Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ và điểm mốc đầu tiên ấy là cái nào?”
“Tâu đại vương, cái nào là hành trình quá khứ, cái ấy là điểm mốc đầu tiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ thưa ngài, phải chăng hết thảy tất cả điểm mốc đầu tiên đều không được nhận biết?”
“Tâu đại vương, có điểm mốc được nhận biết, có điểm mốc không được nhận biết.”
“Thưa ngài, điểm mốc nào được nhận biết, điểm mốc nào không được nhận biết?”
“Tâu đại vương, từ đây trở về trước, với mọi hình thức, bằng mọi cách, vô minh đã không hiện hữu, điểm mốc đầu tiên ấy không được nhận biết. Còn (hành trình) nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, thì điểm mốc đầu tiên ấy được nhận biết.”
“Thưa ngài Nāgasena, hành trình nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, chẳng lẽ nó được cắt ở hai đầu thì biến mất?”
“Tâu đại vương, nếu (hành trình) được cắt ở hai đầu thì biến mất, có phải (điểm mốc) được cắt ở hai đầu thì có thể tăng trưởng?”
“Đúng vậy, nó cũng có thể tăng trưởng.”
“Thưa ngài, trẫm không hỏi điều này, phải chăng có thể tăng trưởng từ điểm mốc?”
“Đúng vậy, có thể tăng trưởng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
Vị trưởng lão đã làm ví dụ về cái cây cho đức vua (rồi kết luận): “Và các uẩn là các mầm mống của toàn bộ khổ uẩn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘purimā koṭi na paññāyatī’ti, katamā ca sā purimā koṭī”ti?
“Yo kho, mahārāja, atīto addhā, esā purimā koṭī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘purimā koṭi na paññāyatī’ti, kiṁ pana, bhante, sabbāpi purimā koṭi na paññāyatī”ti?
“Kāci, mahārāja, paññāyati, kāci na paññāyatī”ti.
“Katamā, bhante, paññāyati, katamā na paññāyatī”ti?
“Ito pubbe, mahārāja, sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ avijjā nāhosīti esā purimā koṭi na paññāyati, yaṁ ahutvā sambhoti, hutvā paṭivigacchati, esā purimā koṭi paññāyatī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ ahutvā sambhoti, hutvā paṭivigacchati, nanu taṁ ubhato chinnaṁ atthaṁ gacchatī”ti?
“Yadi, mahārāja, ubhato chinnaṁ atthaṁ gacchati, ubhato chinnā sakkā vaḍḍhetun”ti?
“Āma sāpi sakkā vaḍḍhetun”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ pucchāmi koṭito sakkā vaḍḍhetun”ti?
“Āma sakkā vaḍḍhetun”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
Thero tassa rukkhūpamaṁ akās, “khandhā ca kevalassa dukkhakkhandhassa bījānī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Koṭipaññāyanapañho tatiyo.
PTS cs 3 The king said: ‘When you say that the ultimate point is not apparent, what do you mean by “ultimate point”?’
‘Of whatsoever time is past. It is the ultimate point of that, O king, that I speak of.’
‘But, if so, when you say that it is not apparent, do you mean to say that of everything? Is the ultimate point of everything unknown?’
‘Partly so, and partly not.’
‘Then which is so, and which not?’
‘Formerly, O king, everything in every form, everything in every mode, was ignorance. It is to us as if it were not. In reference to that the ultimate beginning is unknown. But that, which has not been, becomes; as soon as it has begun to become it dissolves away again. In reference to that the ultimate beginning is known.’ PTS vp Pali 52
‘But, reverend Sir, if that which was not, becomes, and as soon as it has begun to become passes again PTS vp En 82 away, then surely, being thus cut off at both ends, it must be entirely destroyed ?’
‘Nay, surely, O king, if it be thus cut off at both ends, can it not at both ends be made to grow again ?’
‘Yes, it might. But that is not my question. Could it grow again from the point at which it was cut off?’
‘Certainly.’
‘Give me an illustration.’
Then the Elder repeated the simile of the tree and the seed, and said that the Skandhas (the constituent elements of all life, organic and inorganic) were so many seeds, and the king confessed himself satisfied.
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ và điểm mốc đầu tiên ấy là cái nào?”
“Tâu đại vương, cái nào là hành trình quá khứ, cái ấy là điểm mốc đầu tiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ thưa ngài, phải chăng hết thảy tất cả điểm mốc đầu tiên đều không được nhận biết?”
“Tâu đại vương, có điểm mốc được nhận biết, có điểm mốc không được nhận biết.”
“Thưa ngài, điểm mốc nào được nhận biết, điểm mốc nào không được nhận biết?”
“Tâu đại vương, từ đây trở về trước, với mọi hình thức, bằng mọi cách, vô minh đã không hiện hữu, điểm mốc đầu tiên ấy không được nhận biết. Còn (hành trình) nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, thì điểm mốc đầu tiên ấy được nhận biết.”
“Thưa ngài Nāgasena, hành trình nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, chẳng lẽ nó được cắt ở hai đầu thì biến mất?”
“Tâu đại vương, nếu (hành trình) được cắt ở hai đầu thì biến mất, có phải (điểm mốc) được cắt ở hai đầu thì có thể tăng trưởng?”
“Đúng vậy, nó cũng có thể tăng trưởng.”
“Thưa ngài, trẫm không hỏi điều này, phải chăng có thể tăng trưởng từ điểm mốc?”
“Đúng vậy, có thể tăng trưởng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
Vị trưởng lão đã làm ví dụ về cái cây cho đức vua (rồi kết luận): “Và các uẩn là các mầm mống của toàn bộ khổ uẩn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘purimā koṭi na paññāyatī’ti, katamā ca sā purimā koṭī”ti?
“Yo kho, mahārāja, atīto addhā, esā purimā koṭī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘purimā koṭi na paññāyatī’ti, kiṁ pana, bhante, sabbāpi purimā koṭi na paññāyatī”ti?
“Kāci, mahārāja, paññāyati, kāci na paññāyatī”ti.
“Katamā, bhante, paññāyati, katamā na paññāyatī”ti?
“Ito pubbe, mahārāja, sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ avijjā nāhosīti esā purimā koṭi na paññāyati, yaṁ ahutvā sambhoti, hutvā paṭivigacchati, esā purimā koṭi paññāyatī”ti.
“Bhante nāgasena, yaṁ ahutvā sambhoti, hutvā paṭivigacchati, nanu taṁ ubhato chinnaṁ atthaṁ gacchatī”ti?
“Yadi, mahārāja, ubhato chinnaṁ atthaṁ gacchati, ubhato chinnā sakkā vaḍḍhetun”ti?
“Āma sāpi sakkā vaḍḍhetun”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ pucchāmi koṭito sakkā vaḍḍhetun”ti?
“Āma sakkā vaḍḍhetun”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
Thero tassa rukkhūpamaṁ akās, “khandhā ca kevalassa dukkhakkhandhassa bījānī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Koṭipaññāyanapañho tatiyo.