BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Trong khi là vị ẩn sĩ tên Lomasakassapa đã giết chết hàng trăm mạng sống và đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống’ là sai trái. Nếu đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống, như thế thì lời nói rằng: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh.’ Và đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống. Tuy nhiên, việc ấy là do tác động của ái luyến, không có sự suy nghĩ, không có sự cố ý.”
“Thưa ngài Nāgasena, tám hạng người này giết hại mạng sống. Tám hạng nào? Hạng luyến ái giết hại mạng sống do tác động của luyến ái, hạng xấu xa giết hại mạng sống do tác động của sân, hạng mê mờ giết hại mạng sống do tác động của si, hạng ngã mạn giết hại mạng sống do tác động của ngã mạn, hạng tham lam giết hại mạng sống do tác động của tham, hạng không có gì giết hại mạng sống vì mục đích nuôi mạng, hạng ngu dốt giết hại mạng sống do tác động của sự đùa giỡn, đức vua giết hại mạng sống do tác động của kỷ cương. Thưa ngài Nāgasena, đây là tám hạng người giết hại mạng sống. Thưa ngài Nāgasena, có phải việc đã làm bởi đức Bồ Tát có tính chất tự nhiên?”
“Tâu đại vương, việc đã làm bởi đức Bồ Tát không phải có tính chất tự nhiên. Tâu đại vương, nếu đức Bồ Tát hạ thấp (phẩm cách) để hiến cúng đại lễ tế thần vì bản tánh tự nhiên thì không nói lên lời kệ này:
‘Ta không mong muốn vùng đất có sự bao quanh của biển cả, có biển là vòng đai, cùng với lời phỉ báng. Này Sayha, ngươi hãy nhận biết như vậy.’
BJT 3Tâu đại vương, với lời nói như vậy đức Bồ Tát do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết.
Tâu đại vương, giống như kẻ bị điên, có tâm bị tán loạn, bước lên ngọn lửa đã được đốt cháy, nắm bắt con rắn độc đã bị lên cơn giận, cưỡi lên con voi đã bị nổi điên, lao vào biển cả không nhìn thấy bến bờ, giẫm đạp vào vũng nước luôn cả hố phân, leo lên hàng rào gai, lao vào vực thẳm, ăn vật dơ, thậm chí lõa lồ đi ở đường phố, (hoặc) làm nhiều công việc không xứng đáng khác nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Bồ Tát do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết.
Tâu đại vương, việc xấu xa đã được làm bởi kẻ có tâm bị tán loạn trong thời hiện tại không phải là có tội lỗi nghiêm trọng, và tương tợ y như thế cũng không có quả thành tựu ở thời vị lai. Tâu đại vương, ở đây một kẻ điên khùng nào đó phạm vào tội đáng chết thì ngài sẽ giáng xuống kẻ đó hình phạt gì?”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, sẽ là hình phạt gì đối với kẻ điên khùng? Chúng tôi cho người đánh đập rồi bảo đuổi kẻ ấy đi; chính điều ấy là hình phạt đối với kẻ ấy.”
“Tâu đại vương, như thế cũng không có hình phạt trong việc phạm tội của kẻ điên khùng. Vì thế, trong việc đã làm của kẻ điên khùng thì không có sự sai trái, có thể tha thứ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị ẩn sĩ Lomasakassapa do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, đã đi ra ngoài sự kiềm chế, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết. Hơn nữa, đến khi đã có tâm trở lại bình thường, có trí nhớ đã được hồi phục, khi ấy (Lomasakassapa) sau khi xuất gia trở lại lần nữa, đã làm sanh khởi năm thắng trí, và đã đi đến cõi Phạm Thiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Lomasakassapa là thứ năm.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘lomasakassapo nāma isi samāno anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti, tena hi ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitaṁ’, tena hi ‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti, ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitaṁ’, tañca pana rāgavasena visaññinā, no sacetanenā”ti.
“Aṭṭhime, bhante nāgasena, puggalā pāṇaṁ hananti.
Katame aṭṭha?
Ratto rāgavasena pāṇaṁ hanati, duṭṭho dosavasena pāṇaṁ hanati, mūḷho mohavasena pāṇaṁ hanati, mānī mānavasena pāṇaṁ hanati, luddho lobhavasena pāṇaṁ hanati, akiñcano jīvikatthāya pāṇaṁ hanati, bālo hassavasena pāṇaṁ hanati, rājā vinayanavasena pāṇaṁ hanati.
Ime kho, bhante nāgasena, aṭṭha puggalā pāṇaṁ hananti.
Pākatikaṁyeva, bhante nāgasena, bodhisattena katan”ti.
“Na, mahārāja, pākatikaṁ bodhisattena kataṁ, yadi, mahārāja, bodhisatto pakatibhāvena onameyya mahāyaññaṁ yajituṁ, na yimaṁ gāthaṁ bhaṇeyya—
‘Sasamuddapariyāyaṁ,
mahiṁ sāgarakuṇḍalaṁ;
Na icche saha nindāya,
evaṁ seyha vijānahī’ti.
Evaṁvādī, mahārāja, bodhisatto saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto ākulākulo turitaturito tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Yathā, mahārāja, ummattako khittacitto jalitampi jātavedaṁ akkamati, kupitampi āsīvisaṁ gaṇhāti, mattampi hatthiṁ upeti, samuddampi atīradassiṁ pakkhandati, candanikampi oḷigallampi omaddati, kaṇṭakādhānampi abhiruhati, papātepi patati, asucimpi bhakkheti, naggopi rathiyā carati, aññampi bahuvidhaṁ akiriyaṁ karoti.
Evameva kho, mahārāja, bodhisatto saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto ākulākulo turitaturito, tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Khittacittena, mahārāja, kataṁ pāpaṁ diṭṭhadhammepi na mahāsāvajjaṁ hoti, samparāye vipākenapi no tathā.
Idha, mahārāja, koci ummattako vajjhamāpajjeyya, tassa tumhe kiṁ daṇḍaṁ dhārethā”ti?
“Ko, bhante, ummattakassa daṇḍo bhavissati, taṁ mayaṁ pothāpetvā nīharāpema, esova tassa daṇḍo”ti.
“Iti kho, mahārāja, ummattakassa aparādhe daṇḍopi na bhavati, tasmā ummattakassa katepi na doso bhavati satekiccho.
Evameva kho, mahārāja, lomasakassapo isi saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto visaṭapayāto ākulākulo turitaturito, tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Yadā ca pana pakaticitto ahosi paṭiladdhassati, tadā punadeva pabbajitvā pañcābhiññāyo nibbattetvā brahmalokūpago ahosī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhaaviheṭhakapañho pañcamo.
PTS cs 16 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One:
“Already in former births when I was a man had I acquired the habit of inflicting no hurt on living beings.”
But on the other hand it is said:
When he was Lomasa Kassapa, the Rishi, he had hundreds of living creatures slain and offered the great sacrifice, the ‘Drink of Triumph.’” PTS vp En 17
‘Now, Nāgasena, if it is true what the Buddha said, that, in his former births as a man, he inflicted no hurt on living beings, then the saying that, as Lomasa Kassapa, he had hundreds of living creatures slain must be false. But if he had, then the saying that he inflicted no hurt on living beings must be false. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 17 ‘The Blessed One did say, O king, that already in former births, when he was a man, he had acquired the habit of inflicting no hurt on living beings. And Lomasa Kassapa, the Rishi, did have hundreds of living creatures slain, and offered the great sacrifice, the “Drink of Triumph.” PTS vp Pali 220 But that was done when he was out of his mind through lust, and not when he was conscious of what he was doing.’
‘There are these eight classes of men, Nāgasena, who kill living beings—the lustful man through his lust, and the cruel man through his anger, and the dull man through his stupidity, and the proud man through his pride, and the avaricious man through his greed, and the needy man for the sake of a livelihood, and the fool in joke, and the king in the way of punishment. These, Nāgasena, are the eight classes of men who, kill living beings. The Bodisat, venerable Nāgasena, must have been acting in accordance with his natural disposition when he did so.’
‘No, it was not, O king, an act natural to him that the Bodisat did then. If the Bodisat had been led, by natural inclination, to offer the great sacrifice, he would not have uttered the verse:
PTS vp En 18
“Not the whole world, Sayha, the ocean girt,
With all the seas and hills that girdle it,
Would I desire to have, along with shame.”
‘But though, O king, the Bodisat had said that, yet at the very sight of candavatī (Moon-face), the princess, he went out of his mind and lost command of himself through love. And it was when thus out of his mind, confused and agitated, that he, with his thoughts all perplexed, scattered and wandering, thus offered the great sacrifice, the “Drink of Triumph,"—and mighty was the outpour of blood from the necks of the slaughtered beasts!
‘Just, O king, as a madman, when out of his senses, will step into a fiery furnace, and take hold of an infuriated venomous snake, and go up to a rogue elephant, and plunge forwards into great waters, the further shore of which he cannot see, and trample through dirty pools and muddy places, and rush into thorny brakes, and fall down precipices, and feed himself on filth, and go naked through the streets, and do many other things improper to be done—just so was it, O king, that at the very sight of candavatī, the princess, the Bodisat went out of his mind, and then only acted as I have said.
PTS cs 18 PTS vp Pali 221 ‘Now an evil act done, O king, by one out of his mind, is even in this present world not considered as a grievous offence, nor is it so in PTS vp En 19 respect of the fruit that it brings about in a future life. Suppose, O king, that a madman had been guilty of a capital offence, what punishment would you inflict upon him?’
‘What punishment is due to a madman? We should order him to be beaten and set free. That is all the punishment he would have.’
‘So then, O king, there is no punishment according to the offence of a madman. It follows that there is no sin in the act done by a madman, it is a pardonable act. And just so, O king, is it with respect to Lomasa Kassapa, the Rishi, who at the mere sight of candavatī, the princess, went out of his mind, and lost command of himself through love. It was when thus out of his mind, confused and agitated, that he, with his thoughts all perplexed, scattered and wandering, thus offered the great sacrifice, the “Drink of Triumph,"—and mighty was the outpour of blood from the necks of the slaughtered beasts! But when he returned again to his natural state, and recovered his presence of mind, then did he again renounce the world, and having regained the five powers of insight, became assured of rebirth in the Brahmā world.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma about Lomasa Kassapa.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Trong khi là vị ẩn sĩ tên Lomasakassapa đã giết chết hàng trăm mạng sống và đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống’ là sai trái. Nếu đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống, như thế thì lời nói rằng: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Vào thời quá khứ, trong khi có bản thể nhân loại, Ta đã là người có bản tánh không hãm hại chúng sanh.’ Và đại lễ tế thần Vājapeyya đã được ẩn sĩ Lomasakassapa hiến cúng sau khi đã giết chết hàng trăm mạng sống. Tuy nhiên, việc ấy là do tác động của ái luyến, không có sự suy nghĩ, không có sự cố ý.”
“Thưa ngài Nāgasena, tám hạng người này giết hại mạng sống. Tám hạng nào? Hạng luyến ái giết hại mạng sống do tác động của luyến ái, hạng xấu xa giết hại mạng sống do tác động của sân, hạng mê mờ giết hại mạng sống do tác động của si, hạng ngã mạn giết hại mạng sống do tác động của ngã mạn, hạng tham lam giết hại mạng sống do tác động của tham, hạng không có gì giết hại mạng sống vì mục đích nuôi mạng, hạng ngu dốt giết hại mạng sống do tác động của sự đùa giỡn, đức vua giết hại mạng sống do tác động của kỷ cương. Thưa ngài Nāgasena, đây là tám hạng người giết hại mạng sống. Thưa ngài Nāgasena, có phải việc đã làm bởi đức Bồ Tát có tính chất tự nhiên?”
“Tâu đại vương, việc đã làm bởi đức Bồ Tát không phải có tính chất tự nhiên. Tâu đại vương, nếu đức Bồ Tát hạ thấp (phẩm cách) để hiến cúng đại lễ tế thần vì bản tánh tự nhiên thì không nói lên lời kệ này:
‘Ta không mong muốn vùng đất có sự bao quanh của biển cả, có biển là vòng đai, cùng với lời phỉ báng. Này Sayha, ngươi hãy nhận biết như vậy.’
BJT 3Tâu đại vương, với lời nói như vậy đức Bồ Tát do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết.
Tâu đại vương, giống như kẻ bị điên, có tâm bị tán loạn, bước lên ngọn lửa đã được đốt cháy, nắm bắt con rắn độc đã bị lên cơn giận, cưỡi lên con voi đã bị nổi điên, lao vào biển cả không nhìn thấy bến bờ, giẫm đạp vào vũng nước luôn cả hố phân, leo lên hàng rào gai, lao vào vực thẳm, ăn vật dơ, thậm chí lõa lồ đi ở đường phố, (hoặc) làm nhiều công việc không xứng đáng khác nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Bồ Tát do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết.
Tâu đại vương, việc xấu xa đã được làm bởi kẻ có tâm bị tán loạn trong thời hiện tại không phải là có tội lỗi nghiêm trọng, và tương tợ y như thế cũng không có quả thành tựu ở thời vị lai. Tâu đại vương, ở đây một kẻ điên khùng nào đó phạm vào tội đáng chết thì ngài sẽ giáng xuống kẻ đó hình phạt gì?”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, sẽ là hình phạt gì đối với kẻ điên khùng? Chúng tôi cho người đánh đập rồi bảo đuổi kẻ ấy đi; chính điều ấy là hình phạt đối với kẻ ấy.”
“Tâu đại vương, như thế cũng không có hình phạt trong việc phạm tội của kẻ điên khùng. Vì thế, trong việc đã làm của kẻ điên khùng thì không có sự sai trái, có thể tha thứ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị ẩn sĩ Lomasakassapa do việc nhìn thấy nàng Candavatī, con gái của đức vua, đã không còn có sự suy nghĩ, tâm bị tán loạn, bị luyến ái, có trạng thái không suy nghĩ, đã đi ra ngoài sự kiềm chế, vô cùng bối rối, vô cùng vội vã. Với tâm đã bị tán loạn, đã bị lay động, đã bị khuấy động ấy, vị ấy đã hiến cúng đại lễ tế thần Vājapeyya với sự tích lũy to lớn khổng lồ về lượng máu từ cần cổ của những con thú bị giết. Hơn nữa, đến khi đã có tâm trở lại bình thường, có trí nhớ đã được hồi phục, khi ấy (Lomasakassapa) sau khi xuất gia trở lại lần nữa, đã làm sanh khởi năm thắng trí, và đã đi đến cõi Phạm Thiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Lomasakassapa là thứ năm.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘lomasakassapo nāma isi samāno anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti, tena hi ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitan’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitaṁ’, tena hi ‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘pubbe vāhaṁ manussabhūto samāno sattānaṁ aviheṭhakajātiko ahosin’ti, ‘lomasakassapena isinā anekasate pāṇe ghātayitvā vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yajitaṁ’, tañca pana rāgavasena visaññinā, no sacetanenā”ti.
“Aṭṭhime, bhante nāgasena, puggalā pāṇaṁ hananti.
Katame aṭṭha?
Ratto rāgavasena pāṇaṁ hanati, duṭṭho dosavasena pāṇaṁ hanati, mūḷho mohavasena pāṇaṁ hanati, mānī mānavasena pāṇaṁ hanati, luddho lobhavasena pāṇaṁ hanati, akiñcano jīvikatthāya pāṇaṁ hanati, bālo hassavasena pāṇaṁ hanati, rājā vinayanavasena pāṇaṁ hanati.
Ime kho, bhante nāgasena, aṭṭha puggalā pāṇaṁ hananti.
Pākatikaṁyeva, bhante nāgasena, bodhisattena katan”ti.
“Na, mahārāja, pākatikaṁ bodhisattena kataṁ, yadi, mahārāja, bodhisatto pakatibhāvena onameyya mahāyaññaṁ yajituṁ, na yimaṁ gāthaṁ bhaṇeyya—
‘Sasamuddapariyāyaṁ,
mahiṁ sāgarakuṇḍalaṁ;
Na icche saha nindāya,
evaṁ seyha vijānahī’ti.
Evaṁvādī, mahārāja, bodhisatto saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto ākulākulo turitaturito tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Yathā, mahārāja, ummattako khittacitto jalitampi jātavedaṁ akkamati, kupitampi āsīvisaṁ gaṇhāti, mattampi hatthiṁ upeti, samuddampi atīradassiṁ pakkhandati, candanikampi oḷigallampi omaddati, kaṇṭakādhānampi abhiruhati, papātepi patati, asucimpi bhakkheti, naggopi rathiyā carati, aññampi bahuvidhaṁ akiriyaṁ karoti.
Evameva kho, mahārāja, bodhisatto saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto ākulākulo turitaturito, tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Khittacittena, mahārāja, kataṁ pāpaṁ diṭṭhadhammepi na mahāsāvajjaṁ hoti, samparāye vipākenapi no tathā.
Idha, mahārāja, koci ummattako vajjhamāpajjeyya, tassa tumhe kiṁ daṇḍaṁ dhārethā”ti?
“Ko, bhante, ummattakassa daṇḍo bhavissati, taṁ mayaṁ pothāpetvā nīharāpema, esova tassa daṇḍo”ti.
“Iti kho, mahārāja, ummattakassa aparādhe daṇḍopi na bhavati, tasmā ummattakassa katepi na doso bhavati satekiccho.
Evameva kho, mahārāja, lomasakassapo isi saha dassanena candavatiyā rājakaññāya visaññī ahosi khittacitto ratto visaññibhūto visaṭapayāto ākulākulo turitaturito, tena vikkhittabhantaluḷitacittena mahatimahāpasughātagalaruhirasañcayaṁ vājapeyyaṁ mahāyaññaṁ yaji.
Yadā ca pana pakaticitto ahosi paṭiladdhassati, tadā punadeva pabbajitvā pañcābhiññāyo nibbattetvā brahmalokūpago ahosī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhaaviheṭhakapañho pañcamo.