HAY KHÔNG ĐƯỢC CHE GIẤU
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu ngài đạt được sự gắn bó, hoặc sự thành tựu, hoặc sự lãnh hội trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, thì sự quy định về Luật là được bộc lộ, có thể tỏa sáng. Vì lý do gì? Toàn bộ ở đây là sự thu thúc trong các điều học, sự kiềm chế, sự quy định về giới đức và tánh hạnh đều có hương vị của mục đích, hương vị của Giáo Pháp, hương vị của Giải Thoát. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu’ là sai trái. Nếu việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Tuy nhiên, điều ấy không phải là đối với tất cả (mọi người), sau khi đã thực hiện ranh giới thì việc ấy được đóng lại.
Tâu đại vương, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại bởi đức Thế Tôn bởi vì ba tính chất: được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước, được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp, được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, giống như kiến thức Sát-đế-lỵ của dòng Sát-đế-lỵ lưu truyền chỉ trong số các vị Sát-đế-lỵ, việc như thế này là tập quán đối với thế gian của các vị Sát-đế-lỵ, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các nhóm người sinh sống ở trái đất gồm có: thợ đấu vật, làm xiếc, uốn dẻo, tài tử, diễn viên, kịch sĩ, vũ công, múa rối, ảo thuật, hạng thờ phụng các vị Trời Maṇibhaddā, Puṇṇabhaddā, Thần Mặt Trăng, Thần Mặt Trời, Thần May Mắn, Thần Rủi Ro, Thần Siva, Thần Visnu, Thần Mây, Thần Asipāsā, Thần Bhaddiputta. Điều bí mật của mỗi một nhóm lưu truyền chỉ trong từng nhóm người ấy, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, Giáo Pháp là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng. Ở đây, người có sự thực hành đúng đắn thì đạt được trí tuệ. Người đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa, người không đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Tâu đại vương, giống như vật gọi là trầm huyết có lõi, cao quý, ưu tú, chính cống, nguyên chất, màu đỏ được đem đến nơi thị tứ ở thôn quê thì bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có người (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái theo sự truyền thừa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, bản thể tỳ khưu ở trên đời quả là không so sánh được, không đo lường được, không định giá được, không ai có thể đem ra đánh giá, đem ra so sánh, đem ra đo lường (nghĩ rằng): ‘Mong rằng người này đứng vững trong bản thể tỳ khưu như vầy và chớ trở thành đồng đẳng với thế gian,’ việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha lưu truyền ở giữa chỉ riêng các vị tỳ khưu.
Tâu đại vương, giống như loại hàng hóa cao quý và ưu tú ở trên đời là tấm vải hoặc là tấm thảm trải, hoặc là voi, ngựa, xe, vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc trai, các châu báu của phụ nữ, v.v… hoặc là những việc làm và các vị anh hùng không bị đánh bại, tất cả các vật ấy đều đến với đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế hết thảy các điều học, các Kinh điển khéo được truyền thừa và pháp học, các đức tính của việc thu thúc trong hành xử và của sự phòng hộ các giới, tất cả các điều ấy đều đến với hội chúng tỳ khưu. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Pháp và Luật
được che giấu hay không được che giấu là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti.
Puna ca pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ.
Yadi, bhante nāgasena, jinasāsane yuttaṁ vā pattaṁ vā samayaṁ labhetha, vinayapaṇṇatti vivaṭā sobheyya.
Kena kāraṇena?
Kevalaṁ tattha sikkhā saṁyamo niyamo sīlaguṇaācārapaṇṇatti attharaso dhammaraso vimuttiraso.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti, tena hi ‘pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ, tena hi ‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti.
Puna ca pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ, tañca pana na sabbesaṁ, sīmaṁ katvā pihitaṁ.
Tividhena, mahārāja, bhagavatā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito, pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito, dhammassa garukattā pihito, bhikkhubhūmiyā garukattā pihito.
Kathaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Eso vaṁso, mahārāja, sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Yathā, mahārāja, khattiyānaṁ khattiyamāyā khattiyesuyeva carati, evametaṁ khattiyānaṁ lokassa paveṇī avasesānaṁ pihitā;
evameva kho, mahārāja, eso vaṁso sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Yathā vā pana, mahārāja, mahiyā gaṇā vattanti, seyyathidaṁ—
mallā atoṇā pabbatā dhammagiriyā brahmagiriyā naṭakā naccakā laṅghakā pisācā maṇibhaddā puṇṇabaddhā candimasūriyā siridevatā kālidevatā, sivā vasudevā ghanikā asipāsā bhaddiputtāti, tesaṁ tesaṁ rahassaṁ tesu tesu gaṇesuyeva carati, avasesānaṁ pihitaṁ;
evameva kho, mahārāja, eso vaṁso sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Evaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Kathaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Dhammo, mahārāja, garuko bhāriyo, tattha sammattakārī aññaṁ ārādheti, taṁ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, na taṁ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo asammattakārīnaṁ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti.
Evaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Yathā, mahārāja, sāravarapavaraabhijātajātimantarattalohitacandanaṁ nāma savarapuramanugataṁ oññātaṁ avaññātaṁ hīḷitaṁ khīḷitaṁ garahitaṁ bhavati;
evameva kho, mahārāja, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo paramparāasammattakārīnaṁ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti.
Evaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Kathaṁ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Bhikkhubhāvo kho, mahārāja, loke atuliyo appamāṇo anagghiyo, na sakkā kenaci agghāpetuṁ tuletuṁ parimetuṁ, māyaṁ evarūpe bhikkhubhāve ṭhito lokena samasamo bhavatūti bhikkhūnaṁyeva antare pātimokkhuddeso carati.
Yathā, mahārāja, loke varapavarabhaṇḍaṁ vatthaṁ vā attharaṇaṁ vā gajaturaṅgarathasuvaṇṇarajatamaṇimuttāitthiratanādīni vā vijitakammasūrā vā sabbe te rājānamupagacchanti;
evameva kho, mahārāja, yāvatā loke sugatāgamapariyattiācārasaṁyamasīlasaṁvaraguṇā, sabbe te bhikkhusaṅghamupagatā bhavanti.
Evaṁ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Dhammavinayapaṭicchannāpaṭicchannapañho dutiyo.
PTS vp En 264 PTS cs 4 PTS vp Pali 190 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One: “The Dhamma and the Vinaya (Doctrine and Canon Law) proclaimed by the Tathāgata shine forth when they are displayed, and not when they are concealed.” But on the other hand the recitation of the Pātimokkha and the whole of the Vinaya Piṭaka are closed and kept secret. So that if, Nāgasena, you (members of the Order) carried out what is just, and right, and held of faith in the teaching of the Conqueror then would the Vinaya shine forth as an open thing. And why would that be so? Because all the instruction therein, the discipline, the self-control, the regulations as to moral and virtuous conduct, are in their essence full of truth and righteousness, and redounding to emancipation of heart. But if the Blessed One really said that the Dhamma and Vinaya proclaimed by the Tathāgata shine forth when displayed and not when kept secret, then the saying that the recitation of the Pātimokkha and the whole of the Vinaya must be kept secret must be wrong. And if that be right, then the saying of the Blessed One must be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 5 ‘It was said, O king, by the Blessed One that the Dhamma and Vinaya proclaimed by the Tathāgata PTS vp En 265 shine forth when displayed, and not when kept secret. And on the other hand the recitation of the Pātimokkha and the whole of the Vinaya Piṭaka are kept close and secret. But this last is not the case as regards all men. They are only kept secret up to a certain limit. And the recitation of the Pātimokkha is kept secret up to that certain limit on three grounds—firstly because that is the traditional custom of previous Tathāgatas, secondly out of respect for the Truth (Dhamma), and thirdly out of respect for the position of a member of the Order.’
PTS cs 6 ‘And as to the first it was the universal custom, O king, of previous Tathāgatas for the recitation of the Pātimokkha to take place in the midst of the members of the Order only, to the exclusion of all others. Just, O king, as the Kshatriya secret formulas (of the nobles) are handed down among the nobles alone, and that this or that is so is common tradition among the nobles of the world and kept secret from all others—PTS vp Pali 191 so was this the universal custom of previous Tathāgatas, that the recitation of the Pātimokkha should take place among the PTS vp En 266 members of the Order only, and be kept secret from all others. And again, just as there are several classes of people, O king, known as distinct in the world—-such as wrestlers, tumblers, jugglers, actors, ballet-dancers, and followers of the mystic cult of the sun and moon, of the goddess of fortune and other gods. And the secrets of each of these sects are handed on in the sect itself, and kept hidden from all others. just so with the universal custom of all the Tathāgatas that the recitation of the Pātimokkha should take place before the members of the Order only, and be kept secret from all others. This is why the recitation of the Pātimokkha is, up to that extent, kept secret in accordance with the habit of previous Tathāgatas.’
PTS cs 7 ‘And how is it that the Pātimokkha is kept secret, up to that extent, out of reverence for the Dhamma? the Dhamma, great king, is venerable and weighty. He who has attained to proficiency in it may exhort another in this wise: “Let not this Dhamma so full of truth, so excellent, fall into the hands of those unversed in it, where it would be despised and contemned, treated shamefully, made a game of, and found fault with. Nor let it fall into the hands of the wicked who would deal with it in all respects as badly as they.” It is thus, O king, that the recitation of the Pātimokkha is, up to that PTS vp En 267 extent, kept secret out of reverence for the Dhamma. For if not, then it would be like the best, most costly, and most rare red sandal wood of the finest kind, which when brought to Savara (that city of the outcast Kaṇḍālas) is despised and contemned, treated shamefully, made game of, and found fault with.’
PTS cs 8 PTS vp Pali 192 ‘And how is it that the Pātimokkha is kept secret, up to that extent, out of reverence for the position of a member of the Order? the condition of a Bhikkhu, great king, is in glory beyond the reach of calculation by weight, or measure, or price. None can value it, weigh it, measure it. And the recitation of the Pātimokkha, is carried on before the Bhikkhus alone, lest any one who has occupied that position should be brought down to a level with the men of the world. just, O king, as if there be any priceless thing, in vesture or floor covering, in elephants, chargers, or chariots, in gold or silver or jewels or pearls or women, or in unsurpassable strong drink, all such things are the appanage of kings—just so, O king, whatever is most priceless in the way of training, of the traditions of the Blessed One, of learning, of conduct, and of the virtues of righteousness and self-control—all these are the appanages of the Order of Bhikkhus. This is why the recitation of the Pātimokkha is, to that extent, kept secret.’ PTS vp En 268
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.)
Here ends the problem as to the secrecy in which the Vinaya is kept.
HAY KHÔNG ĐƯỢC CHE GIẤU
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu ngài đạt được sự gắn bó, hoặc sự thành tựu, hoặc sự lãnh hội trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, thì sự quy định về Luật là được bộc lộ, có thể tỏa sáng. Vì lý do gì? Toàn bộ ở đây là sự thu thúc trong các điều học, sự kiềm chế, sự quy định về giới đức và tánh hạnh đều có hương vị của mục đích, hương vị của Giáo Pháp, hương vị của Giải Thoát. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu’ là sai trái. Nếu việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Tuy nhiên, điều ấy không phải là đối với tất cả (mọi người), sau khi đã thực hiện ranh giới thì việc ấy được đóng lại.
Tâu đại vương, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại bởi đức Thế Tôn bởi vì ba tính chất: được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước, được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp, được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, giống như kiến thức Sát-đế-lỵ của dòng Sát-đế-lỵ lưu truyền chỉ trong số các vị Sát-đế-lỵ, việc như thế này là tập quán đối với thế gian của các vị Sát-đế-lỵ, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các nhóm người sinh sống ở trái đất gồm có: thợ đấu vật, làm xiếc, uốn dẻo, tài tử, diễn viên, kịch sĩ, vũ công, múa rối, ảo thuật, hạng thờ phụng các vị Trời Maṇibhaddā, Puṇṇabhaddā, Thần Mặt Trăng, Thần Mặt Trời, Thần May Mắn, Thần Rủi Ro, Thần Siva, Thần Visnu, Thần Mây, Thần Asipāsā, Thần Bhaddiputta. Điều bí mật của mỗi một nhóm lưu truyền chỉ trong từng nhóm người ấy, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, Giáo Pháp là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng. Ở đây, người có sự thực hành đúng đắn thì đạt được trí tuệ. Người đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa, người không đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Tâu đại vương, giống như vật gọi là trầm huyết có lõi, cao quý, ưu tú, chính cống, nguyên chất, màu đỏ được đem đến nơi thị tứ ở thôn quê thì bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có người (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái theo sự truyền thừa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, bản thể tỳ khưu ở trên đời quả là không so sánh được, không đo lường được, không định giá được, không ai có thể đem ra đánh giá, đem ra so sánh, đem ra đo lường (nghĩ rằng): ‘Mong rằng người này đứng vững trong bản thể tỳ khưu như vầy và chớ trở thành đồng đẳng với thế gian,’ việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha lưu truyền ở giữa chỉ riêng các vị tỳ khưu.
Tâu đại vương, giống như loại hàng hóa cao quý và ưu tú ở trên đời là tấm vải hoặc là tấm thảm trải, hoặc là voi, ngựa, xe, vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc trai, các châu báu của phụ nữ, v.v… hoặc là những việc làm và các vị anh hùng không bị đánh bại, tất cả các vật ấy đều đến với đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế hết thảy các điều học, các Kinh điển khéo được truyền thừa và pháp học, các đức tính của việc thu thúc trong hành xử và của sự phòng hộ các giới, tất cả các điều ấy đều đến với hội chúng tỳ khưu. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Pháp và Luật
được che giấu hay không được che giấu là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti.
Puna ca pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ.
Yadi, bhante nāgasena, jinasāsane yuttaṁ vā pattaṁ vā samayaṁ labhetha, vinayapaṇṇatti vivaṭā sobheyya.
Kena kāraṇena?
Kevalaṁ tattha sikkhā saṁyamo niyamo sīlaguṇaācārapaṇṇatti attharaso dhammaraso vimuttiraso.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti, tena hi ‘pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ, tena hi ‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘tathāgatappavedito, bhikkhave, dhammavinayo vivaṭo virocati no paṭicchanno’ti.
Puna ca pātimokkhuddeso kevalañca vinayapiṭakaṁ pihitaṁ paṭicchannaṁ, tañca pana na sabbesaṁ, sīmaṁ katvā pihitaṁ.
Tividhena, mahārāja, bhagavatā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito, pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito, dhammassa garukattā pihito, bhikkhubhūmiyā garukattā pihito.
Kathaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Eso vaṁso, mahārāja, sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Yathā, mahārāja, khattiyānaṁ khattiyamāyā khattiyesuyeva carati, evametaṁ khattiyānaṁ lokassa paveṇī avasesānaṁ pihitā;
evameva kho, mahārāja, eso vaṁso sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Yathā vā pana, mahārāja, mahiyā gaṇā vattanti, seyyathidaṁ—
mallā atoṇā pabbatā dhammagiriyā brahmagiriyā naṭakā naccakā laṅghakā pisācā maṇibhaddā puṇṇabaddhā candimasūriyā siridevatā kālidevatā, sivā vasudevā ghanikā asipāsā bhaddiputtāti, tesaṁ tesaṁ rahassaṁ tesu tesu gaṇesuyeva carati, avasesānaṁ pihitaṁ;
evameva kho, mahārāja, eso vaṁso sabbesaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ yadidaṁ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṁ pihito.
Evaṁ pubbakānaṁ tathāgatānaṁ vaṁsavasena pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Kathaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Dhammo, mahārāja, garuko bhāriyo, tattha sammattakārī aññaṁ ārādheti, taṁ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, na taṁ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo asammattakārīnaṁ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti.
Evaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Yathā, mahārāja, sāravarapavaraabhijātajātimantarattalohitacandanaṁ nāma savarapuramanugataṁ oññātaṁ avaññātaṁ hīḷitaṁ khīḷitaṁ garahitaṁ bhavati;
evameva kho, mahārāja, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo paramparāasammattakārīnaṁ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṁ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti.
Evaṁ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito.
Kathaṁ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito?
Bhikkhubhāvo kho, mahārāja, loke atuliyo appamāṇo anagghiyo, na sakkā kenaci agghāpetuṁ tuletuṁ parimetuṁ, māyaṁ evarūpe bhikkhubhāve ṭhito lokena samasamo bhavatūti bhikkhūnaṁyeva antare pātimokkhuddeso carati.
Yathā, mahārāja, loke varapavarabhaṇḍaṁ vatthaṁ vā attharaṇaṁ vā gajaturaṅgarathasuvaṇṇarajatamaṇimuttāitthiratanādīni vā vijitakammasūrā vā sabbe te rājānamupagacchanti;
evameva kho, mahārāja, yāvatā loke sugatāgamapariyattiācārasaṁyamasīlasaṁvaraguṇā, sabbe te bhikkhusaṅghamupagatā bhavanti.
Evaṁ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṁ katvā pihito”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Dhammavinayapaṭicchannāpaṭicchannapañho dutiyo.