BJT 60Trong khi bậc Đạo Sư tên Tissa đang đi khất thực, tôi đã nâng lên muỗng vật thực và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 61Sau khi thọ lãnh, đấng Toàn Giác Tissa bậc Đạo Sư vị Lãnh Đạo cao cả của thế gian, đứng ở đường lộ, đã thực hiện lời tùy hỷ (phước báu) đến tôi:
BJT 62“Sau khi bố thí muỗng vật thực, con sẽ đi đến cõi trời Đạo Lợi. Con sẽ làm chánh hậu của ba mươi sáu vị Thiên Vương.
BJT 63Con sẽ làm chánh hậu của năm mươi đấng Chuyển Luân Vương. Con sẽ luôn luôn thành tựu tất cả các điều ước nguyện ở trong tâm.
BJT 64Sau khi thọ hưởng sự thành đạt, con sẽ xuất gia không có (tài sản) gì. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, con sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 65Nói xong điều ấy, đấng Toàn Giác Tissa bậc Trí Tuệ vị Lãnh Đạo cao cả của thế gian đã bay lên không trung, tợ như loài thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 66Đối với tôi, sự bố thí cao quý là đã được bố thí tốt đẹp, sự thành công trong việc cống hiến là đã được cống hiến tốt đẹp. Sau khi bố thí muỗng vật thực, tôi đã đạt đến vị thế không bị lay chuyển.
BJT 67Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thực.
BJT 68Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 69Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 70Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Kaṭacchubhikkhādāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Kaṭacchubhikkhadāyikā là phần thứ bảy.
“Piṇḍacāraṁ carantassa,
tissanāmassa satthuno;
Kaṭacchubhikkhaṁ paggayha,
buddhaseṭṭhassa dāsahaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
tisso lokagganāyako;
Vīthiyā saṇṭhito satthā,
akā me anumodanaṁ.
‘Kaṭacchubhikkhaṁ datvāna,
tāvatiṁsaṁ gamissasi;
Chattiṁsadevarājūnaṁ,
mahesittaṁ karissasi.
Paññāsaṁ cakkavattīnaṁ,
mahesittaṁ karissasi;
Manasā patthitaṁ sabbaṁ,
paṭilacchasi sabbadā.
Sampattiṁ anubhotvāna,
pabbajissasikiñcanā;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissasināsavā’.
Idaṁ vatvāna sambuddho,
tisso lokagganāyako;
Nabhaṁ abbhuggamī vīro,
haṁsarājāva ambare.
Sudinnaṁ me dānavaraṁ,
suyiṭṭhā yāgasampadā;
Kaṭacchubhikkhaṁ datvāna,
pattāhaṁ acalaṁ padaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ dānamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
bhikkhādānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ kaṭacchubhikkhādāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kaṭacchubhikkhādāyikātheriyāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 60 Taking a spoonful of begged food,
I gave it to the Best Buddha,
the Teacher, whose name was Tissa,
who was wandering, begging food. Verse 1
Walt 61 Accepting it, the Sambuddha,
Tissa, Chief Leader of the World,
the Teacher, standing on the road,
uttered this thanksgiving to me: Verse 2
Walt 62 “Giving this spoonful of begged food,
you will go to Tāvatiṁsa.
You’ll be fixed in the chief queen’s place
of thirty-six kings of the gods. Verse 3
Walt 63 You’ll be fixed in the chief queen’s place
of fifty kings who turn the wheel.
Everything your mind may wish for,
you will receive it every day. Verse 4
Walt 64 Having enjoyed great happiness,
you will go forth, possessionless.
Destroying all your defilements,
you’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 5
Walt 65 Having said this, the Sambuddha,
Tissa, Chief Leader of the World,
the Hero, flew into the sky,
just like a swan-king in the air. Verse 6
Walt 66 Well-given was my superb gift;
well-sacrificed my sacrifice.
Giving that spoonful of begged food,
I’ve attained the unshaking state. Verse 7
Walt 67 In the ninety-two aeons since
I gave that almsgiving back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving begged food. Verse 8
Walt 68 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 9
Walt 69 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Walt 70 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 11
Thus indeed Bhikkhunī Kaṭacchubhikkhadāyikā spoke these verses.
The legend of Kaṭacchubhikkhadāyikā Therī is finished.
BJT 60Trong khi bậc Đạo Sư tên Tissa đang đi khất thực, tôi đã nâng lên muỗng vật thực và đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 61Sau khi thọ lãnh, đấng Toàn Giác Tissa bậc Đạo Sư vị Lãnh Đạo cao cả của thế gian, đứng ở đường lộ, đã thực hiện lời tùy hỷ (phước báu) đến tôi:
BJT 62“Sau khi bố thí muỗng vật thực, con sẽ đi đến cõi trời Đạo Lợi. Con sẽ làm chánh hậu của ba mươi sáu vị Thiên Vương.
BJT 63Con sẽ làm chánh hậu của năm mươi đấng Chuyển Luân Vương. Con sẽ luôn luôn thành tựu tất cả các điều ước nguyện ở trong tâm.
BJT 64Sau khi thọ hưởng sự thành đạt, con sẽ xuất gia không có (tài sản) gì. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, con sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 65Nói xong điều ấy, đấng Toàn Giác Tissa bậc Trí Tuệ vị Lãnh Đạo cao cả của thế gian đã bay lên không trung, tợ như loài thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 66Đối với tôi, sự bố thí cao quý là đã được bố thí tốt đẹp, sự thành công trong việc cống hiến là đã được cống hiến tốt đẹp. Sau khi bố thí muỗng vật thực, tôi đã đạt đến vị thế không bị lay chuyển.
BJT 67Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng vật thực.
BJT 68Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 69Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 70Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Kaṭacchubhikkhādāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Kaṭacchubhikkhadāyikā là phần thứ bảy.
“Piṇḍacāraṁ carantassa,
tissanāmassa satthuno;
Kaṭacchubhikkhaṁ paggayha,
buddhaseṭṭhassa dāsahaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
tisso lokagganāyako;
Vīthiyā saṇṭhito satthā,
akā me anumodanaṁ.
‘Kaṭacchubhikkhaṁ datvāna,
tāvatiṁsaṁ gamissasi;
Chattiṁsadevarājūnaṁ,
mahesittaṁ karissasi.
Paññāsaṁ cakkavattīnaṁ,
mahesittaṁ karissasi;
Manasā patthitaṁ sabbaṁ,
paṭilacchasi sabbadā.
Sampattiṁ anubhotvāna,
pabbajissasikiñcanā;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissasināsavā’.
Idaṁ vatvāna sambuddho,
tisso lokagganāyako;
Nabhaṁ abbhuggamī vīro,
haṁsarājāva ambare.
Sudinnaṁ me dānavaraṁ,
suyiṭṭhā yāgasampadā;
Kaṭacchubhikkhaṁ datvāna,
pattāhaṁ acalaṁ padaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ dānamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
bhikkhādānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ kaṭacchubhikkhādāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kaṭacchubhikkhādāyikātheriyāpadānaṁ sattamaṁ.