BJT 5448Vào lúc bấy giờ, là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī, tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 5449Tôi đã cầm lấy trái dừa và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh trong khi đứng ở trên hư không.
BJT 5450Trái cây đã được tôi dâng cúng đến đức Phật với tâm ý trong sạch, đối với tôi là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đưa đến sự an lạc trong thời hiện tại.
BJT 5451Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc lớn lao và sự an lạc cùng tột. Khi tôi được sanh ra ở nơi này nơi nọ, châu báu còn hiện lên cho tôi.
BJT 5452Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5453Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5454Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5455Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5456Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nāḷikeradāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nāḷikeradāyaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa kaṇikāra, một bình bát, vị có trái cây kāsumāri, trái cây avaṭalà tương tợ, và trái cây vāra, trái chanh, trái cây ajeli, luôn cả trái cây amoda, trái cây thốt nốt, và trái dừa là tương tợ. Các câu kệ đã được tính đếm ở đây là một trăm câu kệ, không có hơn kém.
Phẩm Kaṇikāra là phẩm thứ năm mươi mốt.
“Nagare bandhumatiyā,
ārāmiko ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Nāḷikeraphalaṁ gayha,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāse ṭhitako santo,
paṭiggaṇhi mahāyaso.
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigacchiṁ tadā pītiṁ,
vipulañca sukhuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Dibbacakkhu visuddhaṁ me,
samādhikusalo ahaṁ;
Abhiññāpāramippatto,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā nāḷikeraphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Nāḷikeraphaladāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kaṇikāravaggo ekapaññāsamo.
Tassuddānaṁ
Kaṇikārekapattā ca,
kāsumārī tathāvaṭā;
Pādañca mātuluṅgañca,
ajelīmodameva ca.
Tālaṁ tathā nāḷikeraṁ,
gāthāyo gaṇitā viha;
Ekaṁ gāthāsataṁ hoti,
ūnādhikavivajjitaṁ.
Walt 5448 In the city, Bandhumatī,
I worked in a hermitage then.
I saw the Spotless One, Buddha,
who was traveling through the sky. Verse 1
Walt 5449 Having taken a coconut,
I gave it to the Best Buddha.
Standing in the sky, the Calm One,
the Great Famed One accepted it. Verse 2
Walt 5450-5451 With a mind that was very clear,
having given Buddha that fruit,
productive of delight for me,
bringing happiness in this world,
I then came to possess great joy
and vast, ultimate happiness.
A gem was truly produced for
me, being reborn here and there. Verse 3-4
Walt 5452 In the ninety-one aeons since
I gave the Buddha fruit back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 5
Walt 5453 The divine eye is purified;
I’m skilled in meditative states.
Special knowledges perfected:
that is the fruit of giving fruit. Verse 6
Walt 5454 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 7
Walt 5455 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Walt 5456 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Nāḷikeradāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Nāḷikeradāyaka Thera is finished.
The Summary:
Kaṇikār’,and Ekapatta,
Kāsumārī, thus Āvaṭa,
Pāra and Mātuluṅga too,
Ajela, also Amora,
Tāla and thus Nāḷikera:
the verses that are counted here
number just one hundred verses,
avoiding any less or more.
The Kaṇikāra Chapter, the Fifty-First
BJT 5448Vào lúc bấy giờ, là người phụ việc tu viện ở thành phố Bandhumatī, tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm đang di chuyển ở trên không trung.
BJT 5449Tôi đã cầm lấy trái dừa và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng. Bậc có danh vọng lớn lao đã thọ lãnh trong khi đứng ở trên hư không.
BJT 5450Trái cây đã được tôi dâng cúng đến đức Phật với tâm ý trong sạch, đối với tôi là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc đưa đến sự an lạc trong thời hiện tại.
BJT 5451Khi ấy, tôi đã đạt đến niềm phỉ lạc lớn lao và sự an lạc cùng tột. Khi tôi được sanh ra ở nơi này nơi nọ, châu báu còn hiện lên cho tôi.
BJT 5452Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5453Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi là thiện xảo về định, đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 5454Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5455Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5456Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nāḷikeradāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Nāḷikeradāyaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Bông hoa kaṇikāra, một bình bát, vị có trái cây kāsumāri, trái cây avaṭalà tương tợ, và trái cây vāra, trái chanh, trái cây ajeli, luôn cả trái cây amoda, trái cây thốt nốt, và trái dừa là tương tợ. Các câu kệ đã được tính đếm ở đây là một trăm câu kệ, không có hơn kém.
Phẩm Kaṇikāra là phẩm thứ năm mươi mốt.
“Nagare bandhumatiyā,
ārāmiko ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Nāḷikeraphalaṁ gayha,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Ākāse ṭhitako santo,
paṭiggaṇhi mahāyaso.
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho;
Phalaṁ buddhassa datvāna,
vippasannena cetasā.
Adhigacchiṁ tadā pītiṁ,
vipulañca sukhuttamaṁ;
Uppajjateva ratanaṁ,
nibbattassa tahiṁ tahiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Dibbacakkhu visuddhaṁ me,
samādhikusalo ahaṁ;
Abhiññāpāramippatto,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā nāḷikeraphaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Nāḷikeraphaladāyakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kaṇikāravaggo ekapaññāsamo.
Tassuddānaṁ
Kaṇikārekapattā ca,
kāsumārī tathāvaṭā;
Pādañca mātuluṅgañca,
ajelīmodameva ca.
Tālaṁ tathā nāḷikeraṁ,
gāthāyo gaṇitā viha;
Ekaṁ gāthāsataṁ hoti,
ūnādhikavivajjitaṁ.