BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Thưa ngài Nāgasena, tại sao cốc liêu của đức Như Lai Kassapa, bậc có thiện căn đầy đủ như thế, lại bị mưa dột? Oai lực ấy của đức Như Lai là điều đáng được ao ước. Thưa ngài Nāgasena, nếu căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột’ là sai trái. Nếu cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Tâu đại vương, người thợ gốm Ghaṭīkāra là người có giới hạnh, có thiện pháp, có thiện căn đầy đủ, đang nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa già yếu. (Các tỳ khưu) không có mặt của vị ấy, còn chưa có hỏi ý, đã lấy đi cỏ (lợp mái) ở nhà của vị ấy rồi che mái cho cốc liêu của đức Thế Tôn. Vị ấy, với việc lấy đi cỏ (lợp mái) ấy, đã đạt được niềm vui không bị lay chuyển, không bị dao động, khéo được ổn định, bao la, không thể sánh bằng, và còn làm sanh lên tâm hoan hỷ không thể ước lượng hơn thế nữa: ‘Ôi, quả nhiên đức Thế Tôn, bậc tối thượng ở thế gian, đã vô cùng tin tưởng ở ta!’ Do việc ấy, quả thành tựu hiện tiền đã sanh lên cho vị ấy. Tâu đại vương, bởi vì đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, giống như núi chúa Sineru cũng không rúng động không dao động bởi sự dồn dập của hàng trăm ngàn cơn gió; đại dương, biển cả cao quý và ưu tú, cũng không tràn đầy, không đi đến sự xáo trộn vì hàng trăm vạn trăm ngàn con sông lớn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, hơn nữa về việc cốc liêu của đức Như Lai bị mưa dột, việc ấy là vì lòng thương tưởng đối với số đông nhân loại. Tâu đại vương, trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra: -Chư Thiên và nhân loại (nghĩ rằng): ‘Bậc Đạo Sư này là bậc đáng cúng dường hạng nhất’ sẽ dâng cúng vật thiết yếu đến đức Thế Tôn và sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi mọi cảnh giới khổ đau -Chớ để những kẻ khác trách móc rằng: ‘Những vị này phô diễn điều kỳ diệu và tầm cầu sinh kế.’ Trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra.
Tâu đại vương, nếu (Chúa Trời) Sakka hoặc đấng Brahmā, hoặc tự thân (đức Thế Tôn) làm cho cốc liêu ấy hết mưa dột thì có thể có điều đáng nói; chính việc làm ấy là có sự sai trái, có sự khiển trách rằng: ‘Những người này gây ra chuyện rồi mê hoặc thế gian, làm việc có tính chất dư thừa.’ Do đó, việc làm ấy là đáng bị chê trách. Tâu đại vương, các đức Như Lai không cầu xin vật chất. Do việc không cầu xin vật chất ấy, các Ngài không đáng bị quở trách.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Ghaṭīkāra là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ sabbaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘kassapassa tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti.
Kissa pana, bhante nāgasena, tathāgatassa evamussannakusalamūlassa kuṭi ovassati, tathāgatassa nāma so ānubhāvo icchitabbo?
Yadi, bhante nāgasena, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ anovassaṁ ākāsacchadanaṁ ahosi, tena hi ‘tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatassa kuṭi ovassati, tena hi ‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ anovassakaṁ ahosi ākāsacchadanan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ sabbaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti.
Bhaṇitañca—
‘kassapassa tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti.
Ghaṭikāro, mahārāja, kumbhakāro sīlavā kalyāṇadhammo ussannakusalamūlo andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti, tassa asammukhā anāpucchāyevassa ghare tiṇaṁ haritvā bhagavato kuṭiṁ chādesuṁ, so tena tiṇaharaṇena akampitaṁ asañcalitaṁ susaṇṭhitaṁ vipulamasamaṁ pītiṁ paṭilabhati, bhiyyo somanassañca atulaṁ uppādesi ‘aho vata me bhagavā lokuttamo suvissattho’ti, tena tassa diṭṭhadhammiko vipāko nibbatto.
Na hi, mahārāja, tathāgato tāvatakena vikārena calati.
Yathā, mahārāja, sineru girirājā anekasatasahassavātasampahārenapi na kampati na calati, mahodadhi varappavarasāgaro anekasatanahutamahāgaṅgāsatasahassehipi na pūrati na vikāramāpajjati;
evameva kho, mahārāja, tathāgato na tāvatakena vikārena calati.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgatassa kuṭi ovassati, taṁ mahato janakāyassa anukampāya.
Dveme, mahārāja, atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṁ nimmitaṁ paccayaṁ nappaṭisevanti, ‘ayaṁ aggadakkhiṇeyyo satthā’ti bhagavato paccayaṁ datvā devamanussā sabbaduggatito parimuccissantīti, pāṭihīraṁ dassetvā vuttiṁ pariyesantīti ‘mā aññe upavadeyyun’ti.
Ime dve atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṁ nimmitaṁ paccayaṁ nappaṭisevanti.
Yadi, mahārāja, sakko vā taṁ kuṭiṁ anovassaṁ kareyya brahmā vā sayaṁ vā, sāvajjaṁ bhaveyya taṁyeva karaṇaṁ sadosaṁ saniggahaṁ, ime vibhūtaṁ katvā lokaṁ sammohenti adhikataṁ karontīti, tasmā taṁ karaṇaṁ vajjanīyaṁ.
Na, mahārāja, tathāgatā vatthuṁ yācanti, tāya avatthuyācanāya aparibhāsiyā bhavantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ghaṭikārapañho sattamo.
PTS cs 22 ‘Venerable Nāgasena, this too has been said by the Blessed One:
“Ghaṭīkāra the potter’s dwelling-place remained, the whole of it, for three months open to the sky, and no rain fell upon it.”
‘But on the other hand it is said:
“Rain fell on the hut of Kassapa the Tathāgata.”
‘How was it, venerable Nāgasena, that the hut of a Tathāgata, the roots of whose merits were so widely spread, got wet? One would think that a Tathāgata should have the power to prevent that. If, Nāgasena, Ghaṭīkāra the potter’s dwelling was kept dry when it was open to the sky, it cannot be true that a Tathāgata’s hut got wet. But if it did, then it must be false that the potter’s dwelling was kept dry. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 23 ‘Both the quotations you have made, O king, are correct. PTS vp Pali 224 Ghaṭīkāra the potter was a good man, beautiful in character, deeply rooted in merit, who supported his old and blind mother and father. And when he was absent, the people, without so much as asking his leave, took away the thatch from his dwelling to roof in with it the hut of the Tathāgata. Then, unmoved and unshaken at his thatch being thus removed, but filled rather PTS vp En 24 with a well-grounded and great joy the like of which cannot be found, an immeasurable bliss sprang up in his heart at the thought: “May the Blessed One, the chief of the world, have full confidence in me.” And thereby did he obtain merit which brought forth its good result even in this present life.
PTS cs 24 ‘And the Tathāgata, O king, was not disturbed by that temporary inconvenience (of the falling rain). Just, O king, as Sineru, the king of the mountains, moves not, neither is shaken, by the onslaught of innumerable gales —just as the mighty ocean, the home of the great waters, is not filled up, neither is disturbed at all, by the inflow of innumerable great rivers—just so, O king, is a Tathāgata unmoved at temporary inconvenience.
‘And that the rain fell upon the Tathāgata’s hut happened out of consideration for the great masses of the people. For there are two circumstances, O king, which prevent the Tathāgatas from themselves supplying (by creative power) any requisite of which they may be in need. And what are the two? Men and gods, by supplying the requisites of a Buddha on the ground that he is a teacher worthy of gifts, will thereby be set free from rebirth in states of woe. And lest others should find fault, saying: “They seek their livelihood by the working of miracles.” If, O king, Sakka had kept that hut dry, or even Brahmā himself, even then that action would have been faulty, wrong, and worthy of censure.
For people might then say: “These Buddhas by PTS vp En 25 Their dexterity befool and lord it over the world.” That is the reason why such action would have been better left undone. The Tathāgatas, O king, do not ask for any advantage; and it is because they ask for nothing that they are held blameless.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept as you say.’
Here ends the dilemma about Ghaṭīkāra the potter.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Thưa ngài Nāgasena, tại sao cốc liêu của đức Như Lai Kassapa, bậc có thiện căn đầy đủ như thế, lại bị mưa dột? Oai lực ấy của đức Như Lai là điều đáng được ao ước. Thưa ngài Nāgasena, nếu căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột’ là sai trái. Nếu cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Tâu đại vương, người thợ gốm Ghaṭīkāra là người có giới hạnh, có thiện pháp, có thiện căn đầy đủ, đang nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa già yếu. (Các tỳ khưu) không có mặt của vị ấy, còn chưa có hỏi ý, đã lấy đi cỏ (lợp mái) ở nhà của vị ấy rồi che mái cho cốc liêu của đức Thế Tôn. Vị ấy, với việc lấy đi cỏ (lợp mái) ấy, đã đạt được niềm vui không bị lay chuyển, không bị dao động, khéo được ổn định, bao la, không thể sánh bằng, và còn làm sanh lên tâm hoan hỷ không thể ước lượng hơn thế nữa: ‘Ôi, quả nhiên đức Thế Tôn, bậc tối thượng ở thế gian, đã vô cùng tin tưởng ở ta!’ Do việc ấy, quả thành tựu hiện tiền đã sanh lên cho vị ấy. Tâu đại vương, bởi vì đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, giống như núi chúa Sineru cũng không rúng động không dao động bởi sự dồn dập của hàng trăm ngàn cơn gió; đại dương, biển cả cao quý và ưu tú, cũng không tràn đầy, không đi đến sự xáo trộn vì hàng trăm vạn trăm ngàn con sông lớn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, hơn nữa về việc cốc liêu của đức Như Lai bị mưa dột, việc ấy là vì lòng thương tưởng đối với số đông nhân loại. Tâu đại vương, trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra: -Chư Thiên và nhân loại (nghĩ rằng): ‘Bậc Đạo Sư này là bậc đáng cúng dường hạng nhất’ sẽ dâng cúng vật thiết yếu đến đức Thế Tôn và sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi mọi cảnh giới khổ đau -Chớ để những kẻ khác trách móc rằng: ‘Những vị này phô diễn điều kỳ diệu và tầm cầu sinh kế.’ Trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra.
Tâu đại vương, nếu (Chúa Trời) Sakka hoặc đấng Brahmā, hoặc tự thân (đức Thế Tôn) làm cho cốc liêu ấy hết mưa dột thì có thể có điều đáng nói; chính việc làm ấy là có sự sai trái, có sự khiển trách rằng: ‘Những người này gây ra chuyện rồi mê hoặc thế gian, làm việc có tính chất dư thừa.’ Do đó, việc làm ấy là đáng bị chê trách. Tâu đại vương, các đức Như Lai không cầu xin vật chất. Do việc không cầu xin vật chất ấy, các Ngài không đáng bị quở trách.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Ghaṭīkāra là thứ bảy.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ sabbaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘kassapassa tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti.
Kissa pana, bhante nāgasena, tathāgatassa evamussannakusalamūlassa kuṭi ovassati, tathāgatassa nāma so ānubhāvo icchitabbo?
Yadi, bhante nāgasena, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ anovassaṁ ākāsacchadanaṁ ahosi, tena hi ‘tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi tathāgatassa kuṭi ovassati, tena hi ‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ anovassakaṁ ahosi ākāsacchadanan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ sabbaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti.
Bhaṇitañca—
‘kassapassa tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti.
Ghaṭikāro, mahārāja, kumbhakāro sīlavā kalyāṇadhammo ussannakusalamūlo andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti, tassa asammukhā anāpucchāyevassa ghare tiṇaṁ haritvā bhagavato kuṭiṁ chādesuṁ, so tena tiṇaharaṇena akampitaṁ asañcalitaṁ susaṇṭhitaṁ vipulamasamaṁ pītiṁ paṭilabhati, bhiyyo somanassañca atulaṁ uppādesi ‘aho vata me bhagavā lokuttamo suvissattho’ti, tena tassa diṭṭhadhammiko vipāko nibbatto.
Na hi, mahārāja, tathāgato tāvatakena vikārena calati.
Yathā, mahārāja, sineru girirājā anekasatasahassavātasampahārenapi na kampati na calati, mahodadhi varappavarasāgaro anekasatanahutamahāgaṅgāsatasahassehipi na pūrati na vikāramāpajjati;
evameva kho, mahārāja, tathāgato na tāvatakena vikārena calati.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgatassa kuṭi ovassati, taṁ mahato janakāyassa anukampāya.
Dveme, mahārāja, atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṁ nimmitaṁ paccayaṁ nappaṭisevanti, ‘ayaṁ aggadakkhiṇeyyo satthā’ti bhagavato paccayaṁ datvā devamanussā sabbaduggatito parimuccissantīti, pāṭihīraṁ dassetvā vuttiṁ pariyesantīti ‘mā aññe upavadeyyun’ti.
Ime dve atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṁ nimmitaṁ paccayaṁ nappaṭisevanti.
Yadi, mahārāja, sakko vā taṁ kuṭiṁ anovassaṁ kareyya brahmā vā sayaṁ vā, sāvajjaṁ bhaveyya taṁyeva karaṇaṁ sadosaṁ saniggahaṁ, ime vibhūtaṁ katvā lokaṁ sammohenti adhikataṁ karontīti, tasmā taṁ karaṇaṁ vajjanīyaṁ.
Na, mahārāja, tathāgatā vatthuṁ yācanti, tāya avatthuyācanāya aparibhāsiyā bhavantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Ghaṭikārapañho sattamo.