The Blessed One named Vipassi,
the World’s Best One, the Bull of Men,
sitting down, preached the deathless state
to the body of people there. Verse 1
Walt 1717 After having heard theTeaching
of that Biped-Lord, Neutral One,
I then offered to the Buddha
four flowers made out of fine gold. Verse 2
Walt 1718 There was a canopy of gold
stretched over the whole crowd back then.
From the Buddha’s light and the gold’s
there was a vast effulgence there. Verse 3
Walt 1719 Happy, with rapture in my heart,
thrilled, with my hands pressed together,
with joy produced for those who heard,
conveying pleasure to the world, Verse 4
Walt 1720 having invited the Buddha,
worshipping the Compliant One,
experiencing great delight
I then returned to my own house. Verse 5
Walt 1721 Having entered my residence,
I called to mind the Best Buddha.
Due to that pleasure in my heart,
I was reborn in Tusitā. Verse 6
Walt 1722 In the ninety-one aeons since
I offered that flower to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 7
Walt 1723 There were sixteen different kings then,
all known as Nemisammata,
in the forty-third aeon hence,
wheel-turning monarchs with great strength. Verse 8
Walt 1724 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Suvaṇṇapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Suvaṇṇapupphiya Thera is finished.
BJT 1716Đức Thế Tôn tên Vipassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, đang ngồi thuyết giảng đạo lộ Bất Tử cho tập thể dân chúng.
BJT 1717Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài là đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã dâng lên đức Phật bốn bông hoa bằng vàng.
BJT 1718Khi ấy, đã có mái che bằng vàng (che) khắp cả hội chúng. Hào quang của đức Phật và vẻ sáng của vàng đã là nguồn ánh sáng bao la.
BJT 1719Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã chắp tay lên. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho những người ấy.
BJT 1720Sau khi thỉnh cầu bậc Toàn Giác và đảnh lễ bậc có sự hành trì tốt đẹp, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã đi về chỗ trú ngụ của mình.
BJT 1721Bước vào chỗ ngụ, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi trời Đẩu Suất.
BJT 1722(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1723Trước đây bốn mươi ba kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Nemisammata, là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1724Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Suvaṇṇapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vipassī nāma bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Nisinno janakāyassa,
desesi amataṁ padaṁ.
Tassāhaṁ dhammaṁ sutvāna,
dvipadindassa tādino;
Soṇṇapupphāni cattāri,
buddhassa abhiropayiṁ.
Suvaṇṇacchadanaṁ āsi,
yāvatā parisā tadā;
Buddhābhā ca suvaṇṇābhā,
āloko vipulo ahu.
Udaggacitto sumano,
vedajāto katañjalī;
Vittisañjanano tesaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho.
Āyācitvāna sambuddhaṁ,
vanditvāna ca subbataṁ;
Pāmojjaṁ janayitvāna,
sakaṁ bhavanupāgamiṁ.
Bhavane upaviṭṭhohaṁ,
buddhaseṭṭhaṁ anussariṁ;
Tena cittappasādena,
tusitaṁ upapajjahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Soḷasāsiṁsu rājāno,
nemisammatanāmakā;
Tetālīse ito kappe,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā suvaṇṇapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Suvaṇṇapupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.