BJT 1748Lúc bấy giờ, ngay sau khi đấng Thiện Thệ Atthadassī tịch diệt, tôi đã sanh vào dòng giống Dạ-xoa, và tôi đã đạt được danh tiếng.
BJT 1749Đối với tôi, quả thật là khó được thành tựu, khó được chói sáng, khó được vươn lên, là việc đấng Hữu Nhãn đã viên tịch Niết Bàn trong khi tôi đang tìm kiếm của cải.
BJT 1750Vị Thinh Văn tên Sāgara đã biết được ý định của tôi. Có ý định tiếp độ tôi, vị ấy đã đi đến gần bên tôi (nói rằng):
BJT 1751“Điều gì khiến ngươi sầu muộn? Này người khôn ngoan, chớ lo ngại, ngươi hãy thực hành Giáo Pháp. Sự thành tựu về hạt giống (giác ngộ) đã được đức Phật ban phát cho tất cả.
BJT 17521753. Người cúng dường bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian (khi Ngài) đang còn tại tiền, và người cúng dường xá-lợi của Ngài khi Ngài đã tịch diệt dầu chỉ nhỏ bằng hạt mù-tạt, khi niềm tịnh tín ở trong tâm là tương đương thì phước báu đạt được lớn lao là tương đương; vì thế ngươi hãy cho xây dựng ngôi bảo tháp rồi hãy cúng dường các xá-lợi của đấng Chiến Thắng.”
BJT 1754Sau khi lắng nghe lời nói của vị Sāgara, tôi đã cho thực hiện ngôi bảo tháp của đức Phật. Tôi đã phục vụ ngôi bảo tháp tối thượng của bậc Hiền Trí năm năm.
BJT 1755Do việc làm ấy ở nơi đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, sau khi thọ hưởng sự thành đạt tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 1756Và trước đây bảy trăm kiếp, bốn vị (cùng) tên Bhūripañña đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1757Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paccupaṭṭhānasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Atthadassimhi sugate,
nibbute samanantarā;
Yakkhayoniṁ upapajjiṁ,
yasaṁ patto cahaṁ tadā.
Dulladdhaṁ vata me āsi,
duppabhātaṁ duruṭṭhitaṁ;
Yaṁ me bhoge vijjamāne,
parinibbāyi cakkhumā.
Mama saṅkappamaññāya,
sāgaro nāma sāvako;
Mamuddharitukāmo so,
āgacchi mama santikaṁ.
Kiṁ nu socasi mā bhāyi,
cara dhammaṁ sumedhasa;
Anuppadinnā buddhena,
sabbesaṁ bījasampadā.
Yo ce pūjeyya sambuddhaṁ,
tiṭṭhantaṁ lokanāyakaṁ;
Dhātuṁ sāsapamattampi,
nibbutassāpi pūjaye.
Same cittappasādamhi,
samaṁ puññaṁ mahaggataṁ;
Tasmā thūpaṁ karitvāna,
pūjehi jinadhātuyo.
Sāgarassa vaco sutvā,
buddhathūpaṁ akāsahaṁ;
Pañcavasse paricariṁ,
munino thūpamuttamaṁ.
Tena kammena dvipadinda,
lokajeṭṭha narāsabha;
Sampattiṁ anubhotvāna,
arahattamapāpuṇiṁ.
Bhūripaññā ca cattāro,
sattakappasate ito;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā paccupaṭṭhānasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Paccupaṭṭhānasaññakattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 1748 Right when Well-Gone Atthadassi
had achieved final nirvana,
I was born in a spirit’s womb;
I possessed great glory back then. Verse 1
Walt 1749 “It’s a bad attainment for me,
a bad dawn, a bad arising,
that I should find such opulence
when the Eyeful One’s passed away.” Verse 2
Walt 1750 Discerning what I was thinking,
the follower named Sāgara
with a wish for my upliftment,
then came into my presence there: Verse 3
Walt 1751 “Why are you grieving? Do not fear!
o you knower of the Teaching,
by the Buddha have been given
the seeds of everyone’s success. Verse 4
Walt 1752 He who’d worship the Sambuddha,
Siddhattha, Leader of the World,
should worship even one small bone
after the final nirvana. Verse 5
Walt 1753 When the heart’s pleasure is the same
there is the same priceless merit.
Therefore having built a stupa,
worship the Victor’s relics there.” Verse 6
Walt 1754 After hearing Sāgara’s words,
I then built a Buddha-stupa.
For five years I attended to
that Sage’s ultimate stupa. Verse 7
Walt 1755 Due to that deed for the Biped-Lord,
the World’s Best One, the Bull of Men,
having enjoyed great happiness,
I attained my arahantship. Verse 8
Walt 1756 In the seventh aeon ago
there were four named Bhūripañña,
wheel-turning kings with great power,
possessors of the seven gems. Verse 9
Walt 1757 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Thus indeed Venerable Paccupaṭṭhānasaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Paccupaṭṭhānasaññaka Thera is finished.
BJT 1748Lúc bấy giờ, ngay sau khi đấng Thiện Thệ Atthadassī tịch diệt, tôi đã sanh vào dòng giống Dạ-xoa, và tôi đã đạt được danh tiếng.
BJT 1749Đối với tôi, quả thật là khó được thành tựu, khó được chói sáng, khó được vươn lên, là việc đấng Hữu Nhãn đã viên tịch Niết Bàn trong khi tôi đang tìm kiếm của cải.
BJT 1750Vị Thinh Văn tên Sāgara đã biết được ý định của tôi. Có ý định tiếp độ tôi, vị ấy đã đi đến gần bên tôi (nói rằng):
BJT 1751“Điều gì khiến ngươi sầu muộn? Này người khôn ngoan, chớ lo ngại, ngươi hãy thực hành Giáo Pháp. Sự thành tựu về hạt giống (giác ngộ) đã được đức Phật ban phát cho tất cả.
BJT 17521753. Người cúng dường bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian (khi Ngài) đang còn tại tiền, và người cúng dường xá-lợi của Ngài khi Ngài đã tịch diệt dầu chỉ nhỏ bằng hạt mù-tạt, khi niềm tịnh tín ở trong tâm là tương đương thì phước báu đạt được lớn lao là tương đương; vì thế ngươi hãy cho xây dựng ngôi bảo tháp rồi hãy cúng dường các xá-lợi của đấng Chiến Thắng.”
BJT 1754Sau khi lắng nghe lời nói của vị Sāgara, tôi đã cho thực hiện ngôi bảo tháp của đức Phật. Tôi đã phục vụ ngôi bảo tháp tối thượng của bậc Hiền Trí năm năm.
BJT 1755Do việc làm ấy ở nơi đấng Chúa Tể của loài người, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, sau khi thọ hưởng sự thành đạt tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 1756Và trước đây bảy trăm kiếp, bốn vị (cùng) tên Bhūripañña đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1757Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Paccupaṭṭhānasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Atthadassimhi sugate,
nibbute samanantarā;
Yakkhayoniṁ upapajjiṁ,
yasaṁ patto cahaṁ tadā.
Dulladdhaṁ vata me āsi,
duppabhātaṁ duruṭṭhitaṁ;
Yaṁ me bhoge vijjamāne,
parinibbāyi cakkhumā.
Mama saṅkappamaññāya,
sāgaro nāma sāvako;
Mamuddharitukāmo so,
āgacchi mama santikaṁ.
Kiṁ nu socasi mā bhāyi,
cara dhammaṁ sumedhasa;
Anuppadinnā buddhena,
sabbesaṁ bījasampadā.
Yo ce pūjeyya sambuddhaṁ,
tiṭṭhantaṁ lokanāyakaṁ;
Dhātuṁ sāsapamattampi,
nibbutassāpi pūjaye.
Same cittappasādamhi,
samaṁ puññaṁ mahaggataṁ;
Tasmā thūpaṁ karitvāna,
pūjehi jinadhātuyo.
Sāgarassa vaco sutvā,
buddhathūpaṁ akāsahaṁ;
Pañcavasse paricariṁ,
munino thūpamuttamaṁ.
Tena kammena dvipadinda,
lokajeṭṭha narāsabha;
Sampattiṁ anubhotvāna,
arahattamapāpuṇiṁ.
Bhūripaññā ca cattāro,
sattakappasate ito;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā paccupaṭṭhānasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Paccupaṭṭhānasaññakattherassāpadānaṁ navamaṁ.