Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia chủ vừa mất một người con trai mà ông rất yêu mến, thương nhớ, chưa từng lìa xa. Ông thấy con chết, liền phát cuồng điên; đi lang thang qua lại khắp nơi. Gặp ai, ông cũng hỏi: “Có gặp con tôi không?”
Rồi thì, người kia đi lần đến tinh xá Kỳ-hoàn. Đi đến chỗ Thế Tôn, đứng qua một bên, người kia bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-môn Cù-đàm, thấy con tôi không?”
Thế Tôn hỏi gia chủ:
“Tại sao mặt mũi ông không vui, các căn thác loạn vậy?”
Gia chủ thưa rằng:
“Cù-đàm, không vậy sao được? Vì sao vậy? Hiện tại tôi chỉ có một đứa con trai, vì vô thường mà nó đã bỏ tôi. Tôi rất yêu mến, thương nhớ nó, chưa từng rời khỏi mắt. Vì thương mến đứa con kia nên khiến tôi phát cuồng. Nay tôi hỏi Sa-môn, thấy con tôi không?”
Thế Tôn bảo:
“Thật vậy, gia chủ, như những gì ông đã hỏi. Sinh, già, bệnh, chết là pháp thường của thế gian. Ân ái biệt ly là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ. Người con vì vô thường mà bỏ ông, há không nhớ nghĩ được sao?”
Lúc đó, người kia nghe những gì Thế Tôn nói mà không để vào lòng, liền bỏ đi. Trên đường gặp người, ông lại nói như vầy: “Sa-môn Cù-đàm nói rằng: ‘Ân ái mà phân ly là khổ. Thảy đều do ái lạc.’ Những gì mà Sa-môn đã nói, xét thật ra có đúng không?”
Người trên đường đáp:
“Ân ái biệt ly, có gì là khoái lạc?”
Lúc đó, cách thành Xá-vệ không xa, có nhiều người đang cùng nhau chơi bạc. Người kia tự nghĩ: “Những người đàn ông này, thông minh trí tuệ, không việc gì không biết. Bây giờ ta đem nghĩa này hỏi những người kia.” Nghĩ xong ông liền đến chỗ chơi cờ bạc, hỏi mọi người rằng:
“Sa-môn Cù-đàm nói với tôi rằng: ‘Ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Thảy đèu do ái lạc. Nay theo ý mọi người thì thế nào?”
Lúc đó những người chơi bạc đáp người này rằng:
“Ân ái biệt ly khổ sao lại do ái lạc? Nói do ái lạc, nghĩa này không đúng.”
Lúc đó, người kia liền tự nghĩ: “Xét lời Như Lai thì không bao giờ hư vọng. Ân ái mà biệt ly sẽ có khoái lạc chăng? Nghĩa này không đúng.”
Rồi người kia vào thành Xá-vệ; đến bên ngoài cửa cung nói lên:
“Sa-môn Cù-đàm dạy như vầy: ‘Ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Thảy đều do ái lạc.”
Bấy giờ, cả thành Xá-vệ và trong cung đều rao truyền lời này; khắp mọi nơi không đâu là không truyền tới. Ngay lúc đó, Đại vương Ba-tư-nặc cùng Ma-lợi Phu nhân ở trên lầu cao đang vui đùa với nhau. Khi ấy, Vua Ba-tư-nặc nói với Ma-lợi Phu nhân rằng:
“Chắc là Sa-môn Cù-đàm có nói những lời này chăng: ‘Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, thảy đều do ái lạc.’?”
Phu nhân đáp:
“Tôi không được nghe những lời dạy này từ nơi Như Lai. Nhưng nếu Như Lai có dạy những lời này, thì điều này cũng không phải là hư dối.”
Vua Ba-tư-nặc bảo rằng:
“Giống như thầy dạy đệ tử: ‘Nên làm điều này, nên bỏ điều này.’ Thì đệ tử thưa rằng: ‘Xin vâng, Đại sư.’ Nay Ma-lợi, bà cũng lại như vậy. Sa-môn Cù-đàm kia tuy có như vậy, nhưng bà ưng theo nên bảo rằng: Thật vậy không khác, không có hư vọng. Bà hãy đi nhanh đi, không cần đứng trước mặt ta nữa.”
Bấy giờ, Ma-lợi Phu nhân bảo Bà-la-môn Trúc Bác rằng:
“Bây giờ, ông đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Như Lai, nhân danh ta, qùy gối sát chân Như Lai, lại đem nghĩa này bạch đầy đủ lên Thế Tôn rằng: ‘Người trong thành Xá-vệ, và trong cung đang bàn luận về những lời mà Sa-môn Cù-đàm đã nói: Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, đây thảy là do ái lạc. Không rõ Thế Tôn có dạy điều này không?’ Nếu Thế Tôn có dạy điều gì, thì ông hãy khéo ghi nhận trở về nói lại cho ta.”
Bà-la-môn Trúc Bác vâng theo lời dạy của phu nhân, tìm đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi nhau xong, ngồi lui qua một bên, bà-la-môn kia bạch Thề́ tôn:
“Ma-lợi phu nhân xin lễ sát chân Thế Tôn, thăm hỏi Như Lai đi đứng có nhẹ nhàng, thoải mái, khí lực có mạnh khoẻ không? Giáo hóa kẻ mê mờ ngu muội có mệt lắm không? Lại thưa như vầy: ‘Khắp nơi trong thành Xá-vệ này rao truyền về những lời dạy của Sa-môn Cù-đàm như vầy: Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, đó thảy là do ái lạc.’ Không rõ Thế Tôn có dạy những lời này không?”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bà-la-môn Trúc-bác rằng:
“Ở trong thành Xá-vệ này, có một gia chủ mất một người con trai. Ông ta nhớ người con này đến độ cuồng điên mất tánh, chạy lang thang khắp nơi, gặp người liền hỏi: ‘Ai thấy con tôi?’ Như vậy, thì này Bà-la-môn, ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Đó thảy đều không có gì là hoan lạc.
“Ngày xưa trong thành Xá-vệ này, lại có một người vì vô thường mất mà mẹ già, cũng lại cuồng điên không biết đông tây là gì. Lại có một người vì vô thường mà mất cha già, cũng lại vì vô thường anh em, chị em đều mất cả. Người ấy nhận thấy sự biến đổi của vô thường này nên phát cuồng điên, mất tánh, không còn biết đông tây là gì.
“Này Bà-la-môn, ngày xưa trong thành Xá-vệ này có một người mới rước về một người vợ xinh đẹp vô song. Sau đó một thời gian không lâu, người kia tự nhiên nghèo túng. Lúc ấy cha mẹ của người vợ thấy người này nghèo, liền nảy sinh ý nghĩ này: ‘Ta hãy đoạt con gái lại gả cho người khác.’
“Người kia, sau đó rình nghe được chuyện cha mẹ nhà vợ muốn đoạt lại vợ mình để gả cho người khác. Một hôm, nó dắt dao bén trong áo, đến nhà vợ. Trong lúc đó, vợ ông ta đang dệt ở ngoài vách. Nó bước đến chỗ cha mẹ vợ và hỏi: Hiện tại vợ con đang ở đâu?
“Mẹ vợ đáp: Vợ con đang dệt dưới bóng mát ngoài vách.
“Người kia liền đến chỗ vợ, hỏi vợ rằng: Rằng cha mẹ nàng muốn đoạt nàng để gả cho người khác phải không?
“Vợ đáp: Không sai, có lời này. Nhưng tôi không thích nghe lời này vậy.
“Bấy giờ, người kia liền rút dao bén đâm chết vợ, rồi lấy dao bén tự đâm vào bụng mình và nói lời này: ‘Cả hai ta cùng chọn lấy cái chết.’
“Này Bà-la-môn, hãy bằng phương tiện này để biết, ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau khổ. Đó là điều sầu ưu, thật không thể nào nói được.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Trúc Bác bạch Thế Tôn:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn. Có những điều bức não này thật khổ, không vui. Vì sao vậy? Xưa con có một đứa con cũng vì vô thường mà nó bỏ con, ngày đêm thương nhớ canh cánh bên lòng. Vì nhớ con nên tâm ý cuồng điên, rong ruổi khắp nơi, gặp người liền hỏi: ‘Ai thấy con tôi?’ Nay những gì Sa-môn Cù-đàm đã nói thật đúng như vậy. Vì việc nước bận rộn đa đoan, con muốn trở về chỗ mình.”
Thế Tôn bảo:
“Nay thật đúng lúc.”
Bà-la-môn Trúc Bác từ chỗ ngồi ̣đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi ra đi. Về chỗ Ma-lợi phu nhân, ông ̣đem nhân duyên này tâu lại đầy đủ cho phu phân. Lúc ấy, Ma-lợi phu nhân lại đến chỗ vua Ba-tư-nặc, tâu đại vương rằng:
“Hôm nay tôi có điều muốn hỏi, nguyện xin Đại vương nghe qua rồi trả lời cho từng việc:
“Thế nào Đại vương, có tưởng đến Vương tử Lưu-ly không?”
Vua trả lời:
“Rất nhớ, thương yêu canh cánh bên lòng.”
Phu nhân hỏi:
“Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại Vương có lo không?”
Vua lại trả lời:
“Thật vậy, Phu nhân. Như những gì Bà nói.”
Phu nhân hỏi:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly đều dẫn đến sầu khổ. Thế nào, tâu Đại vương, có tưởng đến Vương tử Y-la không?”
Vua trả lời:
“Ta rất yêu quí.”
Phu nhân hỏi:
“Đại vương. Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua trả lời:
“Rất là sầu ưu.”
Phu nhân bảo:
“Nên bằng phương tiện này để biết ân ái biệt ly không mang lại hoan lạc. Thế nào, Đại vương có tưởng đến Bà Tát-la-đà Sát-lợi không?”
Vua trả lời:
“Thật là yêu quí thương nhớ.”
Phu nhân nói:
“Thế nào, tâu Đại vương, giả sử nếu Tát-la phu phân có biến đổi gì, Đại vương có sầu lo không?”
Vua trả lời:
“Ta có sầu lo.”
Phu nhân nói:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly, điều này là khổ.”
Phu nhân nói:
“Vua nhớ thiếp không?”
Vua nói:
“Yêu nhớ khanh.”
Phu nhân nói:
“Giả sử thân thiếp có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua nói:
“Giả sử thân khanh có mất đi, thì ta rất sầu ưu.”
“Đại vương, nên bằng phương tiện này để biết ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, không có gì hoan lạc.”
Phu nhân nói:
“Thế nào, Đại vương có tưởng đến dân chúng Ca-thi và Câu-tát-la không?”
Vua nói:
“Ta rất yêu nhớ Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la.”
Phu nhân nói:
“Giả sử Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua nói:
“Nếu Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi gì, thì mạng ta cũng không còn; huống chi nói đến sầu ưu. Vì sao vậy? Vì ta nhờ vào sức Nhân dân nước Ca-thi và Câu-tát-la nên được tồn tại. Bằng phương tiện này mà biết mạng cũng không còn, huống chi là không sinh sầu ưu.”
Phu nhân nói:
“Do đây để biết, ân ái biệt ly đều có khổ này, mà không có hoan lạc.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Thế Tôn, nói như vầy:
“Thật là kỳ lạ. Thật là kỳ lạ. Thế Tôn kia đã nói pháp này. Mong sao Sa-môn Cù-đàm kia đến đây, tôi sẽ cùng bàn luận.”
Vua lại bảo phu phân:
“Từ nay về sau ta sẽ xem trọng khanh hơn thường ngày, cho phép phục sức không khác ta.”
Bấy giờ, Thế Tôn nghe Ma-lợi phu phân lập ra luận cứ này cho Đại vương, liền bảo các Tỳ-kheo:
“Ma-lợi Phu nhân thật rất là thông minh. Giả sử nếu Vua Ba-tư-nặc hỏi Ta những lời này, thì Ta cũng dùng nghĩa này để nói cho Vua kia, như những gì Phu nhân đã nói cho Vua, không có khác.”
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng Thanh văn của Ta, Ưu-bà-di chứng chí tín kiên cố bậc nhất, chính là Ma-lợi Phu nhân.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
聞如是:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨 T 0571b29園。
爾時,於舍衛城內,有一長者,適喪一子, T 0571c01甚愛敬念,未曾能捨。彼見子死,便生狂惑, T 0571c02周旋往來,不停一處。若見人時,便作是語: T 0571c03「頗有見我兒乎?」
爾時,彼人漸漸往至祇洹 T 0571c04精舍,到世尊所,在一面住。爾時,彼人白世 T 0571c05尊曰:「瞿曇沙門!頗見我兒乎?」
世尊告長者 T 0571c06曰:「何故顏貌不悅,諸根錯亂?」
爾時,長者報瞿 T 0571c07曇曰:「焉得不爾。所以然者,我今唯有一 T 0571c08子,捨我無常。甚愛敬念,未曾離目前;哀愍 T 0571c09彼子,故令我生狂。我今問沙門,見我兒 T 0571c10耶?」
世尊告曰:「如是,長者!如汝所問,生、老、病、 T 0571c11死,世之常法;恩愛離苦、怨憎會苦,子捨汝 T 0571c12無常,豈得不念乎。」
爾時,彼人聞世尊所說, T 0571c13不入其懷,便捨而退去。前行見人,復作是 T 0571c14語:「沙門瞿曇說言曰:『恩愛分別,便有快樂。』 T 0571c15如沙門所說,為審爾不?」
前人對曰:「恩愛別 T 0571c16離,有何樂哉?」
當於爾時,去舍衛城不遠,有 T 0571c17眾多人而共博戲。爾時,彼人便作是念:「此諸 T 0571c18男子聰明智慧,無事不知,我今當以此義 T 0571c19問彼諸人。」爾時,即詣博戲所,問眾人曰:「沙 T 0571c20門瞿曇向我說曰:『恩愛別離苦、怨憎會苦, T 0571c21此者快樂。』諸人等今於意云何?」
是時,諸博戲 T 0571c22者報斯人曰:「恩愛別離,有何樂哉?言快樂 T 0571c23者,此義不然。」
是時,彼人便作是念:「審如來 T 0571c24言終不虛妄。云何恩愛別離,當有樂耶?此 T 0571c25義不然。」
爾時,彼人入舍衛城,至宮門外稱: T 0571c26「沙門瞿曇而作是教:『恩愛別離、怨憎之會,此 T 0571c27者快樂。』」爾時,舍衛城及中宮內,普傳此語,靡 T 0571c28不周遍。
當於爾時,大王波斯匿及摩利夫 T 0571c29人,共在高樓之上相娛樂戲。爾時,王波斯匿 T 0572a01告摩利夫人曰:「沙門瞿曇審有斯語:『恩愛 T 0572a02離別、怨憎之會,此皆快樂。』」
夫人報曰:「吾不 T 0572a03從如來聞此言教,設當如來有此教者,事 T 0572a04亦不虛。」
王波斯匿告曰:「猶如師教弟子:『為 T 0572a05是、捨是。』弟子報言:『如是,大師!』汝今摩利亦 T 0572a06復如是,彼瞿曇沙門雖作是說,汝應作是 T 0572a07言:『如是不異,無有虛妄。』然卿速去,不須在 T 0572a08吾前立。」
爾時,摩利夫人語竹膊婆羅門曰: T 0572a09「汝今往詣祇洹精舍,到如來所,持我名字, T 0572a10跪如來足,復以此義具白世尊云:『舍衛城 T 0572a11內及中宮人有此言論,沙門瞿曇言恩愛別 T 0572a12離、怨憎合會,此皆快樂。不審世尊有此教 T 0572a13耶?』若世尊所有說者,汝善承受,還向我說。」
T 0572a14是時,竹膊婆羅門受夫人教勅,尋往至祇 T 0572a15洹精舍。到世尊所,共相問訊。共相問訊已, T 0572a16在一面坐。
時,彼梵志白世尊曰:「摩利夫人 T 0572a17禮世尊足,問訊如來興居輕利,遊步康強 T 0572a18乎?訓化盲冥,得無勞耶?」復作是語:「此舍衛 T 0572a19城內普傳此言:『沙門瞿曇而作是教:「恩愛別 T 0572a20離、怨憎之會,此樂快哉!」』不審世尊有是言 T 0572a21教耶?」
爾時,世尊告竹膊婆羅門曰:「於此舍 T 0572a22衛城內,有一長者喪失一子,彼念此子,狂 T 0572a23惑失性,東西馳走,見人便問:『誰見我子?』然, T 0572a24婆羅門!恩愛別離苦、怨憎會苦,此皆無有歡 T 0572a25樂。昔日此舍衛城中,復有一老母無常,亦 T 0572a26復狂惑不識東西;復有一老父無常;亦復 T 0572a27有兄弟姊妹皆悉無常。彼見此無常之變, T 0572a28生狂失性不識東西。婆羅門!昔日此舍衛 T 0572a29城中有一人,新迎婦,端正無雙。爾時,彼人 T 0572b01未經幾時,便自貧窮。時,彼婦父母見此 T 0572b02人貧,便生此念:『吾當奪女更嫁與餘人。』 T 0572b03彼人竊聞婦家父母欲奪吾婦,更嫁與餘 T 0572b04家。爾時,彼人衣裏帶利刀,便往至婦家,當 T 0572b05於爾時,彼婦在牆外紡作。是時,彼人往至 T 0572b06婦父母家問 曰 :『我婦今為所在?』婦母報言:『卿 T 0572b07婦在牆外陰中紡作。』爾時,彼人便往至婦 T 0572b08所。到已,問婦曰:『云卿父母欲奪汝更餘嫁 T 0572b09耶?』婦報言:『信有此語,然我不樂聞此言 T 0572b10耶。』爾時,彼人即拔利劍,取婦刺殺,復取利 T 0572b11劍,自刺其腹,並復作是語:『我二人俱取 T 0572b12死。』婆羅門!當以此方便,知恩愛別離、怨憎 T 0572b13會苦,此皆愁憂,實不可言。」
爾時,竹膊婆羅 T 0572b14門白世尊曰:「如是。世尊!有此諸惱,實苦不 T 0572b15樂。所以然者,昔我有一子,捨我無常。晝夜 T 0572b16追憶,不離心懷。時我念兒,心意狂惑,馳走 T 0572b17東西,見人便問:『誰見我兒?』沙門瞿曇今所 T 0572b18說者,誠如所言。國事煩多,欲還所止。」
世尊 T 0572b19告曰:「今正是時。」
竹膊婆羅門即從坐起,遶 T 0572b20佛三匝而去。往來至摩利夫人所,以此因 T 0572b21緣具白夫人。
時,摩利夫人復至波斯匿王 T 0572b22所,到已,白大王曰:「今欲有所問,唯願大王 T 0572b23事事見報!云何,大王!為念琉璃王子不?」
T 0572b24王報言:「甚念!愛愍不去心首。」
夫人問曰:「若 T 0572b25當王子有遷變者,大王!為有憂也?」
王復 T 0572b26報言:「如是,夫人!如汝所言。」
夫人問曰:「大 T 0572b27王當知,恩愛別離,皆興愁想。云何,大王!為 T 0572b28念伊羅王子乎?」
王報言:「我甚愛敬。」
夫人 T 0572b29問曰:「大王!若當王子有遷變者,有愁憂耶?」
T 0572c01王報言:「甚有愁憂。」
夫人報言:「當以此方便 T 0572c02知,恩愛別離,無有歡樂。云何,大王!念薩羅 T 0572c03陀剎利種不?」
王報言:「甚愛敬念。」
夫人言:「云 T 0572c04何,大王!若使薩羅陀夫人有變易者,大王 T 0572c05為有憂耶?」
王報言:「吾有愁憂。」
夫人言:「大王! T 0572c06當知恩愛別離,此皆是苦。」
夫人言:「王念我 T 0572c07不?」
王言:「我愛念汝。」
夫人言:「設當我身有變 T 0572c08易者,大王有愁憂乎?」
王言:「設汝身有變 T 0572c09易,便有愁憂。」
「大王!當以此方便知,恩愛 T 0572c10別離、怨憎合會,無歡樂心。」
夫人言:「云何,大王! T 0572c11念迦尸、拘薩羅人民乎?」
王言:「我甚愛念迦 T 0572c12尸、拘薩羅人民。」
夫人言:「迦尸、拘薩羅人民設 T 0572c13當變易者,大王有愁憂乎?」
王言:「迦尸、拘薩 T 0572c14羅人民當有變易者,我命不存,況言愁憂 T 0572c15乎?所以然者,我因迦尸、拘薩羅國人民力, T 0572c16當得自存。以此方便,知命尚不存,何況不 T 0572c17生愁憂乎?」
夫人言:「以此知之,恩愛別離,皆 T 0572c18有此苦,無有歡樂。」
爾時,王波斯匿右膝著 T 0572c19地,叉手合掌而向世尊!作是說:「甚奇!甚奇! T 0572c20彼世尊而說此法。若當彼沙門瞿曇來者, T 0572c21爾乃可得共言論。」復語夫人:「自今以後, T 0572c22當更看汝勝於常日,所著服飾與吾無異。」
T 0572c23爾時,世尊聞摩利夫人與大王立此論本, T 0572c24告諸比丘:「摩利夫人甚大聰明,設當王波斯 T 0572c25匿問我此語者,我亦當以此義向彼王 T 0572c26說之,如夫人向王所說而無有異。」又告 T 0572c27諸比丘:「我聲聞中第一得證優婆斯,篤信牢 T 0572c28固,所謂摩利夫人是。」
爾時,諸比丘聞佛所說, T 0572c29歡喜奉行。
T 0573a01 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that there was a prominent man in the city of Śrāvastī who’s son had recently died. He had been loving and devoted, and they had never been apart before. When he saw his son dead, he became distraught as a result. He went in circles, came and went, and didn’t stay in one place. When he saw someone, he would ask them, “Have you seen my child?”
SC 3That man eventually made his way to Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove. He went to the Bhagavān and stood to one side. That man then asked the Bhagavān, “Ascetic Gautama, have you seen my child?”
SC 4The Bhagavān asked that prominent man, “Why do you look so unhappy and disturbed?”
SC 5The man replied, “Gautama, I couldn’t be otherwise. Why is that? Now, I had an only son who left me due to impermanence. He was loving and devoted, and he had never been out my sight before. I feel so much pity for my son, so much that I’ve gone mad. Now, I ask you, ascetic, ‘Have you seen my child?’”
SC 6The Bhagavān told him, “So it is, prominent man. As you’ve asked, birth, old age, illness, and death are the constant principles of the world. It’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. Your son left you due to impermanence, so how could you not think of him?”
SC 7That man heard what the Bhagavān taught, but it didn’t enter his heart, so he disregarded it and left. He saw someone in front of him as he was walking and said to them, “The ascetic Gautama told me, ‘Separation from love ones is delightful.’ How could that ascetic be teaching the actual fact of the matter?”
That person in front of him replied, “What happiness is there in being separated from loved ones?”
SC 8At some point later, he left the city of Śrāvastī. Not far away, there was a group of people who were playing a gambling game. The man thought, “These men are intelligent and wise. There’s nothing they don’t know. I’ll ask them about this matter.”
SC 9He went to those gamblers and asked them, “The ascetic Gautama told me, ‘It’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. These things are delightful.’ What do you men think about that?”
Those gamblers then replied to him, “What happiness is there in being separated from loved ones?! Calling that delightful makes no sense.”
SC 10That man then thought, “It’s a fact that the Tathāgata’s words are never false, but what happiness would there be in being separated from loved ones? It makes no sense.”
SC 11That man then went into Śrāvastī and stood at the palace gate. From outside, he called, “The ascetic Gautama has taught this: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful!’” Everyone in Śrāvastī and inside the palace told each other what he said. There wasn’t anyone who didn’t hear about it.
SC 12At some point later, Great King Prasenajit and Queen Mālikā were up in their high tower entertaining each other. King Prasenajit said to Queen Mālikā, “The ascetic Gautama has in fact said this: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful.’”
The Queen replied, “I haven’t heard the Tathāgata teach this. If the Tathāgata did teach this, then it must not be false.”
SC 13King Prasenajit told her, “The teacher instructs his disciple, ‘Do this, abandon that.’ The disciple replies, ‘Yes, great teacher!’ You’re like that, Mālikā. Although the ascetic Gautama said that, your response is to say, ‘Yes, it’s not otherwise. There’s nothing false about it.’ You can go now. I have no need of you in my presence.”
SC 14Queen Mālikā then said to the priest Nāḷijaṅgha, “Go now to visit Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove. Go to the Tathāgata in my name and kneel at the Tathāgata’s feet. Then tell the Bhagavān all about this matter: ‘Everyone in Śrāvastī and inside the palace are talking about this: “The ascetic Gautama has taught: ‘Separation from loves ones and association with enemies are both delightful.’ Is it a fact that the Bhagavān has taught this?”’ If the Bhagavān has anything to say, make sure to remember it well and then come back and tell me.”
SC 15The priest Nāḷijaṅgha accepted the queen’s instructions and went immediately to Anāthapiṇḍada’s Park. When he reached the Bhagavān, he exchanged greetings with him. After they had exchanged greetings, he sat to one side.
SC 16The priest then said to the Bhagavān, “Queen Mālikā bows to the Bhagavān’s feet and sends her polite inquiries: ‘Are you getting around easily? Have your travels been difficult? Is your eyesight going dark? Are you without troubles?’ She also said this: ‘Everyone in the city of Śrāvastī and the palace have been telling each other this, “The ascetic Gautama said: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful’!” Is it inaccurate to say that the Bhagavān taught this?’”
SC 17The Bhagavān then told the priest Nāḷijaṅgha, “There’s a prominent man here in Śrāvastī whose only son has died. He became distraught thinking about his son, and he lost his composure. He rushed east and west, asking anyone whom he met, ‘Has anyone seen my son?’ Indeed, priest, it’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. There’s no joy in either of these things.
SC 18“There was once a day when the impermanence of an elderly mother also made a person so distraught they didn’t know east from west. It’s the same with the impermanence of an elderly father and the impermanence of brothers and sisters. Seeing these impermanent changes, people become distraught and lose their composure, not knowing east from west.
SC 19“Priest, there was once a newly married man in Śrāvastī whose handsomeness was unmatched. It wasn’t long before that man became impoverished. His wife’s parents saw this man’s impoverishment and thought, ‘We ought to take our daughter back and marry her to another man!’ That man heard this from his wife’s family. ‘Her parents want to take her back and give her to another family!’
SC 20“That man then hid a sharp knife in his clothes and went to his wife’s family. On that occasion, his wife was outside of the house spinning thread. The man went to his wife’s parents and asked, ‘Where is my wife?’
“His mother-in-law replied, ‘Your wife is outside in the shade spinning thread.’
SC 21“That man then went to his wife. Reaching her, he asked his wife, ‘How can your parents take you back and marry you to someone else?’
“His wife replied, ‘I believe they did say that, but I’m not happy to hear them say it.’
SC 22“That man then drew his sharp sword, grabbed his wife, and stabbed her to death. He also ran that sword through his own belly. As he did, he said, ‘I choose for both of us to die!’
SC 23“Priest, you should know in this way that it’s painful to be separated from loved ones and to associate with enemies. These are sorrows that truly can’t be described.”
SC 24The priest Nāḷijaṅgha then said to the Bhagavān, “So it is, Bhagavān. These torments are truly painful and unpleasant. Why is that? I once had a son who left me due to impermanence. I couldn’t stop thinking about him, day and night. He hasn’t left my heart. When I thought of that child, my mind was maddened. I rushed east and west and asked people I saw, ‘Has anyone seen my child?’ What the ascetic Gautama has said here is an honest statement. Now, I must get back to the many duties and problems of state.”
The Bhagavān told him, “Now is a good time to do that.”
SC 25The priest Nāḷijaṅgha then rose from his seat, circled the Buddha three times, and departed. He went to Queen Mālikā and related to her what had transpired.
SC 26Queen Mālikā then went back to King Prasenajit. Arriving, she said to the Great King, “Now, I want to ask you a question. Please, Great King, respond according to what your own experience has been. How is it, Great King? Do you think about Prince *Vaiḍūrya?”
The King replied, “How I do think of him! My love for him never leaves my heart.”
SC 27The Queen asked, “Suppose that something were to happen to the Prince. Great King, would it make you sad?”
The King again replied, “Yes, Queen, it’s as you say.”
SC 28The Queen said, “Great King, you should know that notions of grief arise from being separated from loved ones. How is it, Great King? Do you think about Prince Ela?”
The King replied, “I love and respect him very much.”
SC 29The Queen said, “Suppose that something were to happen to the Prince. Great King, would it make you sad?”
The King again replied, “It would be very sad.”
SC 30The Queen replied, “You should know in this way that there’s no joy in being separated from loved ones. How is it, Great King? Do you think about *Śaradā of the warrior tribe?”
The King replied, “I think lovingly and respectfully of her.”
SC 31The Queen said, “How is it, Great King? If something were to happen to Queen Śaradā, would it make the Great King sad?”
The King replied, “I would be saddened by that.”
SC 32The Queen said, “Great King, you should know that these are all pains of being separated from loved ones.”
SC 33The Queen said, “Does the King think about me?”
The King said, “I think lovingly of you.”
SC 34The Queen said, “Suppose that something were to happen to me. Would it make the Great King sad?”
The King said, “If something were to happen to you, I would be saddened by that.”
SC 35“Great King, you should know from this that there’s no joy in being separated from loved ones or associating with enemies.”
SC 36The Queen said, “How is it, Great King? Do you think about the people of Kāśī and Kośala?”
The King said, “I think lovingly about the people of Kāśī and Kośala.”
SC 37The Queen said, “Suppose something were to happen to the people of Kāśī and Kośala. Would that make the Great King sad?”
SC 38The King said, “If something were to happen to the people of Kāśī and Kośala, I wouldn’t be able to continue living, to say nothing of becoming sad. Why is that? I’m sustained by the strength of the Kāśī and Kośala people, so I know from this that I wouldn’t survive it. How could I not be sad?”
SC 39The Queen said, “We know in these ways that there’s no joy in these pains of being separated from loved ones.”
SC 40King Prasenajit then knelt down on his right knee, pressed his palms together, and faced towards the Bhagavān. He said, “Amazing! It’s amazing that the Bhagavān teaches such a principle. If that ascetic Gautama were to come here, then I would like to have a conversation with him!” He also said to the Queen, “From this day on, I will consult with you every day, and you’ll wear the same clothes and ornaments as I do!”
SC 41The Bhagavān heard that conversation between Queen Mālikā and the Great King. He told the monks, “Queen Mālikā is really quite intelligent. If King Prasenajit were to ask me about this saying, I would also teach this meaning to the King. I would do it in the same way as the Queen, without any difference.”
SC 42He also told the monks, “The best realized laywoman among my disciples who is devoted and steadfast is that Queen Mālikā.”
SC 43When the monks heard what the Buddha taught, they rejoiced and approved of it.
Tôi nghe như vầy:
Một thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ.
Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một gia chủ vừa mất một người con trai mà ông rất yêu mến, thương nhớ, chưa từng lìa xa. Ông thấy con chết, liền phát cuồng điên; đi lang thang qua lại khắp nơi. Gặp ai, ông cũng hỏi: “Có gặp con tôi không?”
Rồi thì, người kia đi lần đến tinh xá Kỳ-hoàn. Đi đến chỗ Thế Tôn, đứng qua một bên, người kia bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-môn Cù-đàm, thấy con tôi không?”
Thế Tôn hỏi gia chủ:
“Tại sao mặt mũi ông không vui, các căn thác loạn vậy?”
Gia chủ thưa rằng:
“Cù-đàm, không vậy sao được? Vì sao vậy? Hiện tại tôi chỉ có một đứa con trai, vì vô thường mà nó đã bỏ tôi. Tôi rất yêu mến, thương nhớ nó, chưa từng rời khỏi mắt. Vì thương mến đứa con kia nên khiến tôi phát cuồng. Nay tôi hỏi Sa-môn, thấy con tôi không?”
Thế Tôn bảo:
“Thật vậy, gia chủ, như những gì ông đã hỏi. Sinh, già, bệnh, chết là pháp thường của thế gian. Ân ái biệt ly là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ. Người con vì vô thường mà bỏ ông, há không nhớ nghĩ được sao?”
Lúc đó, người kia nghe những gì Thế Tôn nói mà không để vào lòng, liền bỏ đi. Trên đường gặp người, ông lại nói như vầy: “Sa-môn Cù-đàm nói rằng: ‘Ân ái mà phân ly là khổ. Thảy đều do ái lạc.’ Những gì mà Sa-môn đã nói, xét thật ra có đúng không?”
Người trên đường đáp:
“Ân ái biệt ly, có gì là khoái lạc?”
Lúc đó, cách thành Xá-vệ không xa, có nhiều người đang cùng nhau chơi bạc. Người kia tự nghĩ: “Những người đàn ông này, thông minh trí tuệ, không việc gì không biết. Bây giờ ta đem nghĩa này hỏi những người kia.” Nghĩ xong ông liền đến chỗ chơi cờ bạc, hỏi mọi người rằng:
“Sa-môn Cù-đàm nói với tôi rằng: ‘Ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Thảy đèu do ái lạc. Nay theo ý mọi người thì thế nào?”
Lúc đó những người chơi bạc đáp người này rằng:
“Ân ái biệt ly khổ sao lại do ái lạc? Nói do ái lạc, nghĩa này không đúng.”
Lúc đó, người kia liền tự nghĩ: “Xét lời Như Lai thì không bao giờ hư vọng. Ân ái mà biệt ly sẽ có khoái lạc chăng? Nghĩa này không đúng.”
Rồi người kia vào thành Xá-vệ; đến bên ngoài cửa cung nói lên:
“Sa-môn Cù-đàm dạy như vầy: ‘Ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Thảy đều do ái lạc.”
Bấy giờ, cả thành Xá-vệ và trong cung đều rao truyền lời này; khắp mọi nơi không đâu là không truyền tới. Ngay lúc đó, Đại vương Ba-tư-nặc cùng Ma-lợi Phu nhân ở trên lầu cao đang vui đùa với nhau. Khi ấy, Vua Ba-tư-nặc nói với Ma-lợi Phu nhân rằng:
“Chắc là Sa-môn Cù-đàm có nói những lời này chăng: ‘Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, thảy đều do ái lạc.’?”
Phu nhân đáp:
“Tôi không được nghe những lời dạy này từ nơi Như Lai. Nhưng nếu Như Lai có dạy những lời này, thì điều này cũng không phải là hư dối.”
Vua Ba-tư-nặc bảo rằng:
“Giống như thầy dạy đệ tử: ‘Nên làm điều này, nên bỏ điều này.’ Thì đệ tử thưa rằng: ‘Xin vâng, Đại sư.’ Nay Ma-lợi, bà cũng lại như vậy. Sa-môn Cù-đàm kia tuy có như vậy, nhưng bà ưng theo nên bảo rằng: Thật vậy không khác, không có hư vọng. Bà hãy đi nhanh đi, không cần đứng trước mặt ta nữa.”
Bấy giờ, Ma-lợi Phu nhân bảo Bà-la-môn Trúc Bác rằng:
“Bây giờ, ông đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Như Lai, nhân danh ta, qùy gối sát chân Như Lai, lại đem nghĩa này bạch đầy đủ lên Thế Tôn rằng: ‘Người trong thành Xá-vệ, và trong cung đang bàn luận về những lời mà Sa-môn Cù-đàm đã nói: Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, đây thảy là do ái lạc. Không rõ Thế Tôn có dạy điều này không?’ Nếu Thế Tôn có dạy điều gì, thì ông hãy khéo ghi nhận trở về nói lại cho ta.”
Bà-la-môn Trúc Bác vâng theo lời dạy của phu nhân, tìm đến tinh xá Kỳ-hoàn, đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi nhau. Sau khi chào hỏi nhau xong, ngồi lui qua một bên, bà-la-môn kia bạch Thề́ tôn:
“Ma-lợi phu nhân xin lễ sát chân Thế Tôn, thăm hỏi Như Lai đi đứng có nhẹ nhàng, thoải mái, khí lực có mạnh khoẻ không? Giáo hóa kẻ mê mờ ngu muội có mệt lắm không? Lại thưa như vầy: ‘Khắp nơi trong thành Xá-vệ này rao truyền về những lời dạy của Sa-môn Cù-đàm như vầy: Ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, đó thảy là do ái lạc.’ Không rõ Thế Tôn có dạy những lời này không?”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bà-la-môn Trúc-bác rằng:
“Ở trong thành Xá-vệ này, có một gia chủ mất một người con trai. Ông ta nhớ người con này đến độ cuồng điên mất tánh, chạy lang thang khắp nơi, gặp người liền hỏi: ‘Ai thấy con tôi?’ Như vậy, thì này Bà-la-môn, ân ái biệt ly khổ, oán ghét gặp nhau khổ. Đó thảy đều không có gì là hoan lạc.
“Ngày xưa trong thành Xá-vệ này, lại có một người vì vô thường mất mà mẹ già, cũng lại cuồng điên không biết đông tây là gì. Lại có một người vì vô thường mà mất cha già, cũng lại vì vô thường anh em, chị em đều mất cả. Người ấy nhận thấy sự biến đổi của vô thường này nên phát cuồng điên, mất tánh, không còn biết đông tây là gì.
“Này Bà-la-môn, ngày xưa trong thành Xá-vệ này có một người mới rước về một người vợ xinh đẹp vô song. Sau đó một thời gian không lâu, người kia tự nhiên nghèo túng. Lúc ấy cha mẹ của người vợ thấy người này nghèo, liền nảy sinh ý nghĩ này: ‘Ta hãy đoạt con gái lại gả cho người khác.’
“Người kia, sau đó rình nghe được chuyện cha mẹ nhà vợ muốn đoạt lại vợ mình để gả cho người khác. Một hôm, nó dắt dao bén trong áo, đến nhà vợ. Trong lúc đó, vợ ông ta đang dệt ở ngoài vách. Nó bước đến chỗ cha mẹ vợ và hỏi: Hiện tại vợ con đang ở đâu?
“Mẹ vợ đáp: Vợ con đang dệt dưới bóng mát ngoài vách.
“Người kia liền đến chỗ vợ, hỏi vợ rằng: Rằng cha mẹ nàng muốn đoạt nàng để gả cho người khác phải không?
“Vợ đáp: Không sai, có lời này. Nhưng tôi không thích nghe lời này vậy.
“Bấy giờ, người kia liền rút dao bén đâm chết vợ, rồi lấy dao bén tự đâm vào bụng mình và nói lời này: ‘Cả hai ta cùng chọn lấy cái chết.’
“Này Bà-la-môn, hãy bằng phương tiện này để biết, ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau khổ. Đó là điều sầu ưu, thật không thể nào nói được.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Trúc Bác bạch Thế Tôn:
“Thật vậy, bạch Thế Tôn. Có những điều bức não này thật khổ, không vui. Vì sao vậy? Xưa con có một đứa con cũng vì vô thường mà nó bỏ con, ngày đêm thương nhớ canh cánh bên lòng. Vì nhớ con nên tâm ý cuồng điên, rong ruổi khắp nơi, gặp người liền hỏi: ‘Ai thấy con tôi?’ Nay những gì Sa-môn Cù-đàm đã nói thật đúng như vậy. Vì việc nước bận rộn đa đoan, con muốn trở về chỗ mình.”
Thế Tôn bảo:
“Nay thật đúng lúc.”
Bà-la-môn Trúc Bác từ chỗ ngồi ̣đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi ra đi. Về chỗ Ma-lợi phu nhân, ông ̣đem nhân duyên này tâu lại đầy đủ cho phu phân. Lúc ấy, Ma-lợi phu nhân lại đến chỗ vua Ba-tư-nặc, tâu đại vương rằng:
“Hôm nay tôi có điều muốn hỏi, nguyện xin Đại vương nghe qua rồi trả lời cho từng việc:
“Thế nào Đại vương, có tưởng đến Vương tử Lưu-ly không?”
Vua trả lời:
“Rất nhớ, thương yêu canh cánh bên lòng.”
Phu nhân hỏi:
“Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại Vương có lo không?”
Vua lại trả lời:
“Thật vậy, Phu nhân. Như những gì Bà nói.”
Phu nhân hỏi:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly đều dẫn đến sầu khổ. Thế nào, tâu Đại vương, có tưởng đến Vương tử Y-la không?”
Vua trả lời:
“Ta rất yêu quí.”
Phu nhân hỏi:
“Đại vương. Nếu Vương tử có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua trả lời:
“Rất là sầu ưu.”
Phu nhân bảo:
“Nên bằng phương tiện này để biết ân ái biệt ly không mang lại hoan lạc. Thế nào, Đại vương có tưởng đến Bà Tát-la-đà Sát-lợi không?”
Vua trả lời:
“Thật là yêu quí thương nhớ.”
Phu nhân nói:
“Thế nào, tâu Đại vương, giả sử nếu Tát-la phu phân có biến đổi gì, Đại vương có sầu lo không?”
Vua trả lời:
“Ta có sầu lo.”
Phu nhân nói:
“Đại vương nên biết, ân ái biệt ly, điều này là khổ.”
Phu nhân nói:
“Vua nhớ thiếp không?”
Vua nói:
“Yêu nhớ khanh.”
Phu nhân nói:
“Giả sử thân thiếp có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua nói:
“Giả sử thân khanh có mất đi, thì ta rất sầu ưu.”
“Đại vương, nên bằng phương tiện này để biết ân ái biệt ly, oán ghét gặp nhau, không có gì hoan lạc.”
Phu nhân nói:
“Thế nào, Đại vương có tưởng đến dân chúng Ca-thi và Câu-tát-la không?”
Vua nói:
“Ta rất yêu nhớ Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la.”
Phu nhân nói:
“Giả sử Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi gì, Đại vương có sầu ưu không?”
Vua nói:
“Nếu Nhân dân Ca-thi và Câu-tát-la có biến đổi gì, thì mạng ta cũng không còn; huống chi nói đến sầu ưu. Vì sao vậy? Vì ta nhờ vào sức Nhân dân nước Ca-thi và Câu-tát-la nên được tồn tại. Bằng phương tiện này mà biết mạng cũng không còn, huống chi là không sinh sầu ưu.”
Phu nhân nói:
“Do đây để biết, ân ái biệt ly đều có khổ này, mà không có hoan lạc.”
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, quỳ gối phải sát đất, chắp tay hướng về Thế Tôn, nói như vầy:
“Thật là kỳ lạ. Thật là kỳ lạ. Thế Tôn kia đã nói pháp này. Mong sao Sa-môn Cù-đàm kia đến đây, tôi sẽ cùng bàn luận.”
Vua lại bảo phu phân:
“Từ nay về sau ta sẽ xem trọng khanh hơn thường ngày, cho phép phục sức không khác ta.”
Bấy giờ, Thế Tôn nghe Ma-lợi phu phân lập ra luận cứ này cho Đại vương, liền bảo các Tỳ-kheo:
“Ma-lợi Phu nhân thật rất là thông minh. Giả sử nếu Vua Ba-tư-nặc hỏi Ta những lời này, thì Ta cũng dùng nghĩa này để nói cho Vua kia, như những gì Phu nhân đã nói cho Vua, không có khác.”
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Trong hàng Thanh văn của Ta, Ưu-bà-di chứng chí tín kiên cố bậc nhất, chính là Ma-lợi Phu nhân.”
Các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that there was a prominent man in the city of Śrāvastī who’s son had recently died. He had been loving and devoted, and they had never been apart before. When he saw his son dead, he became distraught as a result. He went in circles, came and went, and didn’t stay in one place. When he saw someone, he would ask them, “Have you seen my child?”
SC 3That man eventually made his way to Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove. He went to the Bhagavān and stood to one side. That man then asked the Bhagavān, “Ascetic Gautama, have you seen my child?”
SC 4The Bhagavān asked that prominent man, “Why do you look so unhappy and disturbed?”
SC 5The man replied, “Gautama, I couldn’t be otherwise. Why is that? Now, I had an only son who left me due to impermanence. He was loving and devoted, and he had never been out my sight before. I feel so much pity for my son, so much that I’ve gone mad. Now, I ask you, ascetic, ‘Have you seen my child?’”
SC 6The Bhagavān told him, “So it is, prominent man. As you’ve asked, birth, old age, illness, and death are the constant principles of the world. It’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. Your son left you due to impermanence, so how could you not think of him?”
SC 7That man heard what the Bhagavān taught, but it didn’t enter his heart, so he disregarded it and left. He saw someone in front of him as he was walking and said to them, “The ascetic Gautama told me, ‘Separation from love ones is delightful.’ How could that ascetic be teaching the actual fact of the matter?”
That person in front of him replied, “What happiness is there in being separated from loved ones?”
SC 8At some point later, he left the city of Śrāvastī. Not far away, there was a group of people who were playing a gambling game. The man thought, “These men are intelligent and wise. There’s nothing they don’t know. I’ll ask them about this matter.”
SC 9He went to those gamblers and asked them, “The ascetic Gautama told me, ‘It’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. These things are delightful.’ What do you men think about that?”
Those gamblers then replied to him, “What happiness is there in being separated from loved ones?! Calling that delightful makes no sense.”
SC 10That man then thought, “It’s a fact that the Tathāgata’s words are never false, but what happiness would there be in being separated from loved ones? It makes no sense.”
SC 11That man then went into Śrāvastī and stood at the palace gate. From outside, he called, “The ascetic Gautama has taught this: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful!’” Everyone in Śrāvastī and inside the palace told each other what he said. There wasn’t anyone who didn’t hear about it.
SC 12At some point later, Great King Prasenajit and Queen Mālikā were up in their high tower entertaining each other. King Prasenajit said to Queen Mālikā, “The ascetic Gautama has in fact said this: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful.’”
The Queen replied, “I haven’t heard the Tathāgata teach this. If the Tathāgata did teach this, then it must not be false.”
SC 13King Prasenajit told her, “The teacher instructs his disciple, ‘Do this, abandon that.’ The disciple replies, ‘Yes, great teacher!’ You’re like that, Mālikā. Although the ascetic Gautama said that, your response is to say, ‘Yes, it’s not otherwise. There’s nothing false about it.’ You can go now. I have no need of you in my presence.”
SC 14Queen Mālikā then said to the priest Nāḷijaṅgha, “Go now to visit Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove. Go to the Tathāgata in my name and kneel at the Tathāgata’s feet. Then tell the Bhagavān all about this matter: ‘Everyone in Śrāvastī and inside the palace are talking about this: “The ascetic Gautama has taught: ‘Separation from loves ones and association with enemies are both delightful.’ Is it a fact that the Bhagavān has taught this?”’ If the Bhagavān has anything to say, make sure to remember it well and then come back and tell me.”
SC 15The priest Nāḷijaṅgha accepted the queen’s instructions and went immediately to Anāthapiṇḍada’s Park. When he reached the Bhagavān, he exchanged greetings with him. After they had exchanged greetings, he sat to one side.
SC 16The priest then said to the Bhagavān, “Queen Mālikā bows to the Bhagavān’s feet and sends her polite inquiries: ‘Are you getting around easily? Have your travels been difficult? Is your eyesight going dark? Are you without troubles?’ She also said this: ‘Everyone in the city of Śrāvastī and the palace have been telling each other this, “The ascetic Gautama said: ‘Separation from loved ones and association with enemies are both delightful’!” Is it inaccurate to say that the Bhagavān taught this?’”
SC 17The Bhagavān then told the priest Nāḷijaṅgha, “There’s a prominent man here in Śrāvastī whose only son has died. He became distraught thinking about his son, and he lost his composure. He rushed east and west, asking anyone whom he met, ‘Has anyone seen my son?’ Indeed, priest, it’s painful to be separated from loved ones and painful to associate with enemies. There’s no joy in either of these things.
SC 18“There was once a day when the impermanence of an elderly mother also made a person so distraught they didn’t know east from west. It’s the same with the impermanence of an elderly father and the impermanence of brothers and sisters. Seeing these impermanent changes, people become distraught and lose their composure, not knowing east from west.
SC 19“Priest, there was once a newly married man in Śrāvastī whose handsomeness was unmatched. It wasn’t long before that man became impoverished. His wife’s parents saw this man’s impoverishment and thought, ‘We ought to take our daughter back and marry her to another man!’ That man heard this from his wife’s family. ‘Her parents want to take her back and give her to another family!’
SC 20“That man then hid a sharp knife in his clothes and went to his wife’s family. On that occasion, his wife was outside of the house spinning thread. The man went to his wife’s parents and asked, ‘Where is my wife?’
“His mother-in-law replied, ‘Your wife is outside in the shade spinning thread.’
SC 21“That man then went to his wife. Reaching her, he asked his wife, ‘How can your parents take you back and marry you to someone else?’
“His wife replied, ‘I believe they did say that, but I’m not happy to hear them say it.’
SC 22“That man then drew his sharp sword, grabbed his wife, and stabbed her to death. He also ran that sword through his own belly. As he did, he said, ‘I choose for both of us to die!’
SC 23“Priest, you should know in this way that it’s painful to be separated from loved ones and to associate with enemies. These are sorrows that truly can’t be described.”
SC 24The priest Nāḷijaṅgha then said to the Bhagavān, “So it is, Bhagavān. These torments are truly painful and unpleasant. Why is that? I once had a son who left me due to impermanence. I couldn’t stop thinking about him, day and night. He hasn’t left my heart. When I thought of that child, my mind was maddened. I rushed east and west and asked people I saw, ‘Has anyone seen my child?’ What the ascetic Gautama has said here is an honest statement. Now, I must get back to the many duties and problems of state.”
The Bhagavān told him, “Now is a good time to do that.”
SC 25The priest Nāḷijaṅgha then rose from his seat, circled the Buddha three times, and departed. He went to Queen Mālikā and related to her what had transpired.
SC 26Queen Mālikā then went back to King Prasenajit. Arriving, she said to the Great King, “Now, I want to ask you a question. Please, Great King, respond according to what your own experience has been. How is it, Great King? Do you think about Prince *Vaiḍūrya?”
The King replied, “How I do think of him! My love for him never leaves my heart.”
SC 27The Queen asked, “Suppose that something were to happen to the Prince. Great King, would it make you sad?”
The King again replied, “Yes, Queen, it’s as you say.”
SC 28The Queen said, “Great King, you should know that notions of grief arise from being separated from loved ones. How is it, Great King? Do you think about Prince Ela?”
The King replied, “I love and respect him very much.”
SC 29The Queen said, “Suppose that something were to happen to the Prince. Great King, would it make you sad?”
The King again replied, “It would be very sad.”
SC 30The Queen replied, “You should know in this way that there’s no joy in being separated from loved ones. How is it, Great King? Do you think about *Śaradā of the warrior tribe?”
The King replied, “I think lovingly and respectfully of her.”
SC 31The Queen said, “How is it, Great King? If something were to happen to Queen Śaradā, would it make the Great King sad?”
The King replied, “I would be saddened by that.”
SC 32The Queen said, “Great King, you should know that these are all pains of being separated from loved ones.”
SC 33The Queen said, “Does the King think about me?”
The King said, “I think lovingly of you.”
SC 34The Queen said, “Suppose that something were to happen to me. Would it make the Great King sad?”
The King said, “If something were to happen to you, I would be saddened by that.”
SC 35“Great King, you should know from this that there’s no joy in being separated from loved ones or associating with enemies.”
SC 36The Queen said, “How is it, Great King? Do you think about the people of Kāśī and Kośala?”
The King said, “I think lovingly about the people of Kāśī and Kośala.”
SC 37The Queen said, “Suppose something were to happen to the people of Kāśī and Kośala. Would that make the Great King sad?”
SC 38The King said, “If something were to happen to the people of Kāśī and Kośala, I wouldn’t be able to continue living, to say nothing of becoming sad. Why is that? I’m sustained by the strength of the Kāśī and Kośala people, so I know from this that I wouldn’t survive it. How could I not be sad?”
SC 39The Queen said, “We know in these ways that there’s no joy in these pains of being separated from loved ones.”
SC 40King Prasenajit then knelt down on his right knee, pressed his palms together, and faced towards the Bhagavān. He said, “Amazing! It’s amazing that the Bhagavān teaches such a principle. If that ascetic Gautama were to come here, then I would like to have a conversation with him!” He also said to the Queen, “From this day on, I will consult with you every day, and you’ll wear the same clothes and ornaments as I do!”
SC 41The Bhagavān heard that conversation between Queen Mālikā and the Great King. He told the monks, “Queen Mālikā is really quite intelligent. If King Prasenajit were to ask me about this saying, I would also teach this meaning to the King. I would do it in the same way as the Queen, without any difference.”
SC 42He also told the monks, “The best realized laywoman among my disciples who is devoted and steadfast is that Queen Mālikā.”
SC 43When the monks heard what the Buddha taught, they rejoiced and approved of it.