BJT 1696Cuộc giao chiến giữa hai vị Thiên Vương đang diễn tiến đã trở nên hỗn độn, tiếng kêu la ầm ĩ đã vang lên.
BJT 1697Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đạo Sư đứng ở không trung đã làm cho đám đông người bị giao động.
BJT 1698Tất cả chư Thiên mừng rỡ, buông bỏ áo giáp và vũ khí, liền khi ấy đã đảnh lễ đấng Toàn Giác rồi ngồi xuống, có sự chăm chú.
BJT 1699Biết được ý định của chúng tôi, Ngài đã cất cao giọng nói. Là bậc có lòng thương xót, đấng Hiểu Biết Thế Gian đã giúp cho đám đông dân chúng thành tựu Niết Bàn:
BJT 1700“Người có tâm sân hận hãm hại một mạng sống, do sự sân hận ấy của tâm (người này) sanh vào địa ngục.
BJT 1701Ví như con voi đối đầu trong chiến trận hãm hại nhiều mạng người, các ngươi hãy làm tâm của mình được tịnh lặng, chớ có giết hại lần này lần khác.”
BJT 1702Ngay cả các binh đội của hai vị vua Dạ-xoa cũng đã bị kinh ngạc. Và họ đã đi đến nương nhờ đấng Trưởng Thượng của thế gian hoàn thiện như thế ấy.
BJT 1703Bậc Hữu Nhãn đã khiến cho dân chúng suy tưởng, hơn nữa còn tiếp độ họ. Ngay trong khi đang cùng với chư Thiên xem xét, Ngài đã ra đi mặt hướng phía bắc.
BJT 1704(Đây là) lần đầu tiên tôi đã đi đến nương nhờ đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1705(Trước đây) ba mươi ngàn kiếp, mười sáu vị vua lãnh đạo chiến xa tên Mahādundubhi đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1706Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saraṇagamanīyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Ubhinnaṁ devarājūnaṁ,
saṅgāmo samupaṭṭhito;
Ahosi samupabyūḷho,
mahāghoso avattatha.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Antalikkhe ṭhito satthā,
saṁvejesi mahājanaṁ.
Sabbe devā attamanā,
nikkhittakavacāvudhā;
Sambuddhaṁ abhivādetvā,
ekaggāsiṁsu tāvade.
Mayhaṁ saṅkappamaññāya,
vācāsabhimudīrayi;
Anukampako lokavidū,
nibbāpesi mahājanaṁ.
Paduṭṭhacitto manujo,
ekapāṇaṁ viheṭhayaṁ;
Tena cittappadosena,
apāyaṁ upapajjati.
Saṅgāmasīse nāgova,
bahū pāṇe viheṭhayaṁ;
Nibbāpetha sakaṁ cittaṁ,
mā haññittho punappunaṁ.
Dvinnampi yakkharājūnaṁ,
senā sā vimhitā ahu;
Saraṇañca upāgacchuṁ,
lokajeṭṭhaṁ sutādinaṁ.
Saññāpetvāna janataṁ,
padamuddhari cakkhumā;
Pekkhamānova devehi,
pakkāmi uttarāmukho.
Paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchiṁ,
dvipadindassa tādino;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Mahādundubhināmā ca,
soḷasāsuṁ rathesabhā;
Tiṁsakappasahassamhi,
rājāno cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saraṇagamaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saraṇagamaniyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 1696 The battle between both god-kings
had by then come into being.
A huge crowd was gathered for it,
making a very loud racket. Verse 1
Walt 1697 Padumuttara, World-Knower,
Sacrificial Recipient,
the Teacher, standing in the sky,
then made many people feel moved. Verse 2
Walt 1698 All of the gods were delighted;
their weapons and mail were thrown down.
Having worshipped the Sambuddha
they then stood off to one side there. Verse 3
Walt 1699 Discerning what we were thinking,
the Compassionate, World-Knower,
uttered majestic words just then,
bringing many to nirvana. Verse 4
Walt 1700 “One man with evil in his heart
might harm a single living being.
Because of that stain on his heart
he will be reborn in some hell. Verse 5
Walt 1701 An elephant on the battle front
might harm so many living beings,
but if he cools off his own heart
he won’t be killed repeatedly.” Verse 6
Walt 1702 Both of the armies of those two
spirit-kings were then astonished.
And they went to the World’s Best One,
the Neutral One, to take refuge. Verse 7
Walt 1703 After he’d convinced the people,
the Eyeful One then rose upwards,
and being seen by all the gods,
he departed, facing the north. Verse 8
Walt 1704 I was first to go for refuge
to the Biped-Lord, Neutral One.
For one hundred thousand aeons
I’ve come to know no bad rebirth. Verse 9
Walt 1705 In the thirty thousandth aeon
there were sixteen chariot-bulls,
kings who turned the wheel of the Law,
all were named Mahādundubhi. Verse 10
Walt 1706 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 11
Thus indeed Venerable Saraṇāgamaniya Thera spoke these verses.
The legend of Saraṇāgamaniya Thera is finished.
BJT 1696Cuộc giao chiến giữa hai vị Thiên Vương đang diễn tiến đã trở nên hỗn độn, tiếng kêu la ầm ĩ đã vang lên.
BJT 1697Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Đạo Sư đứng ở không trung đã làm cho đám đông người bị giao động.
BJT 1698Tất cả chư Thiên mừng rỡ, buông bỏ áo giáp và vũ khí, liền khi ấy đã đảnh lễ đấng Toàn Giác rồi ngồi xuống, có sự chăm chú.
BJT 1699Biết được ý định của chúng tôi, Ngài đã cất cao giọng nói. Là bậc có lòng thương xót, đấng Hiểu Biết Thế Gian đã giúp cho đám đông dân chúng thành tựu Niết Bàn:
BJT 1700“Người có tâm sân hận hãm hại một mạng sống, do sự sân hận ấy của tâm (người này) sanh vào địa ngục.
BJT 1701Ví như con voi đối đầu trong chiến trận hãm hại nhiều mạng người, các ngươi hãy làm tâm của mình được tịnh lặng, chớ có giết hại lần này lần khác.”
BJT 1702Ngay cả các binh đội của hai vị vua Dạ-xoa cũng đã bị kinh ngạc. Và họ đã đi đến nương nhờ đấng Trưởng Thượng của thế gian hoàn thiện như thế ấy.
BJT 1703Bậc Hữu Nhãn đã khiến cho dân chúng suy tưởng, hơn nữa còn tiếp độ họ. Ngay trong khi đang cùng với chư Thiên xem xét, Ngài đã ra đi mặt hướng phía bắc.
BJT 1704(Đây là) lần đầu tiên tôi đã đi đến nương nhờ đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1705(Trước đây) ba mươi ngàn kiếp, mười sáu vị vua lãnh đạo chiến xa tên Mahādundubhi đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1706Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Saraṇagamanīyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Ubhinnaṁ devarājūnaṁ,
saṅgāmo samupaṭṭhito;
Ahosi samupabyūḷho,
mahāghoso avattatha.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Antalikkhe ṭhito satthā,
saṁvejesi mahājanaṁ.
Sabbe devā attamanā,
nikkhittakavacāvudhā;
Sambuddhaṁ abhivādetvā,
ekaggāsiṁsu tāvade.
Mayhaṁ saṅkappamaññāya,
vācāsabhimudīrayi;
Anukampako lokavidū,
nibbāpesi mahājanaṁ.
Paduṭṭhacitto manujo,
ekapāṇaṁ viheṭhayaṁ;
Tena cittappadosena,
apāyaṁ upapajjati.
Saṅgāmasīse nāgova,
bahū pāṇe viheṭhayaṁ;
Nibbāpetha sakaṁ cittaṁ,
mā haññittho punappunaṁ.
Dvinnampi yakkharājūnaṁ,
senā sā vimhitā ahu;
Saraṇañca upāgacchuṁ,
lokajeṭṭhaṁ sutādinaṁ.
Saññāpetvāna janataṁ,
padamuddhari cakkhumā;
Pekkhamānova devehi,
pakkāmi uttarāmukho.
Paṭhamaṁ saraṇaṁ gacchiṁ,
dvipadindassa tādino;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Mahādundubhināmā ca,
soḷasāsuṁ rathesabhā;
Tiṁsakappasahassamhi,
rājāno cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā saraṇagamaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saraṇagamaniyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.