Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải sự hiểu biết có thể đạt được?”
“Tâu đại vương, sự hiểu biết ấy là cái gì?”
“Thưa ngài, sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng nam. Bạch ngài, tương tợ y như thế sự sống bên trong này muốn nhìn bằng cửa lớn nào thì nhìn bằng cửa lớn ấy.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, tôi sẽ nói về năm cửa lớn (ngũ môn, năm giác quan). Đại vương hãy lắng nghe điều ấy, đại vương hãy khéo chú ý. Nếu sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng nam. Như vậy, với sự sống bên trong này, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mắt, phải chăng cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng tai, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mũi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng lưỡi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng thân, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng ý; phải chăng âm thanh có thể được nghe bằng mắt, âm thanh có thể được nghe bằng mũi, âm thanh có thể được nghe bằng lưỡi, âm thanh có thể được nghe bằng thân, âm thanh có thể được nghe bằng ý; phải chăng mùi có thể được ngửi bằng mắt, mùi có thể được ngửi bằng tai, mùi có thể được ngửi bằng lưỡi, mùi có thể được ngửi bằng thân, mùi có thể được ngửi bằng ý; phải chăng vị có thể được nếm bằng mắt, vị có thể được nếm bằng tai, vị có thể được nếm bằng mũi, vị có thể được nếm bằng thân, vị có thể được nếm bằng ý; phải chăng cảnh xúc có thể được chạm bằng mắt, cảnh xúc có thể được chạm bằng tai, cảnh xúc có thể được chạm bằng mũi, cảnh xúc có thể được chạm bằng lưỡi, cảnh xúc có thể được chạm bằng ý; phải chăng cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mắt, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng tai, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mũi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng lưỡi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng thân?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài nhìn thấy rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi hệ thống các cửa sổ này được mở rộng, như vậy sự sống bên trong này có thể nhìn thấy cảnh sắc rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các nhãn môn này được mở rộng. Phải chăng có thể nghe âm thanh, có thể ngửi mùi, có thể nếm vị, có thể chạm rõ rệt hơn cảnh xúc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các tai được mở rộng, khi mũi được mở rộng, khi lưỡi được mở rộng, khi thân được mở rộng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi vị nếm được đặt ở lưỡi, phải chăng sự sống bên trong này có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết.”
“Khi các vị nếm ấy đã đi vào bên trong (cổ họng), phải chăng có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, ví như người nào đó bảo mang lại một trăm hũ mật ong, bảo đổ đầy máng mật ong, rồi bít kín miệng của một người đàn ông và đặt vào ở máng mật ong. Tâu đại vương, người đàn ông ấy có thể biết được có mật ong hay không có?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, bởi vì mật ong đã không đi vào miệng của người ấy.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau.
“Thưa ngài, trẫm không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
Vị trưởng lão đã giúp cho đức vua Milinda hiểu được bằng sự thuyết giảng liên quan đến Vi Diệu Pháp: “Tâu đại vương, trong trường hợp này, tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng. Tùy thuận vào tai và các cảnh thin … (như trên) … Tùy thuận vào ý và các cảnh pháp mà ý thức sanh lên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, vedagū upalabbhatī”ti?
“Ko panesa, mahārāja, vedagū nāmā”ti?
“Yo, bhante, abbhantare jīvo cakkhunā rūpaṁ passati, sotena saddaṁ suṇāti, ghānena gandhaṁ ghāyati, jivhāya rasaṁ sāyati, kāyena phoṭṭhabbaṁ phusati, manasā dhammaṁ vijānāti, yathā mayaṁ idha pāsāde nisinnā yena yena vātapānena iccheyyāma passituṁ, tena tena vātapānena passeyyāma, puratthimenapi vātapānena passeyyāma, pacchimenapi vātapānena passeyyāma, uttarenapi vātapānena passeyyāma, dakkhiṇenapi vātapānena passeyyāma.
Evameva kho, bhante, ayaṁ abbhantare jīvo yena yena dvārena icchati passituṁ, tena tena dvārena passatī”ti.
Thero āha—
“pañcadvāraṁ, mahārāja, bhaṇissāmi, taṁ suṇohi, sādhukaṁ manasikarohi, yadi abbhantare jīvo cakkhunā rūpaṁ passati, yathā mayaṁ idha pāsāde nisinnā yena yena vātapānena iccheyyāma passituṁ, tena tena vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, puratthimenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, pacchimenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, uttarenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, dakkhiṇenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, evametena abbhantare jīvena sotenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, ghānenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, jivhāyapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, kāyenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, manasāpi rūpaṁyeva passitabbaṁ;
cakkhunāpi saddoyeva sotabbo, ghānenapi saddoyeva sotabbo, jivhāyapi saddoyeva sotabbo, kāyenapi saddoyeva sotabbo, manasāpi saddoyeva sotabbo;
cakkhunāpi gandhoyeva ghāyitabbo, sotenapi gandhoyeva ghāyitabbo, jivhāyapi gandhoyeva ghāyitabbo, kāyenapi gandhoyeva ghāyitabbo, manasāpi gandhoyeva ghāyitabbo;
cakkhunāpi rasoyeva sāyitabbo, sotenapi rasoyeva sāyitabbo, ghānenapi rasoyeva sāyitabbo, kāyenapi rasoyeva sāyitabbo, manasāpi rasoyeva sāyitabbo;
cakkhunāpi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ, sotenapi phoṭṭhabbaṁ yeva phusitabbaṁ, ghānenapi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ, jivhāyapi phoṭṭhabbaṁ yeva phusitabbaṁ, manasāpi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ;
cakkhunāpi dhammaṁ yeva vijānitabbaṁ, sotenapi dhammaṁyeva vijānitabbaṁ, ghānenapi dhammaṁ yeva vijānitabbaṁ, jivhāyapi dhammaṁyeva vijānitabbaṁ, kāyenapi dhammaṁyeva vijānitabban”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā vā pana, mahārāja, mayaṁ idha pāsāde nisinnā imesu jālavātapānesu ugghāṭitesu mahantena ākāsena bahimukhā suṭṭhutaraṁ rūpaṁ passāma, evametena abbhantare jīvenāpi cakkhudvāresu ugghāṭitesu mahantena ākāsena suṭṭhutaraṁ rūpaṁ passitabbaṁ, sotesu ugghāṭitesu … ghāne ugghāṭite … jivhāya ugghāṭitāya … kāye ugghāṭite mahantena ākāsena suṭṭhutaraṁ saddo sotabbo, gandho ghāyitabbo, raso sāyitabbo, phoṭṭhabbo phusitabbo”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā vā pana, mahārāja, ayaṁ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake tiṭṭheyya, jānāsi tvaṁ, mahārāja, ‘ayaṁ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake ṭhito’”ti?
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Yathā vā pana, mahārāja, ayaṁ dinno anto pavisitvā tava purato tiṭṭheyya, jānāsi tvaṁ, mahārāja, ‘ayaṁ dinno anto pavisitvā mama purato ṭhito’”ti?
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, abbhantare so jīvo jivhāya rase nikkhitte jāneyya ambilattaṁ vā lavaṇattaṁ vā tittakattaṁ vā kaṭukattaṁ vā kasāyattaṁ vā madhurattaṁ vā”ti?
“Āma, bhante, jāneyyā”ti.
“Te rase anto paviṭṭhe jāneyya ambilattaṁ vā lavaṇattaṁ vā tittakattaṁ vā kaṭukattaṁ vā kasāyattaṁ vā madhurattaṁ vā”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā, mahārāja, kocideva puriso madhughaṭasataṁ āharāpetvā madhudoṇiṁ pūrāpetvā purisassa mukhaṁ pidahitvā madhudoṇiyā pakkhipeyya, jāneyya, mahārāja, so puriso madhuṁ sampannaṁ vā na sampannaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Na hi tassa, bhante, mukhe madhu paviṭṭhan”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā puriman”ti.
“Nāhaṁ paṭibalo tayā vādinā saddhiṁ sallapituṁ;
sādhu, bhante, atthaṁ jappehī”ti.
Thero abhidhammasaṁyuttāya kathāya rājānaṁ milindaṁ saññāpesi—
“idha, mahārāja, cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, taṁsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṁ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhati, sotañca paṭicca sadde ca …pe…
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, taṁsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṁ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Vedagūpañho chaṭṭho.
PTS cs 6 The king said: ‘Is there, Nāgasena, such a thing as the soul ?’
‘What is this, O king, the soul (Vedagu)?’
‘The living principle within which sees forms through the eye, hears sounds through the ear, experiences tastes through the tongue, smells odours through the nose, feels touch through the body, and discerns things (conditions, “dhammā") through the mind—just as we, sitting here in the palace, can look out of any window out of which we wish to look, the east window or the west, or the north or the south.’
The Elder replied: ‘I will tell you about the five PTS vp En 87 doors, great king. Listen, and give heed attentively. If the living principle within sees forms through the eye in the manner that you mention, PTS vp Pali 55 choosing its window as it likes, can it not then see forms not only through the eye, but also through each of the other five organs of sense? And in like manner can it not then as well hear sounds, and experience taste, and smell odours, and feel touch, and discern conditions through each of the other five organs of sense, besides the one you have in each case specified?’
‘No, Sir.’
‘Then these powers are not united one to another indiscriminately, the latter sense to the former organ, and so on. Now we, as we are seated here in the palace, with these windows all thrown open, and in full daylight, if we only stretch forth our heads, see all kinds of objects plainly. Can the living principle do the same when the doors of the eyes are thrown open? When the doors of the ear are thrown open, can it do so? Can it then not only hear sounds, but see sights, experience tastes, smell odours, feel touch, and discern conditions? And so with each of its windows?’
‘No, Sir.’
PTS vp Pali 56 ‘Then these powers are not united one to another indiscriminately. Now again, great king, if Dinna here were to go outside and stand in the gateway, would you be aware that he had done so?’
‘Yes, I should know it.’
‘And if the same Dinna were to come back again, and stand before you, would you be aware of his having done so?’ PTS vp En 88
‘Yes, I should know it.’
‘Well, great king, would the living principle within discern, in like manner, if anything possessing flavour were laid upon the tongue, its sourness, or its saltness, or its acidity, or its pungency, or its astringency, or its sweetness ?’
‘Yes, it would know it.’
‘But when the flavour had passed into the stomach would it still discern these things?’
‘Certainly not.’
‘Then these powers are not united one to the other indiscriminately. Now suppose, O king, a man were to have a hundred vessels of honey brought and poured into one trough, and then, having had another man’s mouth closed over and tied up, were to have him cast into the trough full of honey. Would he know whether that into which he had been thrown was sweet or whether it was not?’
‘No, Sir.’
‘But why not?’
‘Because the honey could not get into his mouth.’
‘Then, great king, these powers are not united one to another indiscriminately.’
‘I am not capable of discussing with such a reasoner. Be pleased, Sir, to explain to me how the matter stands.’
Then the Elder convinced Milinda the king with discourse drawn from the Abhidhamma, saying: ‘It is by reason, O king, of the eye and of forms that sight arises, and those other conditions—contact, PTS vp En 89 sensation, idea, thought, abstraction, sense of vitality, and attention —arise each simultaneously with its predecessor. And a similar succession of cause and effect arises when each of the other five organs of sense is brought into play. PTS vp Pali 57 And so herein there is no such thing as soul (Vedagu).’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải sự hiểu biết có thể đạt được?”
“Tâu đại vương, sự hiểu biết ấy là cái gì?”
“Thưa ngài, sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng nam. Bạch ngài, tương tợ y như thế sự sống bên trong này muốn nhìn bằng cửa lớn nào thì nhìn bằng cửa lớn ấy.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, tôi sẽ nói về năm cửa lớn (ngũ môn, năm giác quan). Đại vương hãy lắng nghe điều ấy, đại vương hãy khéo chú ý. Nếu sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng nam. Như vậy, với sự sống bên trong này, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mắt, phải chăng cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng tai, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mũi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng lưỡi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng thân, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng ý; phải chăng âm thanh có thể được nghe bằng mắt, âm thanh có thể được nghe bằng mũi, âm thanh có thể được nghe bằng lưỡi, âm thanh có thể được nghe bằng thân, âm thanh có thể được nghe bằng ý; phải chăng mùi có thể được ngửi bằng mắt, mùi có thể được ngửi bằng tai, mùi có thể được ngửi bằng lưỡi, mùi có thể được ngửi bằng thân, mùi có thể được ngửi bằng ý; phải chăng vị có thể được nếm bằng mắt, vị có thể được nếm bằng tai, vị có thể được nếm bằng mũi, vị có thể được nếm bằng thân, vị có thể được nếm bằng ý; phải chăng cảnh xúc có thể được chạm bằng mắt, cảnh xúc có thể được chạm bằng tai, cảnh xúc có thể được chạm bằng mũi, cảnh xúc có thể được chạm bằng lưỡi, cảnh xúc có thể được chạm bằng ý; phải chăng cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mắt, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng tai, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mũi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng lưỡi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng thân?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài nhìn thấy rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi hệ thống các cửa sổ này được mở rộng, như vậy sự sống bên trong này có thể nhìn thấy cảnh sắc rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các nhãn môn này được mở rộng. Phải chăng có thể nghe âm thanh, có thể ngửi mùi, có thể nếm vị, có thể chạm rõ rệt hơn cảnh xúc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các tai được mở rộng, khi mũi được mở rộng, khi lưỡi được mở rộng, khi thân được mở rộng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi vị nếm được đặt ở lưỡi, phải chăng sự sống bên trong này có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết.”
“Khi các vị nếm ấy đã đi vào bên trong (cổ họng), phải chăng có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, ví như người nào đó bảo mang lại một trăm hũ mật ong, bảo đổ đầy máng mật ong, rồi bít kín miệng của một người đàn ông và đặt vào ở máng mật ong. Tâu đại vương, người đàn ông ấy có thể biết được có mật ong hay không có?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Vì lý do gì?”
“Thưa ngài, bởi vì mật ong đã không đi vào miệng của người ấy.”
“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau.
“Thưa ngài, trẫm không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.”
Vị trưởng lão đã giúp cho đức vua Milinda hiểu được bằng sự thuyết giảng liên quan đến Vi Diệu Pháp: “Tâu đại vương, trong trường hợp này, tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng. Tùy thuận vào tai và các cảnh thin … (như trên) … Tùy thuận vào ý và các cảnh pháp mà ý thức sanh lên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, vedagū upalabbhatī”ti?
“Ko panesa, mahārāja, vedagū nāmā”ti?
“Yo, bhante, abbhantare jīvo cakkhunā rūpaṁ passati, sotena saddaṁ suṇāti, ghānena gandhaṁ ghāyati, jivhāya rasaṁ sāyati, kāyena phoṭṭhabbaṁ phusati, manasā dhammaṁ vijānāti, yathā mayaṁ idha pāsāde nisinnā yena yena vātapānena iccheyyāma passituṁ, tena tena vātapānena passeyyāma, puratthimenapi vātapānena passeyyāma, pacchimenapi vātapānena passeyyāma, uttarenapi vātapānena passeyyāma, dakkhiṇenapi vātapānena passeyyāma.
Evameva kho, bhante, ayaṁ abbhantare jīvo yena yena dvārena icchati passituṁ, tena tena dvārena passatī”ti.
Thero āha—
“pañcadvāraṁ, mahārāja, bhaṇissāmi, taṁ suṇohi, sādhukaṁ manasikarohi, yadi abbhantare jīvo cakkhunā rūpaṁ passati, yathā mayaṁ idha pāsāde nisinnā yena yena vātapānena iccheyyāma passituṁ, tena tena vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, puratthimenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, pacchimenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, uttarenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, dakkhiṇenapi vātapānena rūpaṁyeva passeyyāma, evametena abbhantare jīvena sotenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, ghānenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, jivhāyapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, kāyenapi rūpaṁyeva passitabbaṁ, manasāpi rūpaṁyeva passitabbaṁ;
cakkhunāpi saddoyeva sotabbo, ghānenapi saddoyeva sotabbo, jivhāyapi saddoyeva sotabbo, kāyenapi saddoyeva sotabbo, manasāpi saddoyeva sotabbo;
cakkhunāpi gandhoyeva ghāyitabbo, sotenapi gandhoyeva ghāyitabbo, jivhāyapi gandhoyeva ghāyitabbo, kāyenapi gandhoyeva ghāyitabbo, manasāpi gandhoyeva ghāyitabbo;
cakkhunāpi rasoyeva sāyitabbo, sotenapi rasoyeva sāyitabbo, ghānenapi rasoyeva sāyitabbo, kāyenapi rasoyeva sāyitabbo, manasāpi rasoyeva sāyitabbo;
cakkhunāpi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ, sotenapi phoṭṭhabbaṁ yeva phusitabbaṁ, ghānenapi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ, jivhāyapi phoṭṭhabbaṁ yeva phusitabbaṁ, manasāpi phoṭṭhabbaṁyeva phusitabbaṁ;
cakkhunāpi dhammaṁ yeva vijānitabbaṁ, sotenapi dhammaṁyeva vijānitabbaṁ, ghānenapi dhammaṁ yeva vijānitabbaṁ, jivhāyapi dhammaṁyeva vijānitabbaṁ, kāyenapi dhammaṁyeva vijānitabban”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā vā pana, mahārāja, mayaṁ idha pāsāde nisinnā imesu jālavātapānesu ugghāṭitesu mahantena ākāsena bahimukhā suṭṭhutaraṁ rūpaṁ passāma, evametena abbhantare jīvenāpi cakkhudvāresu ugghāṭitesu mahantena ākāsena suṭṭhutaraṁ rūpaṁ passitabbaṁ, sotesu ugghāṭitesu … ghāne ugghāṭite … jivhāya ugghāṭitāya … kāye ugghāṭite mahantena ākāsena suṭṭhutaraṁ saddo sotabbo, gandho ghāyitabbo, raso sāyitabbo, phoṭṭhabbo phusitabbo”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā vā pana, mahārāja, ayaṁ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake tiṭṭheyya, jānāsi tvaṁ, mahārāja, ‘ayaṁ dinno nikkhamitvā bahidvārakoṭṭhake ṭhito’”ti?
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Yathā vā pana, mahārāja, ayaṁ dinno anto pavisitvā tava purato tiṭṭheyya, jānāsi tvaṁ, mahārāja, ‘ayaṁ dinno anto pavisitvā mama purato ṭhito’”ti?
“Āma, bhante, jānāmī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, abbhantare so jīvo jivhāya rase nikkhitte jāneyya ambilattaṁ vā lavaṇattaṁ vā tittakattaṁ vā kaṭukattaṁ vā kasāyattaṁ vā madhurattaṁ vā”ti?
“Āma, bhante, jāneyyā”ti.
“Te rase anto paviṭṭhe jāneyya ambilattaṁ vā lavaṇattaṁ vā tittakattaṁ vā kaṭukattaṁ vā kasāyattaṁ vā madhurattaṁ vā”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā purimaṁ, yathā, mahārāja, kocideva puriso madhughaṭasataṁ āharāpetvā madhudoṇiṁ pūrāpetvā purisassa mukhaṁ pidahitvā madhudoṇiyā pakkhipeyya, jāneyya, mahārāja, so puriso madhuṁ sampannaṁ vā na sampannaṁ vā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Kena kāraṇenā”ti?
“Na hi tassa, bhante, mukhe madhu paviṭṭhan”ti.
“Na kho te, mahārāja, yujjati purimena vā pacchimaṁ, pacchimena vā puriman”ti.
“Nāhaṁ paṭibalo tayā vādinā saddhiṁ sallapituṁ;
sādhu, bhante, atthaṁ jappehī”ti.
Thero abhidhammasaṁyuttāya kathāya rājānaṁ milindaṁ saññāpesi—
“idha, mahārāja, cakkhuñca paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, taṁsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṁ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhati, sotañca paṭicca sadde ca …pe…
manañca paṭicca dhamme ca uppajjati manoviññāṇaṁ, taṁsahajātā phasso vedanā saññā cetanā ekaggatā jīvitindriyaṁ manasikāroti evamete dhammā paccayato jāyanti, na hettha vedagū upalabbhatī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Vedagūpañho chaṭṭho.