Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải ý thức sanh lên ở nơi nào thì xúc, thọ cũng sanh lên ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ý thức sanh lên ở nơi nào thì xúc cũng sanh lên ở nơi ấy, thọ cũng sanh lên ở nơi ấy, tưởng cũng sanh lên ở nơi ấy, tư cũng sanh lên ở nơi ấy, tầm cũng sanh lên ở nơi ấy, tứ cũng sanh lên ở nơi ấy, tất cả các pháp có thọ đứng đầu cũng sanh lên ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, xúc có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, xúc có sự chạm vào là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai con cừu húc nhau. Trong hai con cừu ấy, một con cừu được xem như là mắt, con cừu thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai bàn tay được vỗ vào nhau. Trong hai bàn tay ấy, một bàn tay được xem như là mắt, bàn tay thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai chập chõa được vỗ vào nhau. Trong hai chập chõa ấy, một chập chõa được xem như là mắt, chập chõa thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yattha manoviññāṇaṁ uppajjati, phassopi vedanāpi tattha uppajjatī”ti?
“Āma, mahārāja, yattha manoviññāṇaṁ uppajjati, phassopi tattha uppajjati, vedanāpi tattha uppajjati, saññāpi tattha uppajjati, cetanāpi tattha uppajjati, vitakkopi tattha uppajjati, vicāropi tattha uppajjati, sabbepi phassappamukhā dhammā tattha uppajjantī”ti.
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇo phasso”ti?
“Phusanalakkhaṇo, mahārāja, phasso”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve meṇḍā yujjheyyuṁ, tesu yathā eko meṇḍo, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo meṇḍo, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve pāṇī vajjeyyuṁ, tesu yathā eko pāṇi, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo pāṇi, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve sammā vajjeyyuṁ, tesu yathā eko sammo, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo sammo, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Phassalakkhaṇapañho aṭṭhamo.
PTS cs 8 The king said: ‘Where thought (mental perception) is, Nāgasena, is there always sensation?’
‘Yes, where thought arises there is contact, and there is sensation, and there is idea, and there is conceived intention, and there is reflection; and there is investigation.’
PTS cs 9 ‘Reverend Sir, what is the distinguishing characteristic of contact (Phassa)?’
‘Touch, O king.’
‘But give me an illustration.’
‘It is as when two rams are butting together, O PTS vp En 93 king. The eye should be regarded as one of those two, the form (object) as the other, and the contact as the union of the two.’
‘Give me a further illustration.’
‘It is as when two cymbals are clashed together. The one is as the eye, the other as the object, and the junction of the two is like contact.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải ý thức sanh lên ở nơi nào thì xúc, thọ cũng sanh lên ở nơi ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Ý thức sanh lên ở nơi nào thì xúc cũng sanh lên ở nơi ấy, thọ cũng sanh lên ở nơi ấy, tưởng cũng sanh lên ở nơi ấy, tư cũng sanh lên ở nơi ấy, tầm cũng sanh lên ở nơi ấy, tứ cũng sanh lên ở nơi ấy, tất cả các pháp có thọ đứng đầu cũng sanh lên ở nơi ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, xúc có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, xúc có sự chạm vào là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai con cừu húc nhau. Trong hai con cừu ấy, một con cừu được xem như là mắt, con cừu thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai bàn tay được vỗ vào nhau. Trong hai bàn tay ấy, một bàn tay được xem như là mắt, bàn tay thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Xin ngài cho thêm ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như hai chập chõa được vỗ vào nhau. Trong hai chập chõa ấy, một chập chõa được xem như là mắt, chập chõa thứ hai được xem như là cảnh sắc. Sự va chạm nhau của chúng được xem như là xúc.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yattha manoviññāṇaṁ uppajjati, phassopi vedanāpi tattha uppajjatī”ti?
“Āma, mahārāja, yattha manoviññāṇaṁ uppajjati, phassopi tattha uppajjati, vedanāpi tattha uppajjati, saññāpi tattha uppajjati, cetanāpi tattha uppajjati, vitakkopi tattha uppajjati, vicāropi tattha uppajjati, sabbepi phassappamukhā dhammā tattha uppajjantī”ti.
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇo phasso”ti?
“Phusanalakkhaṇo, mahārāja, phasso”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve meṇḍā yujjheyyuṁ, tesu yathā eko meṇḍo, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo meṇḍo, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve pāṇī vajjeyyuṁ, tesu yathā eko pāṇi, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo pāṇi, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Bhiyyo opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, dve sammā vajjeyyuṁ, tesu yathā eko sammo, evaṁ cakkhu daṭṭhabbaṁ.
Yathā dutiyo sammo, evaṁ rūpaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yathā tesaṁ sannipāto, evaṁ phasso daṭṭhabbo”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Phassalakkhaṇapañho aṭṭhamo.