BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta:‘Trong khi siết chặt (nghĩ rằng): Ta có thể hủy diệt gã này,’ con voi đã nhìn thấy tấm y ca-sa, biểu tượng của các vị ẩn sĩ. Con thú bị hành hạ đau khổ đã có ý tưởng sanh khởi rằng: Biểu tượng của các vị A-la-hán là cao quý, là hình bóng không thể bị hủy diệt.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Bồ Tát trong khi là loài thú đã tôn kính tấm y ca-sa, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi, như thế thì lời nói rằng: ‘Y ca-sa đã được tôn kính bởi voi chúa Chaddanta’ cũng là sai trái. Nếu đức Bồ Tát, lúc là loài thú, dẫu đang chịu đựng cảm thọ thô thiển, nhức nhối, đau đớn, cũng đã tôn kính tấm y ca-sa được kẻ thợ săn khoác lên, tại sao trong khi là loài người, có trí tuệ đã chín muồi, có sự hiểu biết đã chín muồi, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đấng Thập Lực, vị Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa, vô cùng nổi bật, có hào quang một sải tay rực sáng, bậc cao quý tối thượng đang khoác lên tấm y ca-sa vải xứ Kāsī cao quý và ưng ý thì đã không tôn kính? Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Và đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi. Tuy nhiên, điều đó là do tác động của dòng dõi, do tác động của gia tộc. Tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín. Cha mẹ, anh chị em, và những người tôi trai, tớ gái, kẻ hầu, và tùy tùng của anh ta là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā. Họ (nghĩ rằng): ‘Chỉ có các vị Bà-la-môn là tối thượng, cao quý’ rồi chê trách, nhờm gớm các vị xuất gia còn lại. Thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã nghe điều ấy từ những người ấy, nên khi được người thợ làm đồ gốm Ghaṭīkāra mời mọc về việc diện kiến đấng Đạo Sư đã nói như vầy: ‘Cái gì với việc diện kiến vị Sa-môn nhỏ nhoi trọc đầu của ngươi?’
Tâu đại vương, giống như thuốc trường sanh sau khi đặt gần thuốc độc thì trở nên đắng. Và giống như nước mát sau khi để gần ngọn lửa thì trở nên nóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai.
Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã được đốt lên phát cháy, có ánh sáng, sau khi gặp nước thì trở nên có màu đen, mát lạnh, ánh sáng và sức nóng bị mất đi, tợ như trái cây nigguṇḍi đã được chín muồi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla có phước đức, có đức tin, có sự sáng láng bao la của trí tuệ, sau khi đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai, và sau khi đi đến gần và đã biết được ân đức của Phật thì đã trở thành như là người hầu, và sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đã làm sanh khởi các thắng trí và các thiền chứng, rồi đã đi đến cõi Phạm Thiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā chaddanto nāgarājā—
‘Vadhissametanti parāmasanto,
Kāsāvamaddakkhi dhajaṁ isīnaṁ;
Dukkhena phuṭṭhassudapādi saññā,
Arahaddhajo sabbhi avajjharūpo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘jotipālamāṇavo samāno kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosi paribhāsī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bodhisatto tiracchānagato samāno kāsāvaṁ abhipūjayi, tena hi ‘jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tena hi ‘chaddantena nāgarājena kāsāvaṁ pūjitan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Yadi tiracchānagatena bodhisattena kakkhaḷakharakaṭukavedanaṁ vedayamānena luddakena nivatthaṁ kāsāvaṁ pūjitaṁ, kiṁ manussabhūto samāno paripakkañāṇo paripakkāya bodhiyā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dasabalaṁ lokanāyakaṁ uditoditaṁ jalitabyāmobhāsaṁ pavaruttamaṁ pavararucirakāsikakāsāvamabhipārutaṁ disvā na pūjayi?
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabboti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā chaddanto nāgarājā ‘vadhissametanti …pe…
avajjharūpo’ti.
Jotipālena ca māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tañca pana jātivasena kulavasena.
Jotipālo, mahārāja, māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, tassa mātāpitaro bhaginibhātaro dāsidāsaceṭakaparivārakamanussā brahmadevatā brahmagarukā, te ‘brāhmaṇā eva uttamā pavarā’ti avasese pabbajite garahanti jigucchanti, tesaṁ taṁ vacanaṁ sutvā jotipālo māṇavo ghaṭikārena kumbhakārena satthāraṁ dassanāya pakkosito evamāha—
‘kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti.
Yathā, mahārāja, amataṁ visamāsajja tittakaṁ hoti, yathā ca sītodakaṁ aggimāsajja uṇhaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā tathāgataṁ akkosi paribhāsi.
Yathā, mahārāja, jalitapajjalito mahāaggikkhandho sappabhāso udakamāsajja upahatappabhātejo sītalo kāḷako bhavati paripakkanigguṇḍiphalasadiso;
evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo puññavā saddho ñāṇavipulasappabhāso assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā tathāgataṁ akkosi paribhāsi, upagantvā ca buddhaguṇamaññāya ceṭakabhūto viya ahosi, jinasāsane pabbajitvā abhiññā ca samāpattiyo ca nibbattetvā brahmalokūpago ahosī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Chaddantajotipālārabbhapañho chaṭṭho.
PTS cs 19 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One of Six-tusks, the elephant king,
“When he sought to slay him, and had reached him with his trunk,
He perceived the yellow robe, the badge of a recluse,
Then, though smarting with the pain, the thought possessed his heart—
’He who wears the outward garb the Arahats wear
Must be scatheless held, and sacred, by the good.’”
‘But on the other hand it is said:
“When he was jotipāla, the young Brahman, he reviled and abused Kassapa the Blessed One, the Arahat, the Buddha supreme, with vile and bitter words, calling him a shaveling and a good-for-nothing monk.”
‘Now if, Nāgasena, the Bodisat, even when he was an animal, respected the yellow robe, PTS vp Pali 222 Then the statement that as jotipāla, a Brahman, he reviled and abused the Blessed One of that time, must be false. But if as a Brahman, he reviled and abused the Blessed One, the statement that when he was Six-tusks, the elephant king, he respected the yellow robe, must be false. If when the Bodisat was an animal, though he was suffering severe and cruel and bitter pain, he respected the yellow robe PTS vp En 21 which the hunter had put on, how was it that when he was a man, a man arrived at discretion, with all his knowledge mature, he did not pay reverence, on seeing him, to Kassapa the Blessed One, the Arahat, the Buddha supreme, one endowed with the ten powers, the leader of the world, the highest of the high, round whom effulgence spread a fathom on every side, and who was clad in most excellent and precious and delicate Benares cloth made into yellow robes? This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 20 ‘The verse you have quoted, O king, was spoken by the Blessed One. And Kassapa the Blessed One, the Arahat, the Buddha supreme, was abused and reviled by Gotipāla the young Brahman with vile and bitter words, with the epithets of shaveling and good-for-nothing monk. But that was owing to his birth and family surroundings. For jotipāla, O king, was descended from a family of unbelievers, men void of faith. His mother and father, his sisters and brothers, the bondswomen and bondsmen, the hired servants and dependents in the house, were worshippers of Brahmā, reverers of Brahmā; and harbouring the idea that Brahmans were the highest and most honourable among men, they reviled and loathed those others who had renounced the world. It was through hearing what they said that jotipāla, when invited by Ghaṭīkāra the potter to visit the teacher, replied: “What’s the good to you of visiting that shaveling, that good-for-nothing monk?”
PTS vp Pali 223 PTS cs 21 ‘Just, O king, as even nectar when mixed with poison will turn sour, just as the coolest water in contact with fire will become warm, so was PTS vp En 22 it that jotipāla, the young Brahman, having been born and brought up in a family of unbelievers, men void of faith, thus reviled and abused the Tathāgata after the manner of his kind. And just, O king, as a flaming and burning mighty fire, if, even when at the height of its glory, it should come into contact with water, would cool down, with its splendour and glory spoilt, and turn to cinders, black as rotten blighted fruits-just so, O king, jotipāla, full as he was of merit and faith, mighty as was the glory of his knowledge, yet when reborn into a family of unbelievers, of men void of faith, he became, as it were, blind, and reviled and abused the Tathāgata. But when he had gone to him, and had come to know the virtues of the Buddhas which he had, then did he become as his hired servant; and having renounced the world and entered the Order under the system of the Conqueror, he gained the fivefold power of insight, and the eightfold power of ecstatic meditation, and became assured of rebirth into the Brahmā heaven.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma about Gotipāla. PTS vp En 23
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta:‘Trong khi siết chặt (nghĩ rằng): Ta có thể hủy diệt gã này,’ con voi đã nhìn thấy tấm y ca-sa, biểu tượng của các vị ẩn sĩ. Con thú bị hành hạ đau khổ đã có ý tưởng sanh khởi rằng: Biểu tượng của các vị A-la-hán là cao quý, là hình bóng không thể bị hủy diệt.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Bồ Tát trong khi là loài thú đã tôn kính tấm y ca-sa, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi, như thế thì lời nói rằng: ‘Y ca-sa đã được tôn kính bởi voi chúa Chaddanta’ cũng là sai trái. Nếu đức Bồ Tát, lúc là loài thú, dẫu đang chịu đựng cảm thọ thô thiển, nhức nhối, đau đớn, cũng đã tôn kính tấm y ca-sa được kẻ thợ săn khoác lên, tại sao trong khi là loài người, có trí tuệ đã chín muồi, có sự hiểu biết đã chín muồi, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đấng Thập Lực, vị Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa, vô cùng nổi bật, có hào quang một sải tay rực sáng, bậc cao quý tối thượng đang khoác lên tấm y ca-sa vải xứ Kāsī cao quý và ưng ý thì đã không tôn kính? Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Và đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi. Tuy nhiên, điều đó là do tác động của dòng dõi, do tác động của gia tộc. Tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín. Cha mẹ, anh chị em, và những người tôi trai, tớ gái, kẻ hầu, và tùy tùng của anh ta là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā. Họ (nghĩ rằng): ‘Chỉ có các vị Bà-la-môn là tối thượng, cao quý’ rồi chê trách, nhờm gớm các vị xuất gia còn lại. Thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã nghe điều ấy từ những người ấy, nên khi được người thợ làm đồ gốm Ghaṭīkāra mời mọc về việc diện kiến đấng Đạo Sư đã nói như vầy: ‘Cái gì với việc diện kiến vị Sa-môn nhỏ nhoi trọc đầu của ngươi?’
Tâu đại vương, giống như thuốc trường sanh sau khi đặt gần thuốc độc thì trở nên đắng. Và giống như nước mát sau khi để gần ngọn lửa thì trở nên nóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai.
Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã được đốt lên phát cháy, có ánh sáng, sau khi gặp nước thì trở nên có màu đen, mát lạnh, ánh sáng và sức nóng bị mất đi, tợ như trái cây nigguṇḍi đã được chín muồi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla có phước đức, có đức tin, có sự sáng láng bao la của trí tuệ, sau khi đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai, và sau khi đi đến gần và đã biết được ân đức của Phật thì đã trở thành như là người hầu, và sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đã làm sanh khởi các thắng trí và các thiền chứng, rồi đã đi đến cõi Phạm Thiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā chaddanto nāgarājā—
‘Vadhissametanti parāmasanto,
Kāsāvamaddakkhi dhajaṁ isīnaṁ;
Dukkhena phuṭṭhassudapādi saññā,
Arahaddhajo sabbhi avajjharūpo’ti.
Puna ca bhaṇitaṁ—
‘jotipālamāṇavo samāno kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosi paribhāsī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bodhisatto tiracchānagato samāno kāsāvaṁ abhipūjayi, tena hi ‘jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tena hi ‘chaddantena nāgarājena kāsāvaṁ pūjitan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Yadi tiracchānagatena bodhisattena kakkhaḷakharakaṭukavedanaṁ vedayamānena luddakena nivatthaṁ kāsāvaṁ pūjitaṁ, kiṁ manussabhūto samāno paripakkañāṇo paripakkāya bodhiyā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dasabalaṁ lokanāyakaṁ uditoditaṁ jalitabyāmobhāsaṁ pavaruttamaṁ pavararucirakāsikakāsāvamabhipārutaṁ disvā na pūjayi?
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabboti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā chaddanto nāgarājā ‘vadhissametanti …pe…
avajjharūpo’ti.
Jotipālena ca māṇavena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tañca pana jātivasena kulavasena.
Jotipālo, mahārāja, māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, tassa mātāpitaro bhaginibhātaro dāsidāsaceṭakaparivārakamanussā brahmadevatā brahmagarukā, te ‘brāhmaṇā eva uttamā pavarā’ti avasese pabbajite garahanti jigucchanti, tesaṁ taṁ vacanaṁ sutvā jotipālo māṇavo ghaṭikārena kumbhakārena satthāraṁ dassanāya pakkosito evamāha—
‘kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti.
Yathā, mahārāja, amataṁ visamāsajja tittakaṁ hoti, yathā ca sītodakaṁ aggimāsajja uṇhaṁ hoti;
evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā tathāgataṁ akkosi paribhāsi.
Yathā, mahārāja, jalitapajjalito mahāaggikkhandho sappabhāso udakamāsajja upahatappabhātejo sītalo kāḷako bhavati paripakkanigguṇḍiphalasadiso;
evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo puññavā saddho ñāṇavipulasappabhāso assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā tathāgataṁ akkosi paribhāsi, upagantvā ca buddhaguṇamaññāya ceṭakabhūto viya ahosi, jinasāsane pabbajitvā abhiññā ca samāpattiyo ca nibbattetvā brahmalokūpago ahosī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Chaddantajotipālārabbhapañho chaṭṭho.