“Thưa ngài Nāgasena, thức có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người giữ thành, ngồi ở ngã tư giữa thành phố, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng đông, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng nam, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng tây, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế con người nhìn thấy cảnh sắc bằng con mắt và nhận biết sắc ấy bằng thức, nghe âm thanh bằng tai và nhận biết thinh ấy bằng thức, ngửi mùi bằng mũi và nhận biết hương ấy bằng thức, nếm vị bằng lưỡi và nhận biết vị ấy bằng thức, chạm cảnh xúc bằng thân và nhận biết xúc ấy bằng thức, nhận thức cảnh pháp bằng ý và nhận biết pháp ấy bằng thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇaṁ viññāṇan”ti?
“Vijānanalakkhaṇaṁ, mahārāja, viññāṇan”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, nagaraguttiko majjhe nagarasiṅghāṭake nisinno passeyya puratthimadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya dakkhiṇadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya pacchimadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya uttaradisato purisaṁ āgacchantaṁ;
evameva kho, mahārāja, yañca puriso cakkhunā rūpaṁ passati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca sotena saddaṁ suṇāti, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca ghānena gandhaṁ ghāyati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca jivhāya rasaṁ sāyati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca kāyena phoṭṭhabbaṁ phusati, taṁ viññāṇena vijānāti, yañca manasā dhammaṁ vijānāti, taṁ viññāṇena vijānāti.
Evaṁ kho, mahārāja, vijānanalakkhaṇaṁ viññāṇan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Viññāṇalakkhaṇapañho dvādasamo.
PTS cs 12 ‘What, Nāgasena, is the distinguishing characteristic of perception (Viññāṇa)?’
‘Recognition, great king.’
‘Give me an illustration.’
‘It is like the case of the guardian of a city who, when seated at the cross roads in the middle of the city, could see a man coming from the East, or the South, or the West, or the North. In the same way, O king, he knows an object which he sees with his eye, or a sound which he hears with his ear, or an odour which he smells by his nose, or a taste which he experiences with his tongue, or a touchable thing which he touches with his body, or a quality that he recognises by his mind. Thus is it, great king, that knowing is the mark of perception.’
‘Very good, Nāgasena!’
“Thưa ngài Nāgasena, thức có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người giữ thành, ngồi ở ngã tư giữa thành phố, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng đông, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng nam, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng tây, có thể nhìn thấy người đang đi đến từ hướng bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế con người nhìn thấy cảnh sắc bằng con mắt và nhận biết sắc ấy bằng thức, nghe âm thanh bằng tai và nhận biết thinh ấy bằng thức, ngửi mùi bằng mũi và nhận biết hương ấy bằng thức, nếm vị bằng lưỡi và nhận biết vị ấy bằng thức, chạm cảnh xúc bằng thân và nhận biết xúc ấy bằng thức, nhận thức cảnh pháp bằng ý và nhận biết pháp ấy bằng thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thức có sự nhận biết là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇaṁ viññāṇan”ti?
“Vijānanalakkhaṇaṁ, mahārāja, viññāṇan”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, nagaraguttiko majjhe nagarasiṅghāṭake nisinno passeyya puratthimadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya dakkhiṇadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya pacchimadisato purisaṁ āgacchantaṁ, passeyya uttaradisato purisaṁ āgacchantaṁ;
evameva kho, mahārāja, yañca puriso cakkhunā rūpaṁ passati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca sotena saddaṁ suṇāti, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca ghānena gandhaṁ ghāyati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca jivhāya rasaṁ sāyati, taṁ viññāṇena vijānāti.
Yañca kāyena phoṭṭhabbaṁ phusati, taṁ viññāṇena vijānāti, yañca manasā dhammaṁ vijānāti, taṁ viññāṇena vijānāti.
Evaṁ kho, mahārāja, vijānanalakkhaṇaṁ viññāṇan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Viññāṇalakkhaṇapañho dvādasamo.