BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị.’ Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Lý do gì mà do một lời nói dối thì bị đứt đoạn và do một lời nói dối lại có được sự sửa chữa? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị.’ Và điều ấy là nặng hay nhẹ tùy theo mức độ của sự việc. Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Ở đây, có kẻ tung cú đấm bằng bàn tay vào người khác, đại vương xét xử hình phạt gì đối với kẻ ấy?”
“Thưa ngài, nếu người kia nói: ‘Tôi không tha thứ,’ thì chúng tôi sẽ bảo kẻ không được tha thứ ấy mang lại một đồng tiền.”
“Tâu đại vương, trái lại ở đây nếu chính kẻ ấy tung cú đấm bằng bàn tay vào đại vương, thì kẻ ấy chịu hình phạt gì?”
“Thưa ngài, đối với kẻ ấy trẫm có thể bảo chặt bàn tay, cũng có thể bảo chặt bàn chân, có thể bảo chặt theo lối xử trảm đến tận cái đầu, cũng có thể cho tịch thu toàn bộ nhà cửa của kẻ ấy, và thủ tiêu hai bên nội ngoại cho đến bảy đời.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Lý do gì mà trong việc đấm bằng bàn tay vào một người thì chịu hình phạt nhẹ một đồng tiền, còn trong việc đấm bằng bàn tay vào đại vương thì chịu sự bị chặt bàn tay, sự bị chặt bàn chân, cho đến việc bị chặt theo lối xử trảm đến tận cái đầu, sự tịch thu toàn bộ nhà cửa, sự thủ tiêu hai bên nội ngoại cho đến bảy đời.”
“Thưa ngài, do sự cách biệt giữa loài người.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc cố tình nói dối là nặng hay nhẹ tùy theo mức độ của sự việc.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất nặng nhẹ của lời nói dối là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti.
Bhante nāgasena, ko panettha viseso, kiṅkāraṇaṁ, yañcekena musāvādena ucchijjati, yañcekena musāvādena satekiccho hoti?
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti, tena hi ‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti, tena hi ‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti.
Bhaṇitañca—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti, tañca pana vatthuvasena garukalahukaṁ hoti.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha koci puriso parassa pāṇinā pahāraṁ dadeyya, tassa tumhe kiṁ daṇḍaṁ dhārethā”ti?
“Yadi so, bhante, āha—
‘nakkhamāmī’ti, tassa mayaṁ akkhamamāne kahāpaṇaṁ harāpemā”ti.
“Idha pana, mahārāja, soyeva puriso tava pāṇinā pahāraṁ dadeyya, tassa pana ko daṇḍo”ti?
“Hatthampissa, bhante, chedāpeyyāma, pādampi chedāpeyyāma, yāva sīsaṁ kaḷīracchejjaṁ chedāpeyyāma, sabbampi taṁ gehaṁ vilumpāpeyyāma, ubhatopakkhe yāva sattamaṁ kulaṁ samugghātāpeyyāmā”ti.
“Ko panettha, mahārāja, viseso, kiṅkāraṇaṁ, yaṁ ekassa pāṇippahāre sukhumo kahāpaṇo daṇḍo, yaṁ tava pāṇippahāre hatthacchejjaṁ pādacchejjaṁ yāva kaḷīracchejjaṁ sabbagehādānaṁ ubhatopakkhe yāva sattamakulā samugghāto”ti?
“Manussantarena, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sampajānamusāvādo vatthuvasena garukalahuko hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Musāvādagarulahubhāvapañho tatiyo.
PTS cs 9 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One that a deliberate lie is an offence of the greatest kind (involving exclusion from the Order). PTS vp En 269 And again he said: “By a deliberate lie a Bhikkhu commits a minor offence, one that ought to be the subject of confession made before another (member of the Order).” Now, venerable Nāgasena, what is herein the distinction, what the reason, that by one lie a Bhikkhu is cast out of the Order, and by another he is guilty only of an offence that can be atoned for. If the first decision be right, then the second must be wrong; but if the second be right, then the first must be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 10 PTS vp Pali 193 ‘Both your quotations, O king, are correct. But a falsehood is a light or heavy offence according to the subject matter. For what do you think, great king? Suppose a man were to give another a slap with his hand, what punishment would you inflict upon him?’
‘If the other refused to overlook the matter, then neither should we be able to pardon his assailant, but should mulct him in a penny or so.’
‘But on the other hand, suppose it had been you PTS vp En 270 yourself that he had given the blow to, what would then be the punishment?’
‘We should condemn him to have his hands cut off, and his feet cut off, and to be skinned alive, and we should confiscate all the goods in his house, and put to death all his family to the seventh generation on both sides.’
‘But, great king, what is the distinction? Why is it that for one slap of the hand there should be a gentle fine of a penny, while for a slap given to you there should be so fearful a retribution?’
‘Because of the difference in the person (assaulted).’
‘Well! just so, great king, is a falsehood a light or a heavy offence according to the attendant circumstances.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the degree of offence in falsehood.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị.’ Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Lý do gì mà do một lời nói dối thì bị đứt đoạn và do một lời nói dối lại có được sự sửa chữa? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội pārājika.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Khi cố tình nói dối thì phạm tội nhẹ với việc sám hối trong sự hiện diện của một vị.’ Và điều ấy là nặng hay nhẹ tùy theo mức độ của sự việc. Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Ở đây, có kẻ tung cú đấm bằng bàn tay vào người khác, đại vương xét xử hình phạt gì đối với kẻ ấy?”
“Thưa ngài, nếu người kia nói: ‘Tôi không tha thứ,’ thì chúng tôi sẽ bảo kẻ không được tha thứ ấy mang lại một đồng tiền.”
“Tâu đại vương, trái lại ở đây nếu chính kẻ ấy tung cú đấm bằng bàn tay vào đại vương, thì kẻ ấy chịu hình phạt gì?”
“Thưa ngài, đối với kẻ ấy trẫm có thể bảo chặt bàn tay, cũng có thể bảo chặt bàn chân, có thể bảo chặt theo lối xử trảm đến tận cái đầu, cũng có thể cho tịch thu toàn bộ nhà cửa của kẻ ấy, và thủ tiêu hai bên nội ngoại cho đến bảy đời.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Lý do gì mà trong việc đấm bằng bàn tay vào một người thì chịu hình phạt nhẹ một đồng tiền, còn trong việc đấm bằng bàn tay vào đại vương thì chịu sự bị chặt bàn tay, sự bị chặt bàn chân, cho đến việc bị chặt theo lối xử trảm đến tận cái đầu, sự tịch thu toàn bộ nhà cửa, sự thủ tiêu hai bên nội ngoại cho đến bảy đời.”
“Thưa ngài, do sự cách biệt giữa loài người.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc cố tình nói dối là nặng hay nhẹ tùy theo mức độ của sự việc.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất nặng nhẹ của lời nói dối là thứ ba.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti.
Bhante nāgasena, ko panettha viseso, kiṅkāraṇaṁ, yañcekena musāvādena ucchijjati, yañcekena musāvādena satekiccho hoti?
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti, tena hi ‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti, tena hi ‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘sampajānamusāvāde pārājiko hotī’ti.
Bhaṇitañca—
‘sampajānamusāvāde lahukaṁ āpattiṁ āpajjati ekassa santike desanāvatthukan’ti, tañca pana vatthuvasena garukalahukaṁ hoti.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, idha koci puriso parassa pāṇinā pahāraṁ dadeyya, tassa tumhe kiṁ daṇḍaṁ dhārethā”ti?
“Yadi so, bhante, āha—
‘nakkhamāmī’ti, tassa mayaṁ akkhamamāne kahāpaṇaṁ harāpemā”ti.
“Idha pana, mahārāja, soyeva puriso tava pāṇinā pahāraṁ dadeyya, tassa pana ko daṇḍo”ti?
“Hatthampissa, bhante, chedāpeyyāma, pādampi chedāpeyyāma, yāva sīsaṁ kaḷīracchejjaṁ chedāpeyyāma, sabbampi taṁ gehaṁ vilumpāpeyyāma, ubhatopakkhe yāva sattamaṁ kulaṁ samugghātāpeyyāmā”ti.
“Ko panettha, mahārāja, viseso, kiṅkāraṇaṁ, yaṁ ekassa pāṇippahāre sukhumo kahāpaṇo daṇḍo, yaṁ tava pāṇippahāre hatthacchejjaṁ pādacchejjaṁ yāva kaḷīracchejjaṁ sabbagehādānaṁ ubhatopakkhe yāva sattamakulā samugghāto”ti?
“Manussantarena, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, sampajānamusāvādo vatthuvasena garukalahuko hotī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Musāvādagarulahubhāvapañho tatiyo.