Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như Ta ngày nay biết rõ căn nguyên chỗ đến của chúng sanh, cũng biết quả báo của việc bố thí một nắm cơm dư cuối cùng, mình đã không ăn mà đem bố thí cho người khác. Lúc ấy, tuy không khởi tâm ghen ghét dù bằng lông tóc, nhưng vì chúng sanh này không biết quả báo của việc bố thí. Còn như Ta thì biết rõ điều đó. Quả báo của bố thí, báo bình đẳng, tâm không đổi khác. Cho nên, chúng sanh vì không thể bố thí bình đẳng mà tự thân đọa lạc, hằng bị tâm keo kiệt, ganh tị trói buộc tâm ý.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chúng sanh không tự giác,
Lời dạy của Như Lai:
Thường nên bố thí khắp,
Chuyên hướng chỗ chơn nhân,
Chí tánh đã thanh tịnh,
Được phước nhiều gấp bội;
Cùng cộng phần phước đó,
Sau được quả báo lớn.
Nay lành thay bố thí,
Tâm hướng ruộng phước rộng;
Chết ở cõi người này,
Ắt sinh lên trên trời.
Cho đến xứ lành kia,
Khoái lạc tự vui sướng;
Cát tường rất hoan vui,
Tất cả không thiếu thốn.
Do nghiệp trời oai đức,
Ngọc nữ theo chung quanh;
Báo bố thí bình đẳng,
Nên được phước đức này.
Các Tỳ-kheo Sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
聞如是:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨 T 0565b05園。
爾時,世尊告諸比丘:「如我今日審知眾 T 0565b06生根原所趣,亦知布施之報。最後一 摶 之 T 0565b07餘,已不自食,惠施他人,爾時不起憎嫉之 T 0565b08心如毛髮許。以此眾生不知施之果報,如 T 0565b09我皆悉知之。施之果報,平等之報,心無有 T 0565b10異。是故,眾生不能平等施而自墮落,恒有 T 0565b11慳嫉之心,纏裹心意。」
爾時,世尊便說偈曰:
T 0565b12
「眾生不自覺, 如來之言教; T 0565b13
常當普惠施, 專向真人所。 T 0565b14
志性以清淨, 所獲福倍多; T 0565b15
等共分其福, 後得大果報。 T 0565b16
所施今善哉, 心向廣福田; T 0565b17
於此人間逝, 必生於天上。 T 0565b18
以到彼善處, 快樂自娛樂; T 0565b19
吉祥甚歡悅, 一切無乏短。 T 0565b20
以天威德業, 玉女為營從; T 0565b21
平等之施報, 故獲此福祐。」
T 0565b22爾時,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0565b23 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “Just as I know now the source of the destinies of sentient beings, I also know the rewards of generosity. Even the last lump of food that one doesn’t eat themselves should be given to someone else. Then, they won’t allow themselves to have even a hair’s breadth of stinginess. These sentient beings don’t know the rewards of generosity like I know them in their entirety. They are no different than the rewards of an equitable heart. Therefore, sentient beings who aren’t capable of equitable generosity bring their own downfalls. Their minds are constantly wrapped in stingy thoughts.”
SC 3The Bhagavān then spoke in verse:
“Sentient beings don’t realize it themselves,
But this is what the Tathāgata teaches:
One should always be generous to all
And focus on becoming a true man.
When their inclinations are purified,
The merits gained are multiplied many times.
Sharing equal parts of their merit,
They later obtain a great reward.
What they give in the present is good!
Their hearts head for a broad field of merit.
They depart from among humans,
Sure to be born up in Heaven.
By reaching that good place,
They’ll enjoy their own happiness.
They’ll rejoice over their good fortune,
And won’t be in want of anything.
With heavenly authority and deeds,
Beautiful women will be their followers.
The rewards of equitable giving,
Therefore, obtain these fortunes.”
SC 4When the monks heard what the Buddha taught, they rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như Ta ngày nay biết rõ căn nguyên chỗ đến của chúng sanh, cũng biết quả báo của việc bố thí một nắm cơm dư cuối cùng, mình đã không ăn mà đem bố thí cho người khác. Lúc ấy, tuy không khởi tâm ghen ghét dù bằng lông tóc, nhưng vì chúng sanh này không biết quả báo của việc bố thí. Còn như Ta thì biết rõ điều đó. Quả báo của bố thí, báo bình đẳng, tâm không đổi khác. Cho nên, chúng sanh vì không thể bố thí bình đẳng mà tự thân đọa lạc, hằng bị tâm keo kiệt, ganh tị trói buộc tâm ý.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chúng sanh không tự giác,
Lời dạy của Như Lai:
Thường nên bố thí khắp,
Chuyên hướng chỗ chơn nhân,
Chí tánh đã thanh tịnh,
Được phước nhiều gấp bội;
Cùng cộng phần phước đó,
Sau được quả báo lớn.
Nay lành thay bố thí,
Tâm hướng ruộng phước rộng;
Chết ở cõi người này,
Ắt sinh lên trên trời.
Cho đến xứ lành kia,
Khoái lạc tự vui sướng;
Cát tường rất hoan vui,
Tất cả không thiếu thốn.
Do nghiệp trời oai đức,
Ngọc nữ theo chung quanh;
Báo bố thí bình đẳng,
Nên được phước đức này.
Các Tỳ-kheo Sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “Just as I know now the source of the destinies of sentient beings, I also know the rewards of generosity. Even the last lump of food that one doesn’t eat themselves should be given to someone else. Then, they won’t allow themselves to have even a hair’s breadth of stinginess. These sentient beings don’t know the rewards of generosity like I know them in their entirety. They are no different than the rewards of an equitable heart. Therefore, sentient beings who aren’t capable of equitable generosity bring their own downfalls. Their minds are constantly wrapped in stingy thoughts.”
SC 3The Bhagavān then spoke in verse:
“Sentient beings don’t realize it themselves,
But this is what the Tathāgata teaches:
One should always be generous to all
And focus on becoming a true man.
When their inclinations are purified,
The merits gained are multiplied many times.
Sharing equal parts of their merit,
They later obtain a great reward.
What they give in the present is good!
Their hearts head for a broad field of merit.
They depart from among humans,
Sure to be born up in Heaven.
By reaching that good place,
They’ll enjoy their own happiness.
They’ll rejoice over their good fortune,
And won’t be in want of anything.
With heavenly authority and deeds,
Beautiful women will be their followers.
The rewards of equitable giving,
Therefore, obtain these fortunes.”
SC 4When the monks heard what the Buddha taught, they rejoiced and approved.