BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy’ là sai trái.
Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
Và Ngài đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’
Tâu đại vương, điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết,’ điều ấy là lời nói về bản thể, là lời nói không thiếu sót, là lời nói không thay đổi, (điều ấy) tương xứng với Sa-môn, thích hợp với Sa-môn, thích đáng với Sa-môn, xứng đáng với Sa-môn, (việc ấy) là hành xứ của Sa-môn, là cách thức của Sa-môn, là pháp hành của Sa-môn.
Tâu đại vương, giống như con nai, là loài thú rừng, trong khi lang thang ở rừng cây, rừng rậm, không chỗ ngụ, không nhà ở, thì ngủ (nơi nào) theo như ý thích, tâu đại vương, tương tợ y như thế vị tỳ khưu nên suy tư rằng: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
BJT 3Tâu đại vương, trái lại về điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy,’ điều ấy đã được đức Thế Tôn nói trong khi xem xét về hai lợi ích. Hai điều nào? Việc gọi là bố thí trú xá được tất cả chư Phật ngợi khen, đồng ý, tán dương, ca tụng rằng: ‘Những người ấy sau khi dâng cúng vật thí về trú xá ấy thì sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi sanh-già-chết.’ Đây là lợi ích thứ nhất trong việc bố thí trú xá.
Còn có điều khác nữa, trong khi trú xá được hiện hữu thì các tỳ khưu ni sẽ có được nơi gặp gỡ các vị (tỳ khưu) có kinh nghiệm, đối với những người có ước muốn tiếp kiến thì việc tiếp kiến sẽ là việc dễ dàng đạt được, việc khó tiếp kiến sẽ xảy ra khi không có trú xứ. Đây là lợi ích thứ nhì trong việc bố thí trú xá. Trong khi xem xét về hai lợi ích này, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’ Trong trường hợp ấy, người con trai của đức Phật không nên biến chỗ ngụ thành nhà ở.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự thân thiết là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Santhavato bhayaṁ jātaṁ,
niketā jāyate rajo;
Aniketamasanthavaṁ,
etaṁ ve munidassanan’ti.
Puna ca bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti, tena hi ‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, tena hi ‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti.
Bhaṇitañca—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti.
Yaṁ, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti, taṁ sabhāvavacanaṁ asesavacanaṁ nissesavacanaṁ nippariyāyavacanaṁ samaṇānucchavaṁ samaṇasāruppaṁ samaṇappatirūpaṁ samaṇārahaṁ samaṇagocaraṁ samaṇappaṭipadā samaṇappaṭipatti.
Yathā, mahārāja, āraññako migo araññe pavane caramāno nirālayo aniketo yathicchakaṁ sayati;
evameva kho, mahārāja, bhikkhunā ‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti cintetabbaṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, taṁ dve atthavase sampassamānena bhagavatā bhaṇitaṁ.
Katame dve?
Vihāradānaṁ nāma sabbabuddhehi vaṇṇitaṁ anumataṁ thomitaṁ pasatthaṁ, taṁ te vihāradānaṁ datvā jātijarāmaraṇā parimuccissantīti.
Ayaṁ tāva paṭhamo ānisaṁso vihāradāne.
Puna caparaṁ vihāre vijjamāne bhikkhuniyo byattasaṅketā bhavissanti, sulabhaṁ dassanaṁ dassanakāmānaṁ, anikete duddassanā bhavissantīti.
Ayaṁ dutiyo ānisaṁso vihāradāne.
Ime dve atthavase sampassamānena bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, na tattha buddhaputtena ālayo karaṇīyo nikete”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Santhavapañho paṭhamo.
PTS cs 1 PTS vp Pali 211 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said:
In friendship of the world anxiety is born,
In household life distraction’s dust springs up,
The state set free from home and friendship’s ties,
That, and that only, is the recluse’s aim.” PTS vp En 2
‘But on the other hand he said:
“Let therefore the wise man,
Regarding his own weal,
Have pleasant dwelling-places built,
And lodge there learned men.”
Now, venerable Nāgasena, if the former of these two passages was really spoken by the Tathāgata, then the second must be wrong. But if the Tathāgata really said: “Have pleasant dwelling-places built,” then the former statement must be wrong. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 2 PTS vp Pali 212 ‘Both the passages you have quoted, O king, were spoken by the Tathāgata. And the former is a statement as to the nature of things, an inclusive statement, a statement which leaves no room for anything to be supplemented to it, or to be added to it in the way of gloss, as to what is seemly and appropriate and proper for a recluse, and as to the mode of life which a recluse should adopt, the path he should walk along, and the practice he should follow. For just, O king, as a deer in the forest, wandering in the woods, sleeps wherever he desires, having no home and no PTS vp En 3 dwelling-place, so also should the recluse be of opinion that
“In friendship of the world anxiety is born,
In household life distraction’s dust springs up.”
PTS cs 3 ‘But when the Blessed One said:
“Have pleasant dwelling-places built,
And lodge there learned men,”
that was said with respect to two matters only. And what are those two? the gift of a dwelling-place (Vihāra) has been praised and approved, esteemed and highly spoken of, by all the Buddhas. And those who have made such a gift shall be delivered from rebirth, old age, and death. This is the first of the advantages in the gift of a dwelling-place. And again, if there be a common dwelling place (a Vihāra) the sisters of the Order will have a clearly ascertained place of rendezvous, and those who wish to visit (the brethren of the Order) will find it an easy matter to do so. Whereas if there were no homes for the members of the Order it would be difficult to visit them. This is the second of the advantages in the gift of a dwelling-place (a Vihāra). It was with reference to these two matters only that it was said by the Blessed One:
“Have pleasant dwelling-places built,
And lodge there learned men.”
PTS vp Pali 213 ‘And it does not follow from that that the sons of the Buddha should harbour longings after the household life.’ PTS vp En 4
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to dwelling-places.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy’ là sai trái.
Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
Và Ngài đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’
Tâu đại vương, điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết,’ điều ấy là lời nói về bản thể, là lời nói không thiếu sót, là lời nói không thay đổi, (điều ấy) tương xứng với Sa-môn, thích hợp với Sa-môn, thích đáng với Sa-môn, xứng đáng với Sa-môn, (việc ấy) là hành xứ của Sa-môn, là cách thức của Sa-môn, là pháp hành của Sa-môn.
Tâu đại vương, giống như con nai, là loài thú rừng, trong khi lang thang ở rừng cây, rừng rậm, không chỗ ngụ, không nhà ở, thì ngủ (nơi nào) theo như ý thích, tâu đại vương, tương tợ y như thế vị tỳ khưu nên suy tư rằng: ‘Sợ hãi sanh ra từ sự thân thiết, bụi bặm sanh ra từ nhà ở, không nhà ở không thân thiết, quả thật điều ấy là quan điểm của bậc hiền triết.’
BJT 3Tâu đại vương, trái lại về điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy,’ điều ấy đã được đức Thế Tôn nói trong khi xem xét về hai lợi ích. Hai điều nào? Việc gọi là bố thí trú xá được tất cả chư Phật ngợi khen, đồng ý, tán dương, ca tụng rằng: ‘Những người ấy sau khi dâng cúng vật thí về trú xá ấy thì sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi sanh-già-chết.’ Đây là lợi ích thứ nhất trong việc bố thí trú xá.
Còn có điều khác nữa, trong khi trú xá được hiện hữu thì các tỳ khưu ni sẽ có được nơi gặp gỡ các vị (tỳ khưu) có kinh nghiệm, đối với những người có ước muốn tiếp kiến thì việc tiếp kiến sẽ là việc dễ dàng đạt được, việc khó tiếp kiến sẽ xảy ra khi không có trú xứ. Đây là lợi ích thứ nhì trong việc bố thí trú xá. Trong khi xem xét về hai lợi ích này, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Nên cho xây dựng trú xá đẹp, nên thỉnh các bậc nghe nhiều (học rộng) ngụ tại nơi ấy.’ Trong trường hợp ấy, người con trai của đức Phật không nên biến chỗ ngụ thành nhà ở.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự thân thiết là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Santhavato bhayaṁ jātaṁ,
niketā jāyate rajo;
Aniketamasanthavaṁ,
etaṁ ve munidassanan’ti.
Puna ca bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti, tena hi ‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatena bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, tena hi ‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti.
Bhaṇitañca—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti.
Yaṁ, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti, taṁ sabhāvavacanaṁ asesavacanaṁ nissesavacanaṁ nippariyāyavacanaṁ samaṇānucchavaṁ samaṇasāruppaṁ samaṇappatirūpaṁ samaṇārahaṁ samaṇagocaraṁ samaṇappaṭipadā samaṇappaṭipatti.
Yathā, mahārāja, āraññako migo araññe pavane caramāno nirālayo aniketo yathicchakaṁ sayati;
evameva kho, mahārāja, bhikkhunā ‘santhavato bhayaṁ jātaṁ, niketā jāyate rajo.
Aniketamasanthavaṁ, etaṁ ve munidassanan’ti cintetabbaṁ.
Yaṁ pana, mahārāja, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, taṁ dve atthavase sampassamānena bhagavatā bhaṇitaṁ.
Katame dve?
Vihāradānaṁ nāma sabbabuddhehi vaṇṇitaṁ anumataṁ thomitaṁ pasatthaṁ, taṁ te vihāradānaṁ datvā jātijarāmaraṇā parimuccissantīti.
Ayaṁ tāva paṭhamo ānisaṁso vihāradāne.
Puna caparaṁ vihāre vijjamāne bhikkhuniyo byattasaṅketā bhavissanti, sulabhaṁ dassanaṁ dassanakāmānaṁ, anikete duddassanā bhavissantīti.
Ayaṁ dutiyo ānisaṁso vihāradāne.
Ime dve atthavase sampassamānena bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘vihāre kāraye ramme, vāsayettha bahussute’ti, na tattha buddhaputtena ālayo karaṇīyo nikete”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Santhavapañho paṭhamo.