BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến ở bài giảng Pháp về quy luật tự nhiên: ‘Ngay trong thời quá khứ, mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định, cội cây Bồ Đề là được xác định, các vị Thinh Văn hàng đầu là được xác định, người con trai là được xác định, vị thị giả là được xác định.’ Và thêm nữa, ngài nói rằng: ‘Khi ngự ở tập thể Chư Thiên Tusitā, đức Bồ Tát quán xét tám điều quán xét chánh yếu: Quán xét về thởi điểm, quán xét về châu lục, quán xét về xứ sở, quán xét về gia tộc, quán xét về người mẹ, quán xét về tuổi thọ, quán xét về tháng (thời gian trụ thai), quán xét về việc xuất ly.’ Thưa ngài Nāgasena, khi trí chưa được chín muồi thì không có sự giác ngộ. Khi trí đã chín muồi thì không thể chờ đợi dầu chỉ trong nháy mắt. Trí đã chín muồi sẽ không bị vượt qua. Tại sao đức Bồ Tát quán xét thời điểm rằng: ‘Ta tái sanh vào thời điểm nào?’ Khi trí chưa được chín muồi thì không có sự giác ngộ. Khi trí đã chín muồi thì không thể chờ đợi dầu chỉ trong nháy mắt. Tại sao đức Bồ Tát quán xét gia tộc rằng: ‘Ta tái sanh vào gia tộc nào?’ Thưa ngài Nāgasena, nếu mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ, như thế thì lời nói rằng: ‘Quán xét về gia tộc’ là sai trái. Nếu (đức Bồ Tát) quán xét về gia tộc, như thế thì lời nói rằng: ‘Mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ, và đức Bồ Tát quán xét về gia tộc. Nhưng quán xét về gia tộc như thế nào? Quán xét về gia tộc như vầy: ‘Những người nào là mẹ cha của ta, có phải những người ấy là Sát-đế-lỵ hay là Bà-la-môn?’
Tâu đại vương, sự việc chưa xảy đến nên được xem xét trước đối với tám hạng. Đối với tám hạng nào? Tâu đại vương, đối với thương buôn, hàng hóa mua bán nên được xem xét trước. Đối với con voi chúa, con đường chưa đi đến nên được xem xét trước bằng vòi. Đối với người đánh xe bò, bến nước cạn chưa đi đến nên được xem xét trước. Đối với người thuyền trưởng, bến tàu chưa đi đến nên được xem xét trước rồi mới nên cho thuyền tiến vào. Đối với người thầy thuốc, nên xem xét trước về tuổi thọ rồi mới nên đến gần người bệnh. Đối với cây cầu để vượt qua, nên biết trước về tình trạng bền hay yếu rồi mới nên bước lên. Đối với vị tỳ khưu, nên quán xét trước về thời gian (thọ thực) còn chưa trôi qua rồi mới nên thọ dụng thức ăn. Đối với các đức Bồ Tát, nên xem xét trước về gia tộc là gia tộc Sát-đế-ly hay là gia tộc Bà-la-môn. Tâu đại vương, đối với tám hạng này thì sự việc chưa xảy đến nên được xem xét trước.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về quy luật tự nhiên đối với đức Bồ Tát là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā dhammatādhammapariyāye ‘pubbeva bodhisattānaṁ mātāpitaro niyatā honti, bodhi niyatā hoti, aggasāvakā niyatā honti, putto niyato hoti, upaṭṭhāko niyato hotī’ti.
Puna ca tumhe bhaṇatha—
‘tusite kāye ṭhito bodhisatto aṭṭha mahāvilokanāni viloketi, kālaṁ viloketi, dīpaṁ viloketi, desaṁ viloketi, kulaṁ viloketi, janettiṁ viloketi, āyuṁ viloketi, māsaṁ viloketi, nekkhammaṁ viloketī’ti.
Bhante nāgasena, aparipakke ñāṇe bujjhanaṁ natthi, paripakke ñāṇe na sakkā nimesantarampi āgametuṁ, anatikkamanīyaṁ paripakkamānasaṁ.
Kasmā bodhisatto kālaṁ viloketi ‘kamhi kāle uppajjāmī’ti.
Aparipakke ñāṇe bujjhanaṁ natthi, paripakke ñāṇe na sakkā nimesantarampi āgametuṁ, kasmā bodhisatto kulaṁ viloketi ‘kamhi kule uppajjāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, pubbeva bodhisattassa mātāpitaro niyatā, tena hi ‘kulaṁ viloketī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi kulaṁ viloketi, tena hi ‘pubbeva bodhisattassa mātāpitaro niyatā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Niyatā, mahārāja, pubbeva bodhisattassa mātāpitaro, kulañca bodhisatto viloketi.
Kinti pana kulaṁ viloketi ‘ye me mātāpitaro, te khattiyā udāhu brāhmaṇā’ti.
Evaṁ kulaṁ viloketi.
Aṭṭhannaṁ, mahārāja, pubbeva anāgataṁ oloketabbaṁ hoti.
Katamesaṁ aṭṭhannaṁ?
Vāṇijassa, mahārāja, pubbeva vikkayabhaṇḍaṁ oloketabbaṁ hoti, hatthināgassa pubbeva soṇḍāya anāgato maggo oloketabbo hoti, sākaṭikassa pubbeva anāgataṁ titthaṁ oloketabbaṁ hoti, niyāmakassa pubbeva anāgataṁ tīraṁ oloketvā nāvā pesetabbā hoti, bhisakkassa pubbeva āyuṁ oloketvā āturo upasaṅkamitabbo hoti, uttarasetussa pubbeva thirāthirabhāvaṁ jānitvā abhiruhitabbaṁ hoti, bhikkhussa pubbeva anāgataṁ kālaṁ paccavekkhitvā bhojanaṁ bhuñjitabbaṁ hoti, bodhisattānaṁ pubbeva kulaṁ oloketabbaṁ hoti ‘khattiyakulaṁ vā brāhmaṇakulaṁ vā’ti.
Imesaṁ kho, mahārāja, aṭṭhannaṁ pubbeva anāgataṁ oloketabbaṁ hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Bodhisattadhammatāpañho catuttho.
PTS cs 11 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One in the discourse on the essential conditions: “Long ago have his parents been destined for each Bodisat, and the kind of tree he is to select for his Bo tree, and the PTS vp En 271 Bhikkhus who are to be his two chief disciples, and the lad who is to be his son, and the member of the Order who is to be his special attendant.” But on the other hand he said: “When yet in the condition of a god in the Tusita heaven the Bodisat makes the eight Great Investigations—he investigates the time (whether the right moment had come at which he ought to be re-born as a man), and the continent (in which his birth is to take place), and the country (where he is to be re-born), and the family (to which he is to belong), and the mother (who is to bear him), and the period (during which he was to remain in the womb), and the month (in which his birthday shall come), and his renunciation (when it shall be). PTS vp Pali 194 Now, Nāgasena, before knowledge is ripe there is no understanding, but when it has reached its summit there is no longer any need to wait for thinking a matter over, for there is nothing outside the ken of the omniscient mind. Why then should the Bodisat investigate the time, thinking to himself: “In what moment shall I be born ?” And for the same reason why should he investigate the family, thinking to himself: PTS vp En 272 “In what family shall I be born?” And if, Nāgasena, it is a settled matter who shall be the parents of the Bodisat, then it must be false that he “investigated the family.” But if that be true, then must the other saying be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 12 ‘It was both a settled matter, O king, who should be the parents of the Bodisat, and he did investigate into the question as to which family he was to be born into. But how did he do so? He thought over the matter as to whether his parents should be nobles or Brahmans. With respect to eight things, O king, should the future be investigated before it comes to pass. A merchant, O king, should investigate goods before he buys them—an elephant should try with its trunk a path it has not yet trod—a cartman should try a ford he has not yet crossed over—a pilot should test a shore he has not yet arrived at, and so guide the ship—a physician should find out the period of life which his patient has lasted before he treats his disease—a traveller should test the stability of a bambū bridge before he mounts on to it—a Bhikkhu should find out how much time has yet to run before sun turn before he begins to eat his meal—and Bodisats, before they are born, should investigate the question whether it would be right for them to be born in the family of a noble or of a Brahman. PTS vp En 273 These are the eight occasions on which investigation ought to precede action.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the Bodisat’s consideration.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến ở bài giảng Pháp về quy luật tự nhiên: ‘Ngay trong thời quá khứ, mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định, cội cây Bồ Đề là được xác định, các vị Thinh Văn hàng đầu là được xác định, người con trai là được xác định, vị thị giả là được xác định.’ Và thêm nữa, ngài nói rằng: ‘Khi ngự ở tập thể Chư Thiên Tusitā, đức Bồ Tát quán xét tám điều quán xét chánh yếu: Quán xét về thởi điểm, quán xét về châu lục, quán xét về xứ sở, quán xét về gia tộc, quán xét về người mẹ, quán xét về tuổi thọ, quán xét về tháng (thời gian trụ thai), quán xét về việc xuất ly.’ Thưa ngài Nāgasena, khi trí chưa được chín muồi thì không có sự giác ngộ. Khi trí đã chín muồi thì không thể chờ đợi dầu chỉ trong nháy mắt. Trí đã chín muồi sẽ không bị vượt qua. Tại sao đức Bồ Tát quán xét thời điểm rằng: ‘Ta tái sanh vào thời điểm nào?’ Khi trí chưa được chín muồi thì không có sự giác ngộ. Khi trí đã chín muồi thì không thể chờ đợi dầu chỉ trong nháy mắt. Tại sao đức Bồ Tát quán xét gia tộc rằng: ‘Ta tái sanh vào gia tộc nào?’ Thưa ngài Nāgasena, nếu mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ, như thế thì lời nói rằng: ‘Quán xét về gia tộc’ là sai trái. Nếu (đức Bồ Tát) quán xét về gia tộc, như thế thì lời nói rằng: ‘Mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, mẹ cha của các đức Bồ Tát là được xác định ngay trong thời quá khứ, và đức Bồ Tát quán xét về gia tộc. Nhưng quán xét về gia tộc như thế nào? Quán xét về gia tộc như vầy: ‘Những người nào là mẹ cha của ta, có phải những người ấy là Sát-đế-lỵ hay là Bà-la-môn?’
Tâu đại vương, sự việc chưa xảy đến nên được xem xét trước đối với tám hạng. Đối với tám hạng nào? Tâu đại vương, đối với thương buôn, hàng hóa mua bán nên được xem xét trước. Đối với con voi chúa, con đường chưa đi đến nên được xem xét trước bằng vòi. Đối với người đánh xe bò, bến nước cạn chưa đi đến nên được xem xét trước. Đối với người thuyền trưởng, bến tàu chưa đi đến nên được xem xét trước rồi mới nên cho thuyền tiến vào. Đối với người thầy thuốc, nên xem xét trước về tuổi thọ rồi mới nên đến gần người bệnh. Đối với cây cầu để vượt qua, nên biết trước về tình trạng bền hay yếu rồi mới nên bước lên. Đối với vị tỳ khưu, nên quán xét trước về thời gian (thọ thực) còn chưa trôi qua rồi mới nên thọ dụng thức ăn. Đối với các đức Bồ Tát, nên xem xét trước về gia tộc là gia tộc Sát-đế-ly hay là gia tộc Bà-la-môn. Tâu đại vương, đối với tám hạng này thì sự việc chưa xảy đến nên được xem xét trước.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về quy luật tự nhiên đối với đức Bồ Tát là thứ tư.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā dhammatādhammapariyāye ‘pubbeva bodhisattānaṁ mātāpitaro niyatā honti, bodhi niyatā hoti, aggasāvakā niyatā honti, putto niyato hoti, upaṭṭhāko niyato hotī’ti.
Puna ca tumhe bhaṇatha—
‘tusite kāye ṭhito bodhisatto aṭṭha mahāvilokanāni viloketi, kālaṁ viloketi, dīpaṁ viloketi, desaṁ viloketi, kulaṁ viloketi, janettiṁ viloketi, āyuṁ viloketi, māsaṁ viloketi, nekkhammaṁ viloketī’ti.
Bhante nāgasena, aparipakke ñāṇe bujjhanaṁ natthi, paripakke ñāṇe na sakkā nimesantarampi āgametuṁ, anatikkamanīyaṁ paripakkamānasaṁ.
Kasmā bodhisatto kālaṁ viloketi ‘kamhi kāle uppajjāmī’ti.
Aparipakke ñāṇe bujjhanaṁ natthi, paripakke ñāṇe na sakkā nimesantarampi āgametuṁ, kasmā bodhisatto kulaṁ viloketi ‘kamhi kule uppajjāmī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, pubbeva bodhisattassa mātāpitaro niyatā, tena hi ‘kulaṁ viloketī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi kulaṁ viloketi, tena hi ‘pubbeva bodhisattassa mātāpitaro niyatā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Niyatā, mahārāja, pubbeva bodhisattassa mātāpitaro, kulañca bodhisatto viloketi.
Kinti pana kulaṁ viloketi ‘ye me mātāpitaro, te khattiyā udāhu brāhmaṇā’ti.
Evaṁ kulaṁ viloketi.
Aṭṭhannaṁ, mahārāja, pubbeva anāgataṁ oloketabbaṁ hoti.
Katamesaṁ aṭṭhannaṁ?
Vāṇijassa, mahārāja, pubbeva vikkayabhaṇḍaṁ oloketabbaṁ hoti, hatthināgassa pubbeva soṇḍāya anāgato maggo oloketabbo hoti, sākaṭikassa pubbeva anāgataṁ titthaṁ oloketabbaṁ hoti, niyāmakassa pubbeva anāgataṁ tīraṁ oloketvā nāvā pesetabbā hoti, bhisakkassa pubbeva āyuṁ oloketvā āturo upasaṅkamitabbo hoti, uttarasetussa pubbeva thirāthirabhāvaṁ jānitvā abhiruhitabbaṁ hoti, bhikkhussa pubbeva anāgataṁ kālaṁ paccavekkhitvā bhojanaṁ bhuñjitabbaṁ hoti, bodhisattānaṁ pubbeva kulaṁ oloketabbaṁ hoti ‘khattiyakulaṁ vā brāhmaṇakulaṁ vā’ti.
Imesaṁ kho, mahārāja, aṭṭhannaṁ pubbeva anāgataṁ oloketabbaṁ hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Bodhisattadhammatāpañho catuttho.