DO VIỆC NGÂM NGA CÁC BÀI KỆ
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng Giáo Pháp có phương pháp, trong khi giảng giải theo thứ lớp, trước tiên hết giảng giải bài thuyết về bố thí, kế đến là bài thuyết về giới. Sau khi lắng nghe lời giảng giải của đức Thế Tôn ấy, vị chúa tể của tất cả các thế giới, chư Thiên và nhân loại chuẩn bị và dâng cúng vật thí. Vật thí ấy đã được gởi đến cho Ngài và các đệ tử thọ dụng.
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên’ là sai trái. Nếu Ngài giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên, như thế thì lời nói rằng: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng’ cũng là sai trái. Vì lý do gì? Thưa ngài, vị nào đó, là bậc xứng đáng cúng dường, giảng giải cho hàng tại gia bài thuyết về quả thành tựu của việc bố thí vật thực, sau khi lắng nghe bài giảng về Giáo Pháp của vị ấy, họ có tâm tịnh tín rồi liên tục dâng cúng vật thí. Các vị nào thọ dụng vật thí ấy, tất cả các vị ấy thọ dụng (vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, khôn khéo, thâm sâu, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên. Hơn nữa, điều ấy là việc làm của tất cả các đức Như Lai, trước hết bằng bài thuyết về bố thí, các Ngài làm cho tâm (người nghe) được thích thú vào việc ấy, sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới. Tâu đại vương, giống như đối với những đứa trẻ còn nhỏ, người ta trước tiên hết cho chúng những món đồ chơi, như là móc câu, gậy ngắn, cối xay, vật đong đo, xe kéo, cây cung, sau đó gắn bó chúng theo hành động của mỗi đứa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước tiên hết làm cho tâm (người nghe) được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc đối với những người bệnh, trước tiên hết cho uống dầu bốn năm ngày để tạo ra sức mạnh để làm cho mềm, sau đó cho thuốc xổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước hết làm cho tâm được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, tâm của những người bố thí, của những thí chủ là nhu thuận, dịu dàng, mềm mại. Nhờ cây cầu và đường đi của việc bố thí ấy, những người ấy tiến đến gần bờ bên kia của biển cả luân hồi nhờ vào con thuyền của sự bố thí. Do đó, đối với những người ấy trước hết Ngài chỉ dạy về nền tảng của nghiệp, nhưng không vì điều ấy mà phạm vào sự yêu cầu.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là ‘yêu cầu,’ vậy thì các sự yêu cầu ấy có bao nhiêu loại?”
BJT 4“Tâu đại vương, đây là hai sự yêu cầu: Yêu cầu bằng thân và yêu cầu bằng khẩu. Trong trường hợp ấy, có sự yêu cầu bằng thân là có tội, có sự yêu cầu bằng thân là không có tội; có sự yêu cầu bằng khẩu là có tội, có sự yêu cầu bằng khẩu là không có tội. Sự yêu cầu bằng thân nào là có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, rồi đứng lì tại chỗ; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, nhướng cổ, nhìn soi mói với cái nhìn của loài công (nghĩ rằng): ‘Như vậy thì những người này sẽ nhìn thấy.’ Và do việc ấy, những người ấy nhìn thấy; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó yêu cầu bằng quai hàm, hoặc bằng lông mày, hoặc bằng ngón cái; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Sự yêu cầu bằng thân nào là không có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, có niệm, được định tĩnh, có sự tỉnh giác, đi đến chỗ đứng cũng như ở nơi không phải chỗ đứng theo lời chỉ dạy, rồi đứng tại chỗ, ở những người có ý định bố thí thì đứng (chờ), ở những người không có ý định bố thí thì bước đi; đây là sự yêu cầu bằng thân không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng trong sạch.’
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Các bậc có trí tuệ không cầu xin, các bậc Thánh chê trách việc cầu xin. Các bậc Thánh đứng theo quy định, việc ấy là sự cầu xin của các bậc Thánh.’
BJT 5Sự yêu cầu bằng khẩu nào là có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu yêu cầu các vật dụng là y, vật thực, chỗ ngụ, và thuốc men chữa bệnh bằng lời nói theo nhiều cách; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó nói như vậy khiến cho những người khác nghe được: ‘Tôi có sự cần dùng với vật này.’ Và do lời nói ấy, do việc làm cho những người khác nghe được, lợi lộc phát sanh đến vị ấy; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó thông báo cho hội chúng với việc loan tin bằng khẩu rằng: ‘Nên dâng cúng vật như vầy và như vầy đến các vị tỳ khưu.’ Và do việc ấy, những người ấy nghe theo lời nói rồi mang lại vật đã được thông báo; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, quả là trưởng lão Sāriputta, trong lúc bị bệnh vào ban đêm khi mặt trời đã lặn, trong khi được trưởng lão Mahāmoggallāna hỏi về thuốc chữa bệnh, đã nói ra lời. Do việc nói ra lời ấy của vị ấy, thuốc chữa bệnh đã phát sanh. Rồi trưởng lão Sāriputta (nghĩ rằng): ‘Do việc nói ra lời của ta mà thuốc chữa bệnh này đã được phát sanh. Chớ để cho sự nuôi mạng của ta bị hư hỏng,’ do sự lo âu về việc làm hư hỏng sự nuôi mạng nên đã từ chối, đã không sử dụng thuốc chữa bệnh ấy. Sự yêu cầu bằng khẩu như vậy cũng có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
BJT 6Sự yêu cầu bằng khẩu nào là không có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu khi có duyên cớ rồi yêu cầu thuốc chữa bệnh ở các gia đình đã được thỉnh cầu và ở thân quyến; đây là sự yêu cầu bằng khẩu không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng được trong sạch,’ và được cho phép bởi các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, trái lại việc đức Như Lai đã từ chối bữa ăn của Bà-la-môn Kasībhāradvāja, bữa ăn ấy được phát sanh do việc gây rối, việc tháo gỡ, việc lôi kéo, việc phê bình, và việc công kích. Do đó, đức Như Lai đã khước từ, đã không sử dụng phần vật thực ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải chư Thiên luôn luôn rắc dưỡng chất của cõi trời vào bình bát trong lúc đức Như Lai đang thọ thực, hay là đã rắc vào ở hai món là ở món thịt lợn rừng và ở món cơm sữa ngọt mà thôi?”
“Tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng). Tâu đại vương, giống như trong lúc đức vua đang ăn, người đầu bếp của vua cầm lấy món xúp, đứng gần bên, rồi rưới xúp vào mỗi một nắm cơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng).
Tâu đại vương, thậm chí ở Verañjā trong lúc đức Như Lai đang thọ thực những hạt lúa mạch khô khan, chư Thiên cũng tuần tự tẩm ướt (chúng) với dưỡng chất của cõi trời rồi đem lại. Nhờ thế, cơ thể của đức Như Lai đã được bồi bổ.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là điều lợi ích đối với chư Thiên ấy, là các vị đã thường xuyên, liên tục thể hiện sự nỗ lực trong việc chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ là thứ chín.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā’ti.
Puna ca bhagavā parisāya dhammaṁ desento kathento anupubbikathaṁ paṭhamaṁ tāva dānakathaṁ katheti, pacchā sīlakathaṁ, tassa bhagavato sabbalokissarassa bhāsitaṁ sutvā devamanussā abhisaṅkharitvā dānaṁ denti, tassa taṁ uyyojitaṁ dānaṁ sāvakā paribhuñjanti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyan’ti, tena hi ‘bhagavā dānakathaṁ paṭhamaṁ kathetī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi dānakathaṁ paṭhamaṁ katheti, tena hi ‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Kiṅkāraṇaṁ?
Yo so, bhante, dakkhiṇeyyo gihīnaṁ piṇḍapātadānassa vipākaṁ katheti, tassa te dhammakathaṁ sutvā pasannacittā aparāparaṁ dānaṁ denti, ye taṁ dānaṁ paribhuñjanti, sabbe te gāthābhigītaṁ paribhuñjanti.
Ayampi ubhato koṭiko pañho nipuṇo gambhīro tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ, sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo.
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā, dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā’ti, katheti ca bhagavā paṭhamaṁ dānakathaṁ, tañca pana kiriyaṁ sabbesaṁ tathāgatānaṁ paṭhamaṁ dānakathāya, tattha cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojenti.
Yathā, mahārāja, manussā taruṇadārakānaṁ paṭhamaṁ tāva kīḷābhaṇḍakāni denti.
Seyyathidaṁ—
vaṅkakaṁ ghaṭikaṁ ciṅgulakaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ, pacchā te sake sake kamme niyojenti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṁ dānakathāya cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko nāma āturānaṁ paṭhamaṁ tāva catūhapañcāhaṁ telaṁ pāyeti balakaraṇāya sinehanāya, pacchā vireceti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṁ tāva dānakathāya cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti.
Dāyakānaṁ, mahārāja, dānapatīnaṁ cittaṁ mudukaṁ hoti maddavaṁ siniddhaṁ, tena te dānasetusaṅkamena dānanāvāya saṁsārasāgarapāramanugacchanti, tasmā tesaṁ paṭhamaṁ kammabhūmimanusāsati, na ca kenaci viññattimāpajjatī”ti.
“Bhante nāgasena, ‘viññattin’ti yaṁ vadesi, kati pana tā viññattiyo”ti?
“Dvemā, mahārāja, viññattiyo kāyaviññatti vacīviññatti cāti.
Tattha atthi kāyaviññatti sāvajjā, atthi anavajjā.
Atthi vacīviññatti sāvajjā, atthi anavajjā.
Katamā kāyaviññatti sāvajjā?
Idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito ṭhānaṁ bhañjati, ayaṁ kāyaviññatti sāvajjā.
Tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito galaṁ paṇāmetvā morapekkhitaṁ pekkhati ‘evaṁ ime passantī’ti, tena ca te passanti, ayampi kāyaviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu hanukāya vā bhamukāya vā aṅguṭṭhena vā viññāpeti, ayampi kāyaviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Katamā kāyaviññatti anavajjā?
Idha bhikkhu kulāni upagantvā sato samāhito sampajāno ṭhānepi aṭṭhānepi yathānusiṭṭhiṁ gantvā ṭhāne tiṭṭhati, dātukāmesu tiṭṭhati, adātukāmesu pakkamati.
Ayaṁ kāyaviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye vaṇṇito hoti thuto pasattho sallekhitācāro, parisuddhājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena—
‘Na ve yācanti sappaññā,
Dhīro ca veditumarahati;
Uddissa ariyā tiṭṭhanti,
Esā ariyāna yācanā’ti.
Katamā vacīviññatti sāvajjā?
Idha, mahārāja, bhikkhu vācāya bahuvidhaṁ viññāpeti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, ayaṁ vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu paresaṁ sāvento evaṁ bhaṇati ‘iminā me attho’ti, tāya ca vācāya paresaṁ sāvitāya tassa lābho uppajjati, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu vacīvipphārena parisāya sāveti ‘evañca evañca bhikkhūnaṁ dātabban’ti, tañca te vacanaṁ sutvā parikittitaṁ abhiharanti, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Nanu, mahārāja, theropi sāriputto atthaṅgate sūriye rattibhāge gilāno samāno therena mahāmoggallānena bhesajjaṁ pucchīyamāno vācaṁ bhindi, tassa tena vacībhedena bhesajjaṁ uppajji.
Atha thero sāriputto ‘vacībhedena me imaṁ bhesajjaṁ uppannaṁ, mā me ājīvo bhijjī’ti ājīvabhedabhayā taṁ bhesajjaṁ pajahi na upajīvi.
Evampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti.
So ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Katamā vacīviññatti anavajjā?
Idha, mahārāja, bhikkhu sati paccaye bhesajjaṁ viññāpeti ñātipavāritesu kulesu, ayaṁ vacīviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye vaṇṇito hoti thomito pasattho, parisuddhājīvotveva saṅkhaṁ gacchati, anumato tathāgatehi arahantehi sammāsambuddhehi.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgato kasibhāradvājassa brāhmaṇassa bhojanaṁ pajahi, taṁ āveṭhanaviniveṭhanakaḍḍhananiggahappaṭikammena nibbatti, tasmā tathāgato taṁ piṇḍapātaṁ paṭikkhipi na upajīvī”ti.
“Sabbakālaṁ, bhante nāgasena, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ patte ākiranti, udāhu ‘sūkaramaddave ca madhupāyāse cā’ti dvīsuyeva piṇḍapātesu ākiriṁsū”ti?
“Sabbakālaṁ, mahārāja, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope ākiranti.
Yathā, mahārāja, rañño sūdo rañño bhuñjantassa sūpaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā kabaḷe kabaḷe sūpaṁ ākirati;
evameva kho, mahārāja, sabbakālaṁ tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope dibbaṁ ojaṁ ākiranti.
Verañjāyampi, mahārāja, tathāgatassa sukkhayavapulake bhuñjamānassa devatā dibbena ojena temayitvā temayitvā upasaṁhariṁsu, tena tathāgatassa kāyo upacito ahosī”ti.
“Lābhā vata, bhante nāgasena, tāsaṁ devatānaṁ, yā tathāgatassa sarīrappaṭijaggane satataṁ samitaṁ ussukkamāpannā.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gāthābhigītabhojanakathāpañho navamo.
PTS vp En 31 PTS vp Pali 228 PTS cs 28 ‘Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One:
“Gifts chaunted for in sacred hymns
Are gifts I must not take.
All those who see into the Truth
Do this their practice make.
The Buddhas all refused to chaunt for wage;
This was their conduct still
Whene’er the Truth prevailed
Through every age.”
‘But on the other hand the Blessed One, when preaching the Truth, or talking of it, was in the habit of beginning with the so-called “preliminary discourse,” in which giving has the first place, and goodness only the second. So that when gods and men heard this discourse of the Blessed One, the lord of the whole world, they prepared and gave gifts, and the disciples partook of the alms thus brought about. Now if, Nāgasena, it be true what the Blessed One said, that he accepted no gifts earned by the chaunting of sacred words, then it was wrong that the Blessed One put giving thus PTS vp En 32 into the foreground. But if he did rightly in so emphasizing the giving of gifts, then it is not true that he accepted no gifts earned by the utterance of sacred words. And why so? Because if any one worthy of offerings should praise to the laity the good results to them of the bestowal of alms, they, hearing that discourse, and pleased with it, will proceed to give alms again and again. And then, whosoever enjoy that gift, they are really enjoying that which has been earned by the utterance of sacred words. This too is a double-edged problem, now put to you, which you have to solve.’
PTS cs 29 ‘The stanza you quote, O king, was spoken by the Blessed One. And yet he used to put the giving of alms into the forefront of his discourse. But this is the custom of all the Tathāgatas—first by discourse on almsgiving to make the hearts of hearers inclined towards it, and then afterwards to urge them to righteousness. This is as when men, O king, give first of all to young children things to play with—PTS vp Pali 229 such as toy ploughs, tip-cat sticks, toy wind-mills, measures made of leaves, toy carts, PTS vp En 33 and bows and arrows—and afterwards appoint to each his separate task. Or it is as when a physician first causes his patients to drink oil for four or five days in order to strengthen them, and to soften their bodies; and then afterwards administers a purge. The supporters of the faith, O king, the lordly givers, have their hearts thus softened, made tender, affected. Thereby do they cross over to the further shore of the ocean of transmigration by the aid of the boat of their gifts, by the support of the causeway of their gifts. And (the Buddha), by this (method in his teaching), is not guilty of “intimation.”’
PTS cs 30 ‘Venerable Nāgasena, when you say “intimation” what are these intimations?’
‘There are two sorts, O king, of intimation—bodily and verbal. And there is one bodily intimation which is wrong, and one that is not; and there is one verbal intimation which is wrong, and one that is not. Which is the bodily intimation which is wrong? Suppose any member of the Order, in going his rounds for alms, should, when choosing a spot to stand on, stand where there is no room, that is a bodily intimation which is wrong. The true members of the Order will not accept any alms so asked for, and the individual who thus acts is despised, looked down upon, not respected, held blameworthy, disregarded, not well thought of, in the religion of the Noble Ones; he is reckoned as PTS vp En 34 one of those who have broken their (vows as to) means of livelihood. And again, O king, suppose any member of the Order, in going his round for alms, should stand where there is no room, and stretch out his neck like a peacock on the gaze, in the hope: “Thus will the folk see me"—that too is a bodily intimation which is wrong. True brethren will not accept an alms so asked for, and he who thus acts is regarded like the last. And again, O king, suppose any member of the Order should make a sign with his jaw, or with his eyebrow, or with his finger—PTS vp Pali 230 that too is a bodily intimation which is wrong. True brethren will not accept an alms so asked for, and he who thus acts is regarded the same way.
PTS cs 31 ‘And which is the bodily intimation which is not wrong? If a brother, on going his round for alms, be self-possessed, tranquil, conscious of his acts; if he stand, wherever he may go, in the kind of spot that is lawful; if he stand still where there are people desirous to give, and where they are not so desirous, if he pass on ;—that is a bodily intimation which is not wrong. Of an alms so stood for the true members of the Order will partake; and the individual who thus asks is, in the religion of the Noble Ones, praised, thought highly of, esteemed, and reckoned among those whose behaviour is without guile, whose mode of livelihood is pure. For thus has it been said by the Blessed One, the god over all gods:
“The truly wise beg not, for Arahats scorn to beg. PTS vp En 35
The good stand for their alms, thus only do they beg.”
PTS cs 32 ‘Which is the verbal intimation which is wrong? In case, O king, a brother intimate his wish for a number of things, requisites of a member of the Order—robes and bowls and bedding and medicine for the sick—that is a verbal intimation which is wrong. Things so asked for the true members of the Order (Ariyā) will not accept; and in the religion of the Noble Ones the individual who acts thus is despised, looked down upon, not respected, held blameworthy, disregarded, not well thought of—reckoned rather as one who has broken his (vows as to) means of livelihood. And again, O king, in case a brother should, in the hearing of others, speak thus: “I am in want of such and such a thing;” and in consequence of that saying being heard by the others he should then get that thing—that too is a verbal intimation which is wrong. True members of the Order will not use a thing so obtained, and he who acts thus is regarded like the last. And again, O king, in case a brother, dilating in his talk, give the people about him to understand: “Thus and thus should gifts be given to the Bhikkhus,” PTS vp En 36 and in case they, on hearing that saying, should bring forth from their store anything so referred to—that too is a verbal intimation which is wrong. True members of the Order will not use a thing so obtained, and he who acts thus is regarded like the last. PTS vp Pali 231 For when Sāriputta, the Elder, O king, being ill in the night-time, after the sun had set, and being questioned by Moggallāna, the Elder, as to what medicine would do him good, broke silence; and through that breach of silence obtained the medicine—did not Sāriputta then, saying to himself: “This medicine has come through breach of silence; let not my (adherence to the rules regarding) livelihood be broken,” reject that medicine, and use it not ? So that too is a verbal intimation which is wrong. True members of the Order will not use a thing so obtained, and he who acts thus is regarded like the last.
PTS cs 33 ‘And what is the verbal intimation which is right? Suppose a brother, O king, when there is necessity for it, should intimate among families either related to him, or which had invited him to spend the season of Was with him, that he is in want of medicines—this is a verbal intimation which is not wrong. True members of the Order will partake of things so asked for; and the individual who acts thus is, in the religion of the Noble Ones, praised, thought highly of, esteemed, reckoned among those whose mode of livelihood is pure, PTS vp En 37 approved of the Tathāgatas, the Arahats, the Supreme Buddhas. And the alms that the Tathāgata, O king, refused to accept of Kasī-Bhāradvāja, the Brahman, that was presented for the sake of testing him with an intricate puzzle which he would have to unwind, for the sake of pulling him away, of convicting him of error, of making him acknowledge himself in the wrong. Therefore was it that the Tathāgata refused that alms, and would not partake thereof.’
PTS cs 34 ‘Nāgasena, was it always, whenever the Tathāgata was eating, that the gods infused the Sap of Life from heaven into the contents of his bowl, or was it only into those two dishes—the tender boar’s flesh, and the rice porridge boiled in milk—that they infused it ?
‘Whenever he was eating, O king, and into each morsel of food as he picked it up—just as the royal cook takes the sauce and pours it over each morsel in the dish while the king is partaking of it. PTS vp Pali 232 And so at Verañjā, when the Tathāgata was eating the cakes made of dried barley, the gods moistened each one with the Sap of Life, as they placed it PTS vp En 38 near him. And thus was the body of the Tathāgata fully refreshed.’
‘Great indeed was the good fortune, Nāgasena, of those gods that they were ever and always so zealous in their care for the body of the Tathāgata! Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to the Buddha’s mode of livelihood.
DO VIỆC NGÂM NGA CÁC BÀI KỆ
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng Giáo Pháp có phương pháp, trong khi giảng giải theo thứ lớp, trước tiên hết giảng giải bài thuyết về bố thí, kế đến là bài thuyết về giới. Sau khi lắng nghe lời giảng giải của đức Thế Tôn ấy, vị chúa tể của tất cả các thế giới, chư Thiên và nhân loại chuẩn bị và dâng cúng vật thí. Vật thí ấy đã được gởi đến cho Ngài và các đệ tử thọ dụng.
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên’ là sai trái. Nếu Ngài giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên, như thế thì lời nói rằng: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng’ cũng là sai trái. Vì lý do gì? Thưa ngài, vị nào đó, là bậc xứng đáng cúng dường, giảng giải cho hàng tại gia bài thuyết về quả thành tựu của việc bố thí vật thực, sau khi lắng nghe bài giảng về Giáo Pháp của vị ấy, họ có tâm tịnh tín rồi liên tục dâng cúng vật thí. Các vị nào thọ dụng vật thí ấy, tất cả các vị ấy thọ dụng (vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, khôn khéo, thâm sâu, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên. Hơn nữa, điều ấy là việc làm của tất cả các đức Như Lai, trước hết bằng bài thuyết về bố thí, các Ngài làm cho tâm (người nghe) được thích thú vào việc ấy, sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới. Tâu đại vương, giống như đối với những đứa trẻ còn nhỏ, người ta trước tiên hết cho chúng những món đồ chơi, như là móc câu, gậy ngắn, cối xay, vật đong đo, xe kéo, cây cung, sau đó gắn bó chúng theo hành động của mỗi đứa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước tiên hết làm cho tâm (người nghe) được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc đối với những người bệnh, trước tiên hết cho uống dầu bốn năm ngày để tạo ra sức mạnh để làm cho mềm, sau đó cho thuốc xổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước hết làm cho tâm được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, tâm của những người bố thí, của những thí chủ là nhu thuận, dịu dàng, mềm mại. Nhờ cây cầu và đường đi của việc bố thí ấy, những người ấy tiến đến gần bờ bên kia của biển cả luân hồi nhờ vào con thuyền của sự bố thí. Do đó, đối với những người ấy trước hết Ngài chỉ dạy về nền tảng của nghiệp, nhưng không vì điều ấy mà phạm vào sự yêu cầu.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là ‘yêu cầu,’ vậy thì các sự yêu cầu ấy có bao nhiêu loại?”
BJT 4“Tâu đại vương, đây là hai sự yêu cầu: Yêu cầu bằng thân và yêu cầu bằng khẩu. Trong trường hợp ấy, có sự yêu cầu bằng thân là có tội, có sự yêu cầu bằng thân là không có tội; có sự yêu cầu bằng khẩu là có tội, có sự yêu cầu bằng khẩu là không có tội. Sự yêu cầu bằng thân nào là có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, rồi đứng lì tại chỗ; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, nhướng cổ, nhìn soi mói với cái nhìn của loài công (nghĩ rằng): ‘Như vậy thì những người này sẽ nhìn thấy.’ Và do việc ấy, những người ấy nhìn thấy; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó yêu cầu bằng quai hàm, hoặc bằng lông mày, hoặc bằng ngón cái; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Sự yêu cầu bằng thân nào là không có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, có niệm, được định tĩnh, có sự tỉnh giác, đi đến chỗ đứng cũng như ở nơi không phải chỗ đứng theo lời chỉ dạy, rồi đứng tại chỗ, ở những người có ý định bố thí thì đứng (chờ), ở những người không có ý định bố thí thì bước đi; đây là sự yêu cầu bằng thân không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng trong sạch.’
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Các bậc có trí tuệ không cầu xin, các bậc Thánh chê trách việc cầu xin. Các bậc Thánh đứng theo quy định, việc ấy là sự cầu xin của các bậc Thánh.’
BJT 5Sự yêu cầu bằng khẩu nào là có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu yêu cầu các vật dụng là y, vật thực, chỗ ngụ, và thuốc men chữa bệnh bằng lời nói theo nhiều cách; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó nói như vậy khiến cho những người khác nghe được: ‘Tôi có sự cần dùng với vật này.’ Và do lời nói ấy, do việc làm cho những người khác nghe được, lợi lộc phát sanh đến vị ấy; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó thông báo cho hội chúng với việc loan tin bằng khẩu rằng: ‘Nên dâng cúng vật như vầy và như vầy đến các vị tỳ khưu.’ Và do việc ấy, những người ấy nghe theo lời nói rồi mang lại vật đã được thông báo; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, quả là trưởng lão Sāriputta, trong lúc bị bệnh vào ban đêm khi mặt trời đã lặn, trong khi được trưởng lão Mahāmoggallāna hỏi về thuốc chữa bệnh, đã nói ra lời. Do việc nói ra lời ấy của vị ấy, thuốc chữa bệnh đã phát sanh. Rồi trưởng lão Sāriputta (nghĩ rằng): ‘Do việc nói ra lời của ta mà thuốc chữa bệnh này đã được phát sanh. Chớ để cho sự nuôi mạng của ta bị hư hỏng,’ do sự lo âu về việc làm hư hỏng sự nuôi mạng nên đã từ chối, đã không sử dụng thuốc chữa bệnh ấy. Sự yêu cầu bằng khẩu như vậy cũng có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
BJT 6Sự yêu cầu bằng khẩu nào là không có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu khi có duyên cớ rồi yêu cầu thuốc chữa bệnh ở các gia đình đã được thỉnh cầu và ở thân quyến; đây là sự yêu cầu bằng khẩu không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng được trong sạch,’ và được cho phép bởi các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, trái lại việc đức Như Lai đã từ chối bữa ăn của Bà-la-môn Kasībhāradvāja, bữa ăn ấy được phát sanh do việc gây rối, việc tháo gỡ, việc lôi kéo, việc phê bình, và việc công kích. Do đó, đức Như Lai đã khước từ, đã không sử dụng phần vật thực ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải chư Thiên luôn luôn rắc dưỡng chất của cõi trời vào bình bát trong lúc đức Như Lai đang thọ thực, hay là đã rắc vào ở hai món là ở món thịt lợn rừng và ở món cơm sữa ngọt mà thôi?”
“Tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng). Tâu đại vương, giống như trong lúc đức vua đang ăn, người đầu bếp của vua cầm lấy món xúp, đứng gần bên, rồi rưới xúp vào mỗi một nắm cơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng).
Tâu đại vương, thậm chí ở Verañjā trong lúc đức Như Lai đang thọ thực những hạt lúa mạch khô khan, chư Thiên cũng tuần tự tẩm ướt (chúng) với dưỡng chất của cõi trời rồi đem lại. Nhờ thế, cơ thể của đức Như Lai đã được bồi bổ.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là điều lợi ích đối với chư Thiên ấy, là các vị đã thường xuyên, liên tục thể hiện sự nỗ lực trong việc chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ là thứ chín.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā’ti.
Puna ca bhagavā parisāya dhammaṁ desento kathento anupubbikathaṁ paṭhamaṁ tāva dānakathaṁ katheti, pacchā sīlakathaṁ, tassa bhagavato sabbalokissarassa bhāsitaṁ sutvā devamanussā abhisaṅkharitvā dānaṁ denti, tassa taṁ uyyojitaṁ dānaṁ sāvakā paribhuñjanti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyan’ti, tena hi ‘bhagavā dānakathaṁ paṭhamaṁ kathetī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi dānakathaṁ paṭhamaṁ katheti, tena hi ‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Kiṅkāraṇaṁ?
Yo so, bhante, dakkhiṇeyyo gihīnaṁ piṇḍapātadānassa vipākaṁ katheti, tassa te dhammakathaṁ sutvā pasannacittā aparāparaṁ dānaṁ denti, ye taṁ dānaṁ paribhuñjanti, sabbe te gāthābhigītaṁ paribhuñjanti.
Ayampi ubhato koṭiko pañho nipuṇo gambhīro tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ, sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo.
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā, dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā’ti, katheti ca bhagavā paṭhamaṁ dānakathaṁ, tañca pana kiriyaṁ sabbesaṁ tathāgatānaṁ paṭhamaṁ dānakathāya, tattha cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojenti.
Yathā, mahārāja, manussā taruṇadārakānaṁ paṭhamaṁ tāva kīḷābhaṇḍakāni denti.
Seyyathidaṁ—
vaṅkakaṁ ghaṭikaṁ ciṅgulakaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ, pacchā te sake sake kamme niyojenti.
Evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṁ dānakathāya cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti.
Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko nāma āturānaṁ paṭhamaṁ tāva catūhapañcāhaṁ telaṁ pāyeti balakaraṇāya sinehanāya, pacchā vireceti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṁ tāva dānakathāya cittaṁ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti.
Dāyakānaṁ, mahārāja, dānapatīnaṁ cittaṁ mudukaṁ hoti maddavaṁ siniddhaṁ, tena te dānasetusaṅkamena dānanāvāya saṁsārasāgarapāramanugacchanti, tasmā tesaṁ paṭhamaṁ kammabhūmimanusāsati, na ca kenaci viññattimāpajjatī”ti.
“Bhante nāgasena, ‘viññattin’ti yaṁ vadesi, kati pana tā viññattiyo”ti?
“Dvemā, mahārāja, viññattiyo kāyaviññatti vacīviññatti cāti.
Tattha atthi kāyaviññatti sāvajjā, atthi anavajjā.
Atthi vacīviññatti sāvajjā, atthi anavajjā.
Katamā kāyaviññatti sāvajjā?
Idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito ṭhānaṁ bhañjati, ayaṁ kāyaviññatti sāvajjā.
Tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito galaṁ paṇāmetvā morapekkhitaṁ pekkhati ‘evaṁ ime passantī’ti, tena ca te passanti, ayampi kāyaviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu hanukāya vā bhamukāya vā aṅguṭṭhena vā viññāpeti, ayampi kāyaviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Katamā kāyaviññatti anavajjā?
Idha bhikkhu kulāni upagantvā sato samāhito sampajāno ṭhānepi aṭṭhānepi yathānusiṭṭhiṁ gantvā ṭhāne tiṭṭhati, dātukāmesu tiṭṭhati, adātukāmesu pakkamati.
Ayaṁ kāyaviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye vaṇṇito hoti thuto pasattho sallekhitācāro, parisuddhājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena—
‘Na ve yācanti sappaññā,
Dhīro ca veditumarahati;
Uddissa ariyā tiṭṭhanti,
Esā ariyāna yācanā’ti.
Katamā vacīviññatti sāvajjā?
Idha, mahārāja, bhikkhu vācāya bahuvidhaṁ viññāpeti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ, ayaṁ vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu paresaṁ sāvento evaṁ bhaṇati ‘iminā me attho’ti, tāya ca vācāya paresaṁ sāvitāya tassa lābho uppajjati, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Puna caparaṁ, mahārāja, idhekacco bhikkhu vacīvipphārena parisāya sāveti ‘evañca evañca bhikkhūnaṁ dātabban’ti, tañca te vacanaṁ sutvā parikittitaṁ abhiharanti, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Nanu, mahārāja, theropi sāriputto atthaṅgate sūriye rattibhāge gilāno samāno therena mahāmoggallānena bhesajjaṁ pucchīyamāno vācaṁ bhindi, tassa tena vacībhedena bhesajjaṁ uppajji.
Atha thero sāriputto ‘vacībhedena me imaṁ bhesajjaṁ uppannaṁ, mā me ājīvo bhijjī’ti ājīvabhedabhayā taṁ bhesajjaṁ pajahi na upajīvi.
Evampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā na paribhuñjanti.
So ca puggalo ariyānaṁ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṁ gacchati.
Katamā vacīviññatti anavajjā?
Idha, mahārāja, bhikkhu sati paccaye bhesajjaṁ viññāpeti ñātipavāritesu kulesu, ayaṁ vacīviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṁ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṁ samaye vaṇṇito hoti thomito pasattho, parisuddhājīvotveva saṅkhaṁ gacchati, anumato tathāgatehi arahantehi sammāsambuddhehi.
Yaṁ pana, mahārāja, tathāgato kasibhāradvājassa brāhmaṇassa bhojanaṁ pajahi, taṁ āveṭhanaviniveṭhanakaḍḍhananiggahappaṭikammena nibbatti, tasmā tathāgato taṁ piṇḍapātaṁ paṭikkhipi na upajīvī”ti.
“Sabbakālaṁ, bhante nāgasena, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ patte ākiranti, udāhu ‘sūkaramaddave ca madhupāyāse cā’ti dvīsuyeva piṇḍapātesu ākiriṁsū”ti?
“Sabbakālaṁ, mahārāja, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope ākiranti.
Yathā, mahārāja, rañño sūdo rañño bhuñjantassa sūpaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā kabaḷe kabaḷe sūpaṁ ākirati;
evameva kho, mahārāja, sabbakālaṁ tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṁ ojaṁ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope dibbaṁ ojaṁ ākiranti.
Verañjāyampi, mahārāja, tathāgatassa sukkhayavapulake bhuñjamānassa devatā dibbena ojena temayitvā temayitvā upasaṁhariṁsu, tena tathāgatassa kāyo upacito ahosī”ti.
“Lābhā vata, bhante nāgasena, tāsaṁ devatānaṁ, yā tathāgatassa sarīrappaṭijaggane satataṁ samitaṁ ussukkamāpannā.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Gāthābhigītabhojanakathāpañho navamo.