BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và thêm nữa được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng’ là sai trái.
Nếu người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng, như thế thì lời nói rằng: ‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác’ cũng là sai trái.
Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Tâu đại vương, người đàn bà ấy trong khi nhận được một ngàn đồng có thể làm hành động xấu xa với người nam vừa ý, (hay) nàng ấy có thể không làm nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý?
Tâu đại vương, người đàn bà Amarā ấy, trong khi xem xét, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý. Nàng đã không nhìn thấy do sợ hãi về sự chê trách ở đời này, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sợ hãi về địa ngục ở đời sau, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện (vì nghĩ rằng): ‘Việc xấu xa có quả thành tựu đắng cay,’ đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn buông bỏ người yêu, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sự kính trọng đối với chồng, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi tôn kính Giáo Pháp, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi đang chê trách việc không thánh thiện, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn đổ bể việc làm. Nàng đã không nhìn thấy vì nhiều lý do có hình thức như thế.
Còn về chỗ kín đáo, sau khi suy xét ở thế gian, nàng ấy trong khi không nhìn thấy nên đã không làm điều xấu xa. Nếu nàng ấy có thể đạt được chỗ kín đáo đối với loài người, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với điều phi pháp. Sau khi không đạt được chỗ kín đáo vì nhiều lý do có hình thức như thế, nàng đã không làm điều xấu xa.
Còn về kẻ mời mọc, sau khi xem xét ở thế gian, trong khi không đạt được người vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.
BJT 3Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố. Được hội đủ với hai mươi tám yếu tố nào? Tâu đại vương, Mahosadha là bậc anh hùng, có tàm, có quý, có tùy tùng, đạt được bạn bè, nhẫn nại, có giới hạnh, nói lời chân thật, đạt được sự thanh tịnh, không giận dữ, không ngã mạn thái quá, không ganh tỵ, có sự tinh tấn, năng nổ (làm phước thiện), hào phóng, rộng rãi, nói năng khéo léo, cư xử khiêm tốn, tế nhị, không gian trá, không xảo quyệt, đạt được sự thông minh vượt bậc, khôn khéo, đạt được kiến thức, có sự tầm cầu lợi ích cho những người nương tựa, được mọi người mong mỏi, có tài sản, có danh vọng. Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố này. Nàng ấy sau khi không đạt được kẻ mời mọc nào khác vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hoàng hậu Amarā là thứ tám.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Sace labhetha khaṇaṁ vā raho vā,
Nimantakaṁ vāpi labhetha tādisaṁ;
Sabbāva itthī kayiruṁ nu pāpaṁ,
Aññaṁ aladdhā pīṭhasappinā saddhin’ti.
Puna ca kathīyati ‘mahosadhassa bhariyā amarā nāma itthī gāmake ṭhapitā pavutthapatikā raho nisinnā vivittā rājappaṭisamaṁ sāmikaṁ karitvā sahassena nimantīyamānā pāpaṁ nākāsī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘sace …pe…
saddhin’ti tena hi ‘mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsi, tena hi ‘sace …pe…
saddhin’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘sace …pe…
saddhin’ti.
Kathīyati ca ‘mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsī’ti.
Kareyya sā, mahārāja, itthī sahassaṁ labhamānā tādisena purisena saddhiṁ pāpakammaṁ, na sā kareyya sace khaṇaṁ vā raho vā nimantakaṁ vāpi tādisaṁ labheyya, vicinantī sā, mahārāja, amarā itthī na addasa khaṇaṁ vā raho vā nimantakaṁ vāpi tādisaṁ.
Idha loke garahabhayā khaṇaṁ na passi, paraloke nirayabhayā khaṇaṁ na passi, kaṭukavipākaṁ pāpanti khaṇaṁ na passi, piyaṁ amuñcitukāmā khaṇaṁ na passi, sāmikassa garukatāya khaṇaṁ na passi, dhammaṁ apacāyantī khaṇaṁ na passi, anariyaṁ garahantī khaṇaṁ na passi, kiriyaṁ abhinditukāmā khaṇaṁ na passi.
Evarūpehi bahūhi kāraṇehi khaṇaṁ na passi.
Rahopi sā loke vicinitvā apassantī pāpaṁ nākāsi.
Sace sā manussehi raho labheyya, atha amanussehi raho na labheyya.
Sace amanussehi raho labheyya, atha paracittavidūhi pabbajitehi raho na labheyya.
Sace paracittavidūhi pabbajitehi raho labheyya, atha paracittavidūnīhi devatāhi raho na labheyya.
Sace paracittavidūnīhi devatāhi raho labheyya, attanāva pāpehi raho na labheyya.
Sace attanāva pāpehi raho labheyya, atha adhammena raho na labheyya.
Evarūpehi bahuvidhehi kāraṇehi raho alabhitvā pāpaṁ nākāsi.
Nimantakampi sā loke vicinitvā tādisaṁ alabhantī pāpaṁ nākāsi.
Mahosadho, mahārāja, paṇḍito aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato.
Katamehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato?
Mahosadho, mahārāja, sūro hirimā ottappī sapakkho mittasampanno khamo sīlavā saccavādī soceyyasampanno akkodhano anatimānī anusūyako vīriyavā āyūhako saṅgāhako saṁvibhāgī sakhilo nivātavutti saṇho asaṭho amāyāvī atibuddhisampanno kittimā vijjāsampanno hitesī upanissitānaṁ patthito sabbajanassa dhanavā yasavā.
Mahosadho, mahārāja, paṇḍito imehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato.
Sā aññaṁ tādisaṁ nimantakaṁ alabhitvā pāpaṁ nākāsī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Amarādevīpañho aṭṭhamo.
PTS vp En 294 PTS cs 42 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One:
“With opportunity, and secrecy,
And the right woo’r, all women will go wrong—
Aye, failing others, with a cripple even.”
But on the other hand it is said: “Mahosadha’s wife, Amarā, when left behind in the village while her husband was away on a journey, remained alone and in privacy, and regarding her husband as a man would regard his sovran lord, she refused to do wrong, even when tempted with a thousand pieces.” Now if the first of these passages be correct, the second must be wrong; and if the second be right, PTS vp Pali 206 The first must be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 43 ‘It is so said, O king, as you have quoted, touching the conduct of Amarā, Mahosadha’s wife. But the question is would she have done wrong, on receipt of those thousand pieces, with the right man: or would she not have done so, if she had had the opportunity, and the certainty of secrecy, and a suitable wooer? Now, on considering the matter, that lady Amarā was not certain of any of these PTS vp En 295 things. Through her fear of censure in this world the opportunity seemed to her not fit, and through her fear of the sufferings of purgatory in the next world. And because she knew how bitter is the fruit of wrong-doing, and because she did not wish to lose her loved one, and because of the high esteem in which she held her husband, and because she honoured goodness, and despised ignobleness of life, and because she did not want to break with her customary mode of life—for all these reasons the opportunity seemed to her not fit.
‘And, further, she refused to do wrong because, on consideration, she was not sure of keeping the thing secret from the world. PTS vp Pali 207 For even could she have kept it secret from men, yet she could not have concealed it from spirits —even could she have kept it secret from spirits, yet she could not have concealed it from those recluses who have the power of knowing the thoughts of others-even could she have kept it secret from them, yet she could not have concealed it from those of the gods who can read the hearts of men—even could she have kept it secret from the gods, yet she could not have escaped, herself, from the knowledge of her sin—even could she have remained ignorant of it herself, yet she could not have kept it secret from (the law of the result which follows on) unrighteousness. Such were the PTS vp En 296 various reasons which led her to abstain from doing wrong because she could not be sure of secrecy.
‘And, further, she refused to do wrong because, on consideration, she found no right wooer. Mahosadha the wise, O king, was endowed with the eight and twenty qualities. And which are those twenty-eight? He was brave, O king, and full of modesty, and ashamed to do wrong, he had many adherents, and many friends, he was forgiving, he was upright in life, he was truthful, he was pure in word, and deed and heart, he was free from malice, he was not puffed up, he felt no jealousy, he was full of energy, he strove after all good things, he was popular with all men, he was generous, he was friendly, he was humble in disposition, he was free from guile, he was free from deceit, he was full of insight, he was of high reputation, he had much knowledge, he sought after the good of those dependent on him, his praise was in all men’s mouths, great was his wealth, and great his fame. Such were the twenty-eight qualities, O king, with which ‘Mahosadha, the wise, was endowed. And it was because she found no wooer like unto him that she did no wrong.’ PTS vp En 297
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to the wickedness of women.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và thêm nữa được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng’ là sai trái.
Nếu người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng, như thế thì lời nói rằng: ‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác’ cũng là sai trái.
Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Tâu đại vương, người đàn bà ấy trong khi nhận được một ngàn đồng có thể làm hành động xấu xa với người nam vừa ý, (hay) nàng ấy có thể không làm nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý?
Tâu đại vương, người đàn bà Amarā ấy, trong khi xem xét, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý. Nàng đã không nhìn thấy do sợ hãi về sự chê trách ở đời này, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sợ hãi về địa ngục ở đời sau, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện (vì nghĩ rằng): ‘Việc xấu xa có quả thành tựu đắng cay,’ đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn buông bỏ người yêu, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sự kính trọng đối với chồng, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi tôn kính Giáo Pháp, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi đang chê trách việc không thánh thiện, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn đổ bể việc làm. Nàng đã không nhìn thấy vì nhiều lý do có hình thức như thế.
Còn về chỗ kín đáo, sau khi suy xét ở thế gian, nàng ấy trong khi không nhìn thấy nên đã không làm điều xấu xa. Nếu nàng ấy có thể đạt được chỗ kín đáo đối với loài người, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với điều phi pháp. Sau khi không đạt được chỗ kín đáo vì nhiều lý do có hình thức như thế, nàng đã không làm điều xấu xa.
Còn về kẻ mời mọc, sau khi xem xét ở thế gian, trong khi không đạt được người vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.
BJT 3Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố. Được hội đủ với hai mươi tám yếu tố nào? Tâu đại vương, Mahosadha là bậc anh hùng, có tàm, có quý, có tùy tùng, đạt được bạn bè, nhẫn nại, có giới hạnh, nói lời chân thật, đạt được sự thanh tịnh, không giận dữ, không ngã mạn thái quá, không ganh tỵ, có sự tinh tấn, năng nổ (làm phước thiện), hào phóng, rộng rãi, nói năng khéo léo, cư xử khiêm tốn, tế nhị, không gian trá, không xảo quyệt, đạt được sự thông minh vượt bậc, khôn khéo, đạt được kiến thức, có sự tầm cầu lợi ích cho những người nương tựa, được mọi người mong mỏi, có tài sản, có danh vọng. Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố này. Nàng ấy sau khi không đạt được kẻ mời mọc nào khác vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hoàng hậu Amarā là thứ tám.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Sace labhetha khaṇaṁ vā raho vā,
Nimantakaṁ vāpi labhetha tādisaṁ;
Sabbāva itthī kayiruṁ nu pāpaṁ,
Aññaṁ aladdhā pīṭhasappinā saddhin’ti.
Puna ca kathīyati ‘mahosadhassa bhariyā amarā nāma itthī gāmake ṭhapitā pavutthapatikā raho nisinnā vivittā rājappaṭisamaṁ sāmikaṁ karitvā sahassena nimantīyamānā pāpaṁ nākāsī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘sace …pe…
saddhin’ti tena hi ‘mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsi, tena hi ‘sace …pe…
saddhin’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘sace …pe…
saddhin’ti.
Kathīyati ca ‘mahosadhassa bhariyā …pe…
nākāsī’ti.
Kareyya sā, mahārāja, itthī sahassaṁ labhamānā tādisena purisena saddhiṁ pāpakammaṁ, na sā kareyya sace khaṇaṁ vā raho vā nimantakaṁ vāpi tādisaṁ labheyya, vicinantī sā, mahārāja, amarā itthī na addasa khaṇaṁ vā raho vā nimantakaṁ vāpi tādisaṁ.
Idha loke garahabhayā khaṇaṁ na passi, paraloke nirayabhayā khaṇaṁ na passi, kaṭukavipākaṁ pāpanti khaṇaṁ na passi, piyaṁ amuñcitukāmā khaṇaṁ na passi, sāmikassa garukatāya khaṇaṁ na passi, dhammaṁ apacāyantī khaṇaṁ na passi, anariyaṁ garahantī khaṇaṁ na passi, kiriyaṁ abhinditukāmā khaṇaṁ na passi.
Evarūpehi bahūhi kāraṇehi khaṇaṁ na passi.
Rahopi sā loke vicinitvā apassantī pāpaṁ nākāsi.
Sace sā manussehi raho labheyya, atha amanussehi raho na labheyya.
Sace amanussehi raho labheyya, atha paracittavidūhi pabbajitehi raho na labheyya.
Sace paracittavidūhi pabbajitehi raho labheyya, atha paracittavidūnīhi devatāhi raho na labheyya.
Sace paracittavidūnīhi devatāhi raho labheyya, attanāva pāpehi raho na labheyya.
Sace attanāva pāpehi raho labheyya, atha adhammena raho na labheyya.
Evarūpehi bahuvidhehi kāraṇehi raho alabhitvā pāpaṁ nākāsi.
Nimantakampi sā loke vicinitvā tādisaṁ alabhantī pāpaṁ nākāsi.
Mahosadho, mahārāja, paṇḍito aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato.
Katamehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato?
Mahosadho, mahārāja, sūro hirimā ottappī sapakkho mittasampanno khamo sīlavā saccavādī soceyyasampanno akkodhano anatimānī anusūyako vīriyavā āyūhako saṅgāhako saṁvibhāgī sakhilo nivātavutti saṇho asaṭho amāyāvī atibuddhisampanno kittimā vijjāsampanno hitesī upanissitānaṁ patthito sabbajanassa dhanavā yasavā.
Mahosadho, mahārāja, paṇḍito imehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato.
Sā aññaṁ tādisaṁ nimantakaṁ alabhitvā pāpaṁ nākāsī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Amarādevīpañho aṭṭhamo.