Điều gì là thần thông? Thần thông có bao nhiêu loại? có bao nhiêu lãnh vực? có bao nhiêu cơ sở? có bao nhiêu căn bản? có bao nhiêu cội nguồn?
Điều gì là thần thông? Theo ý nghĩa thành tựu là thần thông.
Thần thông có bao nhiêu loại? Thần thông có mười loại.
Thần thông có bao nhiêu lãnh vực? Thần thông có bốn lãnh vực, có bốn cơ sở, có tám căn bản, có mười sáu cội nguồn.
Mười loại thần thông gì? Thần thông do chú nguyện, thần thông do biến hóa, thần thông do ý tạo thành, thần thông do sự can thiệp của trí, thần thông do sự can thiệp của định, thần thông thuộc về bậc Thánh, thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp, thần thông của người có phước báu, thần thông do chú thuật, thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp.
Bốn lãnh vực gì của thần thông? Sơ thiền là lãnh vực sanh lên do viễn ly, nhị thiền là lãnh vực của hỷ và lạc, tam thiền là lãnh vực của xả và lạc, tứ thiền là lãnh vực của không khổ không lạc. Bốn lãnh vực này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Bốn cơ sở gì của thần thông? Ở đây vị tỳ khưu tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tâm và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Bốn cơ sở này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, tự tín về thần thông.
Tám căn bản gì của thần thông? Nếu do ước muốn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) ước muốn không phải là định, định không phải là ước muốn; ước muốn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tinh tấn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tinh tấn không phải là định, định không phải là tinh tấn; tinh tấn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tâm, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tâm không phải là định, định không phải là tâm; tâm là điều khác, định là điều khác. Nếu do thẩm xét, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) thẩm xét không phải là định, định không phải là thẩm xét; thẩm xét là điều khác, định là điều khác. Tám căn bản này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Mười sáu cội nguồn gì của thần thông? ‘Không bị trì trệ, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Không bị hưng phấn, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Không quá chăm chú, tâm không động bởi tham ái’ là bất động. ‘Không xua đuổi, tâm không động bởi sân độc’ là bất động. ‘Không lệ thuộc, tâm không động bởi kiến’ là bất động. ‘Không gắn bó, tâm không động bởi ước muốn và tham ái’ là bất động. ‘Được phóng thích, tâm không động bởi ái dục’ là bất động. ‘Thoát khỏi ràng buộc, tâm không động bởi phiền não’ là bất động. ‘Được thoát khỏi chướng ngại, tâm không động bởi chướng ngại phiền não’ là bất động. ‘Đạt đến trạng thái chuyên nhất, tâm không động bởi các phiền não có bản chất khác biệt’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi đức tin, tâm không động bởi không có đức tin’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tinh tấn, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi niệm, tâm không động bởi buông lung’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi định, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tuệ, tâm không động bởi vô minh’ là bất động. ‘Đạt đến ánh sáng, tâm không động bởi bóng tối vô minh’ là bất động. Mười sáu cội nguồn này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Thần thông gì do chú nguyện? Ở đây, vị tỳ khưu kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: chỉ là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế, bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.
Ở đây: ở quan điểm này, ở sự mong muốn này, ở khuynh hướng này, ở sự chọn lọc này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở học thuyết này, ở Phạm hạnh này, ở lời dạy này của bậc Đạo Sư; vì thế được nói rằng: “Ở đây.”
Vị tỳ khưu: vị tỳ khưu là phàm nhân hoàn thiện, hoặc là vị Hữu Học, hoặc là vị A-la-hán có pháp không thể thay đổi.
Kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: là kinh nghiệm thể loại thần thông có cách thể hiện khác biệt.
Chỉ là một hóa thành nhiều: Bình thường là một, hướng tâm đến nhiều, hoặc hướng tâm đến một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là nhiều” và trở thành nhiều. Giống như đại đức Cūḷapanthaka chỉ là một hóa thành nhiều; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, chỉ là một hóa thành nhiều.
Là nhiều hóa thành một: Bình thường là nhiều, hướng tâm đến một. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là một” và trở thành một. Giống như đại đức Cullapanthaka là nhiều hóa thành một; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, là nhiều hóa thành một.
Hiện ra: là không bị ngăn che, không bị che đậy bởi bất cứ vật gì, được mở ra, được hiển hiện.
Biến mất: là bị ngăn che, bị che đậy bởi bất cứ vật gì, bị đóng lại, bị lật úp lại.
Đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục hư không một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến việc xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là hư không” và trở thành hư không. (Vị ấy) đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, ở chỗ không bị ngăn che, không bị che đậy bất cứ vật gì, đi không bị ngăn trở; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không.
Trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục nước một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến đất. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là nước” và trở thành nước. Vị ấy trồi lên và chìm xuống vào trong đất. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, trồi lên và chìm vào trong nước; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước.
Đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến nước. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi ở trên đất mà (đất) không bị tách ra; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra như là ở trên đất.
Di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến hư không. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi tới lui ở trên đất, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống;
tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống cũng như loài chim có cánh.
Bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế: Ở đây, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, hưóng tâm đến mặt trăng và mặt trời. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là ở trong tầm tay” và trở thành ở trong tầm tay. Vị ấy, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào bất cứ vật gì có hình thể ở trong tầm tay; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời.
Bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên: Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên, dầu xa chú nguyện là gần rằng: “Hãy là gần” và trở thành gần, dầu gần chú nguyện thành xa rằng: “Hãy là xa” và trở thành xa, dầu nhiều chú nguyện thành ít rằng: “Hãy là ít” và trở thành ít, dầu ít chú nguyện thành nhiều rằng: “Hãy là nhiều” và trở thành nhiều, nhìn thấy hình dáng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhãn, nghe được tiếng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhĩ, nhận biết tâm của vị Phạm Thiên ấy bằng trí biết được tâm của người khác. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, chú nguyện tâm theo năng lực của thân. Sau khi hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, sau khi chú nguyện tâm theo năng lực của thân, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, chú nguyện thân theo năng lực của tâm. Sau khi hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, sau khi chú nguyện thân theo năng lực của tâm, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy. Vị ấy làm ra hình thể được tạo thành bởi ý có tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh ở phía trước vị Phạm Thiên ấy. Nếu vị có thần thông ấy đi kinh hành, hình biến hóa (của vị ấy) cũng đi kinh hành ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng lại, hình biến hóa cũng đứng lại ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy ngồi xuống, hình biến hóa cũng ngồi xuống ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy nằm, hình biến hóa cũng nằm ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phun khói, hình biến hóa cũng phun khói ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phát sáng, hình biến hóa cũng phát sáng ở nơi ấy.
Nếu vị có thần thông ấy thuyết Pháp, hình biến hóa cũng thuyết Pháp ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy trả lời khi được hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng trả lời khi được hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy, hình biến hóa cũng đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy ở nơi ấy. Vị có thần thông ấy làm bất cứ việc gì, hình biến hóa (của vị ấy) cũng làm chính ngay việc ấy. Đây là thần thông do chú nguyện.
Thần thông do biến hóa là gì? Vị Thinh Văn của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác Sikhī tên là Abhibhū đứng ở cõi Phạm Thiên đã dùng giọng nói thông báo đến một ngàn cõi thế giới. Vị ấy đã thuyết Pháp với thân được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với thân không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân dưới được nhìn thấy với nửa phần thân trên không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân trên được nhìn thấy với nửa phần thân dưới không được nhìn thấy. Vị ấy rời bỏ hình dạng bình thường và phô bày hình dạng của thiếu niên, hoặc phô bày hình dạng của loài rồng, hoặc phô bày hình dạng của loài nhân điểu, hoặc phô bày hình dạng của loài dạ-xoa, hoặc phô bày hình dạng của vị Thiên Vương, hoặc phô bày hình dạng của vị thiên nhân, hoặc phô bày hình dạng của Phạm Thiên, hoặc phô bày hình dạng của biển cả, hoặc phô bày hình dạng của ngọn núi, hoặc phô bày hình dạng của khu rừng, hoặc phô bày hình dạng của loài sư tử, hoặc phô bày hình dạng của loài cọp, hoặc phô bày hình dạng của loài beo, hoặc phô bày hình dạng của loài voi, hoặc phô bày hình dạng của loài ngựa, hoặc phô bày hình dạng của xe kéo, hoặc phô bày hình dạng của người lính, hoặc phô bày hình dạng của đoàn quân nhiều binh chủng. Đây là thần thông do biến hóa.
Thần thông do ý tạo thành là gì? Ở đây, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Cũng giống như người đàn ông rút ra sợi rơm từ cọng cỏ muñja. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là cọng cỏ muñja, đây là sợi rơm. Cọng cỏ muñja là khác, sợi rơm là khác. Nhưng chính sợi rơm được rút ra từ cọng cỏ muñja.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể rút ra thanh gươm từ vỏ bọc. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là thanh gươm, đây là vỏ bọc. Thanh gươm là khác, vỏ bọc là khác. Nhưng chính thanh gươm được rút ra từ vỏ bọc.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể tuốt ra con rắn từ lớp da. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là con rắn, đây là lớp da. Con rắn là khác, lớp da là khác. Nhưng chính con rắn được tuốt ra từ lớp da;” tương tợ như thế, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Đây là thần thông do ý tạo thành.
Thần thông do sự can thiệp của trí là gì? ‘Do sự quán xét về vô thường, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. ‘Do sự quán xét về khổ não, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc … ‘Do sự quán xét về vô ngã, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã … ‘Do sự quán xét về nhàm chán, ý nghĩa dứt bỏ sự vui thích … ‘Do sự quán xét về ly tham ái, ý nghĩa dứt bỏ tham ái … ‘Do sự quán xét về diệt tận, ý nghĩa dứt bỏ nhân sanh khởi … ‘Do sự quán xét về từ bỏ, ý nghĩa dứt bỏ sự nắm giữ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bakkula là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Saṅkicca là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bhūtapāla là do sự can thiệp của trí. Đây là thần thông do sự can thiệp của trí.
Thần thông do sự can thiệp của định là gì ‘Do sơ thiền, ý nghĩa dứt bỏ các pháp ngăn che được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do nhị thiền, ý nghĩa dứt bỏ tầm tứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do tam thiền, ý nghĩa dứt bỏ hỷ được thành tựu’ … ‘Do tứ thiền, ý nghĩa dứt bỏ lạc và khổ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt không vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về khác biệt được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sārī-putta là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sañjīva là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Khāṇukoṇḍañña là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Uttarā là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Sāmāvatī là do sự can thiệp của định. Đây là thần thông do sự can thiệp của định.
Thần thông thuộc về bậc Thánh là gì? Ở đây, vị tỳ khưu nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả ta có thể an trú (vào hai vật ấy) có niệm và có sự nhận biết rõ rệt,” rồi với trạng thái xả (vị ấy) an trú vào nơi ấy, có niệm và có sự nhận biết rõ rệt.
An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không được mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không mong muốn và đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu, sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Sau khi nghe thinh (âm thanh) bằng tai … Sau khi ngửi khí (mùi) bằng mũi … Sau khi nếm vị bằng lưỡi … Sau khi va chạm (cảnh) xúc bằng thân … Sau khi nhận thức pháp bằng ý, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) như thế. Đây là thần thông thuộc về bậc Thánh.
Thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp là gì? Là của tất cả các loài có cánh, là của tất cả chư thiên, là của một số thuộc nhân loại, là của một số thuộc hàng đọa xứ. Đây là thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp.
Thần thông của người có phước báu là gì? Đức chuyển luân vương đi trên không trung cùng với đoàn quân bốn loại binh chủng thậm chí tính luôn cả những kẻ giữ ngựa chăn trâu. Thần thông của gia chủ Jotika là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Jaṭila là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Meṇḍaka là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Ghosita là của người có phước báu. Đây là thần thông của người có phước báu.
Thần thông do chú thuật là gì? Sau khi nói lẩm nhẩm về chú thuật, những người rành rẽ về chú thuật đi trên không trung, phô bày voi, phô bày ngựa, phô bày xe kéo, phô bày người lính, phô bày đoàn quân nhiều binh chủng ở trên hư không bầu trời. Đây là thần thông do chú thuật.
Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên nỗ lực đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) thế nào? ‘Do thoát ly, ý nghĩa dứt bỏ ước muốn trong các dục được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. ‘Do không sân độc, ý nghĩa dứt bỏ sân độc được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, ý nghĩa dứt bỏ toàn bộ phiền não được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) như thế. Đây là mười loại thần thông.
Phần Giảng về Thần Thông được đầy đủ.
Kā iddhi?
Kati iddhiyo?
Iddhiyā kati bhūmiyo, kati pādā, kati padāni, kati mūlāni?
Kā iddhīti?
Ijjhanaṭṭhena iddhi.
Kati iddhiyoti?
Dasa iddhiyo.
Iddhiyā kati bhūmiyoti?
Iddhiyā catasso bhūmiyo, cattāro pādā, aṭṭha padāni, soḷasa mūlāni.
Katamā dasa iddhiyo?
Adhiṭṭhānā iddhi, vikubbanā iddhi, manomayā iddhi, ñāṇavipphārā iddhi, samādhivipphārā iddhi, ariyā iddhi, kammavipākajā iddhi, puññavato iddhi, vijjāmayā iddhi, tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Iddhiyā katamā catasso bhūmiyo?
Vivekajābhūmi paṭhamaṁ jhānaṁ, pītisukhabhūmi dutiyaṁ jhānaṁ, upekkhāsukhabhūmi tatiyaṁ jhānaṁ, adukkhamasukhābhūmi catutthaṁ jhānaṁ.
Iddhiyā imā catasso bhūmiyo iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katame cattāro pādā?
Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti.
Iddhiyā ime cattāro pādā iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katamāni aṭṭha padāni?
Chandañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Chando na samādhi, samādhi na chando.
Añño chando, añño samādhi.
Vīriyañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Vīriyaṁ na samādhi, samādhi na vīriyaṁ.
Aññaṁ vīriyaṁ, añño samādhi.
Cittañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Cittaṁ na samādhi, samādhi na cittaṁ.
Aññaṁ cittaṁ, añño samādhi.
Vīmaṁsañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Vīmaṁsā na samādhi, samādhi na vīmaṁsā.
Aññā vīmaṁsā, añño samādhi.
Iddhiyā imāni aṭṭha padāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katamāni soḷasa mūlāni?
Anonataṁ cittaṁ kosajje na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anunnataṁ cittaṁ uddhacce na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anabhinataṁ cittaṁ rāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anapanataṁ cittaṁ byāpāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anissitaṁ cittaṁ diṭṭhiyā na iñjatīti—āneñjaṁ.
Appaṭibaddhaṁ cittaṁ chandarāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vippamuttaṁ cittaṁ kāmarāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Visaññuttaṁ cittaṁ kilese na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vimariyādikataṁ cittaṁ kilesamariyāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Ekattagataṁ cittaṁ nānattakilesehi na iñjatīti—āneñjaṁ.
Saddhāya pariggahitaṁ cittaṁ assaddhiye na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vīriyena pariggahitaṁ cittaṁ kosajje na iñjatīti—āneñjaṁ.
Satiyā pariggahitaṁ cittaṁ pamāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Samādhinā pariggahitaṁ cittaṁ uddhacce na iñjatīti—āneñjaṁ.
Paññāya pariggahitaṁ cittaṁ avijjāya na iñjatīti—āneñjaṁ.
Obhāsagataṁ cittaṁ avijjandhakāre na iñjatīti—āneñjaṁ.
Iddhiyā imāni soḷasa mūlāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
3.2.1. Dasaiddhiniddesa
Katamā adhiṭṭhānā iddhi?
Idha bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—
ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti;
āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ;
tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse;
pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake;
udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ;
ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo;
imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati;
yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetīti.
Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṁ ādāye imasmiṁ dhamme imasmiṁ vinaye imasmiṁ dhammavinaye imasmiṁ pāvacane imasmiṁ brahmacariye imasmiṁ satthusāsane.
Tena vuccati—
“idhā”ti.
Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā hoti bhikkhu sekho vā arahā vā akuppadhammo.
Anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhotīti nānappakāraṁ iddhividhaṁ paccanubhoti.
Ekopi hutvā bahudhā hotīti pakatiyā eko bahukaṁ āvajjati, sataṁ vā sahassaṁ vā satasahassaṁ vā āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“bahulo homī”ti.
Bahulo hoti.
Yathāyasmā cūḷapanthako ekopi hutvā bahudhā hoti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto ekopi hutvā bahudhā hoti.
Bahudhāpi hutvā eko hotīti pakatiyā bahuko ekaṁ āvajjati;
āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“eko homī”ti.
Eko hoti.
Yathāyasmā cūḷapanthako bahudhāpi hutvā eko hoti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto bahudhāpi hutvā eko hoti.
Āvibhāvanti kenaci anāvaṭaṁ hoti appaṭicchannaṁ vivaṭaṁ pākaṭaṁ.
Tirobhāvanti kenaci āvaṭaṁ hoti paṭicchannaṁ pihitaṁ paṭikujjitaṁ.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāseti pakatiyā ākāsakasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“ākāso hotū”ti.
Ākāso hoti.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kenaci anāvaṭe aparikkhitte asajjamānā gacchanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse.
Pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udaketi pakatiyā āpokasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Pathaviṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“udakaṁ hotū”ti.
Udakaṁ hoti.
So pathaviyā ummujjanimujjaṁ karoti.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto udake ummujjanimujjaṁ karonti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto pathaviyā ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake.
Udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyanti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Udakaṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“pathavī hotū”ti.
Pathavī hoti.
So abhijjamāne udake gacchati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto abhijjamānāya pathaviyā gacchanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto abhijjamāne udake gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ.
Ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇoti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Ākāsaṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“pathavī hotū”ti.
Pathavī hoti.
So ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto pathaviyā caṅkamantipi tiṭṭhantipi nisīdantipi seyyampi kappenti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti, seyyathāpi pakkhī sakuṇo.
Imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjatīti idha so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“hatthapāse hotū”ti.
Hatthapāse hoti.
So nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kiñcideva rūpagataṁ hatthapāse āmasanti parāmasanti parimajjanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetīti sace so iddhimā cetovasippatto brahmalokaṁ gantukāmo hoti, dūrepi santike adhiṭṭhāti—
“santike hotū”ti.
Santike hoti.
Santikepi dūre adhiṭṭhāti—
“dūre hotū”ti.
Dūre hoti.
Bahukampi thokaṁ adhiṭṭhāti—
“thokaṁ hotū”ti.
Thokaṁ hoti.
Thokampi bahukaṁ adhiṭṭhāti—
“bahukaṁ hotū”ti.
Bahukaṁ hoti.
Dibbena cakkhunā tassa brahmuno rūpaṁ passati.
Dibbāya sotadhātuyā tassa brahmuno saddaṁ suṇāti.
Cetopariyañāṇena tassa brahmuno cittaṁ pajānāti.
Sace so iddhimā cetovasippatto dissamānena kāyena brahmalokaṁ gantukāmo hoti, kāyavasena cittaṁ pariṇāmeti, kāyavasena cittaṁ adhiṭṭhāti.
Kāyavasena cittaṁ pariṇāmetvā, kāyavasena cittaṁ adhiṭṭhahitvā, sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā dissamānena kāyena brahmalokaṁ gacchati.
Sace so iddhimā cetovasippatto adissamānena kāyena brahmalokaṁ gantukāmo hoti, cittavasena kāyaṁ pariṇāmeti, cittavasena kāyaṁ adhiṭṭhāti.
Cittavasena kāyaṁ pariṇāmetvā, cittavasena kāyaṁ adhiṭṭhahitvā sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā adissamānena kāyena brahmalokaṁ gacchati.
So tassa brahmuno purato rūpiṁ abhinimmināti manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Sace so iddhimā caṅkamati, nimmitopi tattha caṅkamati.
Sace so iddhimā tiṭṭhati, nimmitopi tattha tiṭṭhati.
Sace so iddhimā nisīdati, nimmitopi tattha nisīdati.
Sace so iddhimā seyyaṁ kappeti, nimmitopi tattha seyyaṁ kappeti.
Sace so iddhimā dhūmāyati, nimmitopi tattha dhūmāyati.
Sace so iddhimā pajjalati, nimmitopi tattha pajjalati.
Sace so iddhimā dhammaṁ bhāsati, nimmitopi tattha dhammaṁ bhāsati.
Sace so iddhimā pañhaṁ pucchati, nimmitopi tattha pañhaṁ pucchati.
Sace so iddhimā pañhaṁ puṭṭho visajjeti, nimmitopi tattha pañhaṁ puṭṭho visajjeti.
Sace so iddhimā tena brahmunā saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati, nimmitopi tattha tena brahmunā saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati.
Yaññadeva so iddhimā karoti, taṁtadeva hi so nimmito karotīti—
ayaṁ adhiṭṭhānā iddhi.
Katamā vikubbanā iddhi?
Sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesi.
So dissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi;
adissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi;
dissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena adissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi.
Dissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena, adissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi.
So pakativaṇṇaṁ vijahitvā kumārakavaṇṇaṁ vā dasseti, nāgavaṇṇaṁ vā dasseti, supaṇṇavaṇṇaṁ vā dasseti, yakkhavaṇṇaṁ vā dasseti, indavaṇṇaṁ vā dasseti, devavaṇṇaṁ vā dasseti, brahmavaṇṇaṁ vā dasseti, samuddavaṇṇaṁ vā dasseti, pabbatavaṇṇaṁ vā dasseti, vanavaṇṇaṁ vā dasseti, sīhavaṇṇaṁ vā dasseti, byagghavaṇṇaṁ vā dasseti, dīpivaṇṇaṁ vā dasseti, hatthimpi dasseti, assampi dasseti, rathampi dasseti, pattimpi dasseti, vividhampi senābyūhaṁ dassetīti—
ayaṁ vikubbanā iddhi.
Katamā manomayā iddhi?
Idha bhikkhu imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Seyyathāpi puriso muñjamhā īsikaṁ pavāheyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ muñjo, ayaṁ īsikā.
Añño muñjo, aññā īsikā.
Muñjamhā tveva īsikā pavāḷhā”ti.
Seyyathā vā pana puriso asiṁ kosiyā pavāheyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ asi, ayaṁ kosi.
Añño asi, aññā kosi.
Kosiyā tveva asi pavāḷho”ti.
Seyyathā vā pana puriso ahiṁ karaṇḍā uddhareyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ ahi, ayaṁ karaṇḍo.
Añño ahi, añño karaṇḍo.
Karaṇḍā tveva ahi ubbhato”ti.
Evamevaṁ bhikkhu imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Ayaṁ manomayā iddhi.
Katamā ñāṇavipphārā iddhi?
Aniccānupassanāya niccasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti—
ñāṇavipphārā iddhi.
Dukkhānupassanāya sukhasaññāya …
anattānupassanāya attasaññāya …
nibbidānupassanāya nandiyā …
virāgānupassanāya rāgassa …
nirodhānupassanāya samudayassa …
paṭinissaggānupassanāya ādānassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
ñāṇavipphārā iddhi.
Āyasmato bākulassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato saṅkiccassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato bhūtapālassa ñāṇavipphārā iddhi.
Ayaṁ ñāṇavipphārā iddhi.
Katamā samādhivipphārā iddhi?
Paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Dutiyena jhānena vitakkavicārānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Tatiyena jhānena pītiyā pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
catutthena jhānena sukhadukkhānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Āyasmato sāriputtassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato sañjīvassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato khāṇukoṇḍaññassa samādhivipphārā iddhi, uttarāya upāsikāya samādhivipphārā iddhi, sāmāvatiyā upāsikāya samādhivipphārā iddhi.
Ayaṁ samādhivipphārā iddhi.
Katamā ariyā iddhi?
Idha bhikkhu sace ākaṅkhati—
“paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan”ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan”ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan”ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan”ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno”ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
Kathaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati?
Aniṭṭhasmiṁ vatthusmiṁ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṁharati.
Evaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati?
Iṭṭhasmiṁ vatthusmiṁ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṁharati.
Evaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati?
Aniṭṭhasmiñca iṭṭhasmiñca vatthusmiṁ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṁharati.
Evaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati?
Iṭṭhasmiñca aniṭṭhasmiñca vatthusmiṁ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṁharati.
Evaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno?
Idha bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Evaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno.
Ayaṁ ariyā iddhi.
Katamā kammavipākajā iddhi?
Sabbesaṁ pakkhīnaṁ, sabbesaṁ devānaṁ, ekaccānaṁ manussānaṁ, ekaccānaṁ vinipātikānaṁ.
Ayaṁ kammavipākajā iddhi.
Katamā puññavato iddhi?
Rājā cakkavattī vehāsaṁ gacchati saddhiṁ caturaṅginiyā senāya, antamaso assabandhagopurise upādāya.
Jotikassa gahapatissa puññavato iddhi, jaṭilassa gahapatissa puññavato iddhi, meṇḍakassa gahapatissa puññavato iddhi, ghositassa gahapatissa puññavato iddhi, pañcannaṁ mahāpuññānaṁ puññavato iddhi.
Ayaṁ puññavato iddhi.
Katamā vijjāmayā iddhi?
Vijjādharā vijjaṁ parijappetvā vehāsaṁ gacchanti, ākāse antalikkhe hatthimpi dassenti, assampi dassenti, rathampi dassenti, pattimpi dassenti, vividhampi senābyūhaṁ dassenti.
Ayaṁ vijjāmayā iddhi.
Kathaṁ tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi?
Nekkhammena kāmacchandassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Abyāpādena byāpādassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi …pe…
arahattamaggena sabbakilesānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Evaṁ tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Imā dasa iddhiyo.
Iddhikathā niṭṭhitā.
PTS vp En 3771. What is success?
How many kinds of success are there?
How many planes has success? How many bases?
How many steps?
How many roots?
2. What is success? Success is in the sense of succeeding.
3. How many kinds of success are there? There are ten kinds of success; and success has four planes, and four bases, and eight steps, and sixteen roots.
4. What are the ten kinds of success? (1) Success as decision, (2) success as transformation, (3) success as the mind-made [body], (4) success by intervention of knowledge, (5) success by intervention of concentration, (6) Noble Ones' success, (7) success born of action-result, (8) success of the meritorious, (9) success through the sciences, (10) success in the sense of succeeding with a task right for the particular occasion.
5. What are the four planes of success? They are the first jhana as the plane born of seclusion, the second jhana as the plane of happiness and pleasure, the third jhana as the plane of equanimity and pleasure and the fourth jhana as the plane of neither-pain-nor-pleasure. These four planes of success lead to the attaining of success, to the obtaining of success, to the transformation due to success, to the majesty of success, to the mastery of success, to assurance in success.
6. What are the four bases for success? Here a bhikkhu develops the basis for success that possesses both concentration due to zeal and the volitional formation to endeavour; he develops the basis for success that possesses both concentration due to energy and the volitional-formation to endeavour, he develops the basis for success that possesses both concentration due to cognizance and the volitional-formation to endeavour, he develops the basis for success that possesses both concentration due to inquiry and the volitional-formation to endeavour. These four bases for success lead to the attaining of success, … to assurance in success.
7. What are the eight steps? If a bhikkhu obtains concentration, obtains unification of cognizance, supported by zeal, the zeal is not the concentration, and the concentration is not the zeal; the zeal is one and the concentration is another. If a bhikkhu obtains concentration, obtains unification of cognizance, supported by energy, the energy is not the PTS vp En 378 concentration, and the concentration is not the energy; the energy is one and the concentration is another. If a bhikkhu obtains concentration, obtains unification of cognizance, supported by cognizance, the cognizance is not the concentration, and the concentration is not the cognizance; the cognizance is one and the concentration is another. If a bhikkhu obtains concentration, obtains unification of cognizance supported by inquiry, the inquiry is not the concentration, and the concentration is not the inquiry; the inquiry is one and the concentration is another. These eight steps to success lead to the attaining of success, … to assurance in success.
8. What are the sixteen roots of success? Undejected cognizance is not perturbed by indolence, thus it is unperturbed. Unelated cognizance is not perturbed by agitation, thus it is unperturbed. Unattracted cognizance is not perturbed by greed, thus it is unperturbed. Unrepelled cognizance is not perturbed by ill-will, thus it is unperturbed. Independent cognizance is not perturbed by [wrong] view, thus it is unperturbed. Untrammelled cognizance is not perturbed by zeal and greed, thus it is unperturbed. Liberated cognizance is not perturbed by greed for sensual-desires, thus it is unperturbed. Unassociated cognizance is not perturbed by defilement, thus it is unperturbed. Cognizance rid of barriers is not perturbed by the barrier of defilement, thus it is unperturbed. Unified cognizance is not perturbed by the defilement of difference, thus it is unperturbed. Cognizance embraced by faith is not perturbed by faithlessness, thus it is unperturbed. Cognizance embraced by energy is not perturbed by indolence, thus it is unperturbed. Cognizance embraced by mindfulness is not perturbed by negligence, thus it is unperturbed. Cognizance embraced by concentration is not perturbed by agitation, thus it is unperturbed. Cognizance embraced by understanding is not perturbed by ignorance, thus it is unperturbed. Illuminated cognizance is not perturbed by the darkness of ignorance, thus it is unperturbed. These sixteen roots of success lead to the attaining of success, … to assurance in success.
9. (1) What is success as decision?
Here a bhikkhu enjoys the various kinds of success (supernormal powers); having been one, he becomes many, having been many, he becomes one; he appears and vanishes; he goes unhindered through walls, through enclosures, through mountains, as though in open space; he dives in and out of the earth as though in water; he goes on unbroken water as though on earth; seated cross-legged he travels in space like a winged bird; with his hand he touches and strokes the moon and sun so mighty and powerful; he wields bodily mastery even as far as the Brahmā World.
PTS vp En 37910. Here: in this field of view, in this field of choice, in this field of preference, in this field of selection, in this True Idea, in this Discipline (vinaya), in this field of True Idea and Discipline, in this doctrine, in this Good Life, in this Master's Dispensation. Hence “here” is said.
11. A bhikkhu: a bhikkhu is a magnanimous ordinary man or an Initiate or an Arahant who has reached the unassailable idea.
12. Enjoys the various kinds of success: enjoys the different aspects of success.
13. Having been one, he becomes many: naturally one he adverts to [himself as] many or a hundred or a thousand or a hundred thousand; having adverted, he decides with knowledge “Let me be many”. He becomes many. As the venerable Cūḷa Panthaka having been one, becomes many, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mind mastery having been one, becomes many.
14. Having been many, he becomes one: naturally many he adverts to [himself as] one; having adverted he decides with knowledge “Let me be one”. He becomes one. As the venerable Cūḷa Panthaka having been many, becomes one, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mind mastery having been many, becomes one.
15. He appears: he is not veiled by something, he is not hidden, he is revealed, he is evident.
16. He vanishes: he is veiled by something, he is hidden, he is shut away, he is enclosed.
17. He goes unhindered through walls, through enclosures, through mountains, as though in open space: naturally he is an obtainer of the space kasina attainment. He adverts: “Through the wall, through the enclosure, through the mountain”; having adverted, he decides with knowledge “Let there be space”. There is space. He goes unhindered through the wall, through the enclosure, through the mountain. Just as men naturally not possessed of success (supernormal power) go unhindered where there is no obstruction or enclosure, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will goes unhindered through the wall, through the enclosure, through the mountain, as though in open space.
18. He dives in and out of the earth as though in water: he is naturally an obtainer of the water kasina attainment. He adverts to earth. Having adverted, he decides with knowledge “Let there be water”. There is water. He does the diving in and out of the earth. Just as men naturally not possessed of success (supernormal power) do diving in and out of water, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will does the diving in and out of the earth as though in water.
19. He goes on unbroken water as though on earth: he is naturally an PTS vp En 380 obtainer of the earth kasina attainment. He adverts to water. Having adverted, he decides with knowledge “Let there be earth”. There is earth. He goes on unbroken water. Just as men naturally not possessed of success (supernormal power) go on unbroken earth, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will goes on unbroken water as if on earth.
20. Seated cross-legged he travels in space like a winged bird: he is naturally an obtainer of the earth kasina attainment. He adverts to space. Having adverted, he decides with knowledge “Let there be earth”. There is earth. He travels (walks), stands, sits, and lies down, in space, in the sky. Just as men naturally not possessed of success (supernormal power) travel (walk), stand, sit, and lie down, on earth, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will travels (walks), stands, sits, and lies down, in space, in the sky, like a winged bird.
21. With his hand he touches and strokes the moon and sun so mighty and powerful: here this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will, while he is sitting or lying down, he adverts to the moon and sun. Having adverted, he decides with knowledge “Let it be within hand's reach”. It is within hand's reach. Sitting or lying down, with his hand he touches, makes contact with, strokes, the moon and sun. Just as men naturally not possessed of success (supernormal power) touch, make contact with, stroke, some material object within hand's reach, so too this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will, either sitting or lying down, with his hand touches, makes contact with, strokes, the moon and sun.
22. He wields bodily mastery even as far as the Brahmā World: if this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will wants to go to the Brahmā World, though far, he decides upon nearness “Let it be near”. It becomes near. Though near, he decides upon farness “Let it be far”. It becomes far. Though many, he decides upon few “Let there be few”. There are few. Though few, he decides upon many “Let there be many”. There are many. With the divine eye he sees the visible aspect (object) of that Brahmā; with the divine ear principle he hears the sound of that Brahmā; with the knowledge of penetration of will he understands that Brahmā's cognizance. If this possessor of success (supernormal power) attained to mastery of will wants to go to the Brahmā World with a visible body, he converts his cognizance to accord with his body, he decides his cognizance to accord with his body. Having converted his cognizance to accord with his body, decided his cognizance to accord with his body, he arrives at easy perception and quick perception, and he goes to the Brahmā World with a visible body. If this possessor of success PTS vp En 381 (supernormal power) attained to mastery of will wants to go to the Brahmā World with an invisible body, he converts his body to accord with his cognizance, decides his body to accord with his cognizance. Having converted his body to accord with his cognizance, decided his body to accord with his cognizance, he arrives at easy perception and quick perception, and he goes to the Brahmā World with an invisible body. He creates materiality before that Brahmā, mind-made, with all its limbs, lacking no faculty. If that possessor of success (supernormal power) walks up and down, the creation walks up and down there too. If that possessor of success stands, the creation stands there too. If that possessor of success sits, the creation sits there too. If that possessor of success lies down, the creation lies down there too. If that possessor of success produces smoke, the creation produces smoke there too. If that possessor of success produces flames, that creation produces flames there too. If that possessor of success preaches the True Idea, the creation preaches the True Idea there too. If that possessor of success asks a question, the creation asks a question there too. If that possessor of success, being asked a question, answers, the creation, being asked a question there, answers too. If that possessor of success stands with that Brahmā, converses, enters into communication with that Brahmā, the creation stands with that Brahmā there too, converses, enters into communication with that Brahmā there too. Whatever that possessor of success does, the creation does the same thing.
This is success as decision.
23. (2) What is success as transformation (versatility)? The Blessed One Sikhin, accomplished and fully enlightened, has a disciple named Abhibhū. Standing in the Brahmā World he can communicate by voice with a ten-thousand-fold world principle. He preaches the True Idea with a visible body, and he preaches the True Idea with an invisible body, and he preaches the True Idea with the lower half of his body visible and the upper half invisible, and he preaches the True Idea with the upper half of his body visible and the lower half invisible. He abandons his normal appearance and shows the appearance of a boy, or the appearance of a Nāga (serpent), or the appearance of a Supaṇṇa (winged demon), or the appearance of a spirit, or the appearance of the Ruler [of Gods], or the appearance of some [other sensual-sphere] deity, or the appearance of a Brahmā, or the appearance of the sea, or the appearance of a mountain, or the appearance of a forest, or the appearance of a lion, or the appearance of a tiger, or the appearance of a leopard, or the appearance of an elephant, or he shows a horse, or he shows a chariot, or he shows a foot soldier, or he shows a manifold military array. This is success as transformation (versatility).
24. (3) What is success as the mind-made [body]? Here a bhikkhu PTS vp En 382 creates out of this body another body possessing materiality, mind-made, with all its limbs, lacking no faculty. Just as though a man pulled out a reed from its sheath and thought thus “This is the sheath, this is the reed; the sheath is one, the reed is another, it was from the sheath that the reed was pulled out”, or just as though a man pulled out a sword from its scabbard and thought thus “This is the sword, this is the scabbard; the sword is one, the scabbard is another; it is from the scabbard that the sword was pulled out”, or just as though a man pulled out a snake from its slough and thought “This is the snake, this is the slough; the snake is one, the slough is another; it is from the slough that the snake was pulled out”, so too the bhikkhu creates out of this body another body possessing materiality, mind-made, with all its limbs, lacking no faculty. This is success as the mind-made [body].
25. (4) What is success by intervention of knowledge? The meaning of abandoning perception of permanence succeeds through contemplation of impermanence, thus it is success by intervention of knowledge. The meaning of abandoning perception of pleasure succeeds through contemplation of pain, … The meaning of abandoning perception of self succeeds through contemplation of not self, … The meaning of abandoning delighting succeeds through contemplation of dispassion, … The meaning of abandoning greed succeeds through contemplation of fading away, … The meaning of abandoning origin succeeds through contemplation of cessation, … The meaning of abandoning grasping succeeds through contemplation of relinquishment, thus it is success by intervention of knowledge. There was success by intervention of knowledge in the venerable Bakkula. There was success by intervention of knowledge in the venerable Saṅkicca. There was success by intervention of knowledge in the venerable Bhūtapāla. This is success by intervention of knowledge.
26. (5) What is success by intervention of concentration? The meaning of abandoning the hindrances succeeds through the first jhana, thus it is success by intervention of concentration. The meaning of abandoning applied and sustained thought succeeds through the second jhana, thus it is success by intervention of concentration. The meaning of abandoning happiness succeeds through the third jhana, … The meaning of abandoning pleasure and pain succeeds through the fourth jhana, … The meaning of abandoning perception of materiality, perception of resistance, and perception of variety succeeds through the attainment of the base consisting of boundless space, … The meaning of abandoning perception of the base consisting of boundless space succeeds through the attainment of the base consisting of boundless consciousness, … The meaning of abandoning perception of the base consisting of boundless consciousness PTS vp En 383 succeeds through the attainment of the base consisting of nothingness, … The meaning of abandoning perception of the base consisting of nothingness succeeds through the attainment of the base consisting of neither perception nor non-perception, thus it is success by intervention of concentration. There was success by intervention of concentration in the venerable Sāriputta. There was success by intervention of concentration in the venerable Sañjīva. There was success by intervention of concentration in the venerable Khāṇukoṇḍañña. There was success by intervention of concentration in the laywoman devotee Uttarā. There was success by intervention of concentration in the laywoman devotee Sāmāvatī. This is success by intervention of concentration.
27. (6) What is Noble Ones' success? Here if a bhikkhu should wish (1) “May I abide perceiving the unrepulsive in the repulsive”, he abides perceiving the unrepulsive there. If he should wish (2) “May I abide perceiving the repulsive in the unrepulsive”, he abides perceiving the repulsive there. If he should wish (3) “May I abide perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive”, he abides perceiving the unrepulsive there. If he should wish (4) “May I abide perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive”, he abides perceiving the repulsive there. If he should wish (5) “Avoiding both [aspects] in the repulsive and the unrepulsive, may I abide in equanimity towards that, mindful and fully aware”, he abides in equanimity towards that, mindful and fully aware.
(1) How does he abide perceiving the unrepulsive in the repulsive? In the case of a disagreeable object he is intent upon it with loving-kindness, or he connects it with principles. That is how he abides perceiving the unrepulsive in the repulsive.
(2) How does he abide perceiving the repulsive in the unrepulsive? In the case of an agreeable object he is intent upon it as foul, or he connects it with impermanence. That is how he abides perceiving the repulsive in the unrepulsive.
(3) How does he abide perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive? In the case of a disagreeable and agreeable object he is intent upon it with loving kindness, or he connects it with principles. That is how he abides perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive.
(4) How does he abide perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive? In the case of an agreeable and disagreeable object he is intent upon it as foul, or he connects it with impermanence. That is how he abides perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive.
(5) How does he, avoiding both [aspects] in the repulsive and the unrepulsive, abide in equanimity towards that, mindful and fully aware? PTS vp En 384 Here a bhikkhu, on seeing a visible object with the eye, is neither glad nor sorry; he abides in equanimity, mindful and fully aware. On hearing a sound with the ear, … On smelling an odour with the nose, … On tasting a flavour with the tongue, … On touching a tangible object with the body, … On cognizing an idea with the mind, he is neither glad nor sorry; he abides in equanimity, mindful and fully aware. That is how he, avoiding both [aspects] in the repulsive and the unrepulsive, abides in equanimity towards that, mindful and fully aware.
This is the Noble Ones' success.
28. (7) What is success born of action-result? That in all winged birds, in all deities, in some human beings, in some inhabitants of states of deprivation, that is success born of action-result.
29. (8) What is success of the meritorious? The Wheel-Turning Monarch travels through the air with his fourfold army, even with his grooms and shepherds. The householder Jotika had the success of the meritorious. The householder Jaṭilaka had the success of the meritorious. The householder Ghosita had the success of the meritorious. The householder Meṇḍaka had the success of the meritorious. That of the five very meritorious is success of the meritorious. This is success of the meritorious.
30. (9) What is success through the sciences? Masters of the sciences, having pronounced their scientific spells, travel through the air, and in space in the sky they show an elephant, and they show a horse, and they show a chariot, and they show a foot soldier, and they show a manifold military array. This is success through the sciences.
31. (10) What is success in the sense of succeeding with a task right for the particular occasion? The meaning of abandoning zeal for sensual-desires succeeds through renunciation, thus it is success in the sense of succeeding with a task right for the particular occasion, … [and so on with the rest of the seven hindrances, four jhanas, four immaterial attainments, eighteen principal insights, and four paths, up to] … The meaning of abandoning all defilements succeeds through the arahant path, thus it is success in the sense of succeeding with a task right for the particular occasion. This is success in the sense of succeeding with a task right for the particular occasion.
End of Treatise on Success.
Điều gì là thần thông? Thần thông có bao nhiêu loại? có bao nhiêu lãnh vực? có bao nhiêu cơ sở? có bao nhiêu căn bản? có bao nhiêu cội nguồn?
Điều gì là thần thông? Theo ý nghĩa thành tựu là thần thông.
Thần thông có bao nhiêu loại? Thần thông có mười loại.
Thần thông có bao nhiêu lãnh vực? Thần thông có bốn lãnh vực, có bốn cơ sở, có tám căn bản, có mười sáu cội nguồn.
Mười loại thần thông gì? Thần thông do chú nguyện, thần thông do biến hóa, thần thông do ý tạo thành, thần thông do sự can thiệp của trí, thần thông do sự can thiệp của định, thần thông thuộc về bậc Thánh, thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp, thần thông của người có phước báu, thần thông do chú thuật, thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp.
Bốn lãnh vực gì của thần thông? Sơ thiền là lãnh vực sanh lên do viễn ly, nhị thiền là lãnh vực của hỷ và lạc, tam thiền là lãnh vực của xả và lạc, tứ thiền là lãnh vực của không khổ không lạc. Bốn lãnh vực này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Bốn cơ sở gì của thần thông? Ở đây vị tỳ khưu tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do ước muốn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tinh tấn và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do tâm và các tạo tác do nỗ lực, tu tập về nền tảng của thần thông hội đủ (các yếu tố) định do thẩm xét và các tạo tác do nỗ lực. Bốn cơ sở này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, tự tín về thần thông.
Tám căn bản gì của thần thông? Nếu do ước muốn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) ước muốn không phải là định, định không phải là ước muốn; ước muốn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tinh tấn, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tinh tấn không phải là định, định không phải là tinh tấn; tinh tấn là điều khác, định là điều khác. Nếu do tâm, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) tâm không phải là định, định không phải là tâm; tâm là điều khác, định là điều khác. Nếu do thẩm xét, vị tỳ khưu đạt được định, đạt được trạng thái chuyên nhất của tâm, (như vậy) thẩm xét không phải là định, định không phải là thẩm xét; thẩm xét là điều khác, định là điều khác. Tám căn bản này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Mười sáu cội nguồn gì của thần thông? ‘Không bị trì trệ, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Không bị hưng phấn, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Không quá chăm chú, tâm không động bởi tham ái’ là bất động. ‘Không xua đuổi, tâm không động bởi sân độc’ là bất động. ‘Không lệ thuộc, tâm không động bởi kiến’ là bất động. ‘Không gắn bó, tâm không động bởi ước muốn và tham ái’ là bất động. ‘Được phóng thích, tâm không động bởi ái dục’ là bất động. ‘Thoát khỏi ràng buộc, tâm không động bởi phiền não’ là bất động. ‘Được thoát khỏi chướng ngại, tâm không động bởi chướng ngại phiền não’ là bất động. ‘Đạt đến trạng thái chuyên nhất, tâm không động bởi các phiền não có bản chất khác biệt’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi đức tin, tâm không động bởi không có đức tin’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tinh tấn, tâm không động bởi biếng nhác’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi niệm, tâm không động bởi buông lung’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi định, tâm không động bởi phóng dật’ là bất động. ‘Được nắm giữ bởi tuệ, tâm không động bởi vô minh’ là bất động. ‘Đạt đến ánh sáng, tâm không động bởi bóng tối vô minh’ là bất động. Mười sáu cội nguồn này của thần thông đưa đến sự đạt được thần thông, sự thành đạt thần thông, sự thể hiện thần thông, sự biến hóa thần thông, sở trường về thần thông, sự tự tín về thần thông.
Thần thông gì do chú nguyện? Ở đây, vị tỳ khưu kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: chỉ là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước, đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất, di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh, bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế, bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên.
Ở đây: ở quan điểm này, ở sự mong muốn này, ở khuynh hướng này, ở sự chọn lọc này, ở Pháp này, ở Luật này, ở Pháp và Luật này, ở học thuyết này, ở Phạm hạnh này, ở lời dạy này của bậc Đạo Sư; vì thế được nói rằng: “Ở đây.”
Vị tỳ khưu: vị tỳ khưu là phàm nhân hoàn thiện, hoặc là vị Hữu Học, hoặc là vị A-la-hán có pháp không thể thay đổi.
Kinh nghiệm thần thông nhiều thể loại: là kinh nghiệm thể loại thần thông có cách thể hiện khác biệt.
Chỉ là một hóa thành nhiều: Bình thường là một, hướng tâm đến nhiều, hoặc hướng tâm đến một trăm, hoặc một ngàn, hoặc một trăm ngàn. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là nhiều” và trở thành nhiều. Giống như đại đức Cūḷapanthaka chỉ là một hóa thành nhiều; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, chỉ là một hóa thành nhiều.
Là nhiều hóa thành một: Bình thường là nhiều, hướng tâm đến một. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Ta hãy là một” và trở thành một. Giống như đại đức Cullapanthaka là nhiều hóa thành một; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt đến năng lực của ý, là nhiều hóa thành một.
Hiện ra: là không bị ngăn che, không bị che đậy bởi bất cứ vật gì, được mở ra, được hiển hiện.
Biến mất: là bị ngăn che, bị che đậy bởi bất cứ vật gì, bị đóng lại, bị lật úp lại.
Đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục hư không một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến việc xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là hư không” và trở thành hư không. (Vị ấy) đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, ở chỗ không bị ngăn che, không bị che đậy bất cứ vật gì, đi không bị ngăn trở; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi xuyên qua vách nhà, xuyên qua tường thành, xuyên qua núi non không bị ngăn trở như là ở khoảng không.
Trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục nước một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến đất. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là nước” và trở thành nước. Vị ấy trồi lên và chìm xuống vào trong đất. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, trồi lên và chìm vào trong nước; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, trồi lên và chìm xuống vào trong đất như là ở trong nước.
Đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến nước. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi ở trên đất mà (đất) không bị tách ra; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi ở trên nước mà (nước) không bị tách ra như là ở trên đất.
Di chuyển với thế kiết già ở trên hư không cũng như loài chim có cánh: Là vị thành tựu sự chứng đạt đề mục đất một cách tự nhiên. (Vị ấy) hướng tâm đến hư không. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là đất” và trở thành đất. Vị ấy đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, đi tới lui ở trên đất, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống;
tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đi tới lui ở trên hư không bầu trời, rồi đứng lại, ngồi xuống, rồi nằm xuống cũng như loài chim có cánh.
Bằng bàn tay sờ đến chạm vào ngay cả mặt trăng và mặt trời (là những vật) có đại thần lực như thế có đại oai lực như thế: Ở đây, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, hưóng tâm đến mặt trăng và mặt trời. Sau khi hướng tâm, chú nguyện bằng trí rằng: “Hãy là ở trong tầm tay” và trở thành ở trong tầm tay. Vị ấy, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời. Giống như những người, ở trạng thái bình thường không có thần thông, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào bất cứ vật gì có hình thể ở trong tầm tay; tương tợ như thế, vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, đang ngồi hoặc đang nằm, bằng bàn tay đụng đến sờ đến chạm vào mặt trăng và mặt trời.
Bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên: Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên, dầu xa chú nguyện là gần rằng: “Hãy là gần” và trở thành gần, dầu gần chú nguyện thành xa rằng: “Hãy là xa” và trở thành xa, dầu nhiều chú nguyện thành ít rằng: “Hãy là ít” và trở thành ít, dầu ít chú nguyện thành nhiều rằng: “Hãy là nhiều” và trở thành nhiều, nhìn thấy hình dáng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhãn, nghe được tiếng của vị Phạm Thiên ấy bằng thiên nhĩ, nhận biết tâm của vị Phạm Thiên ấy bằng trí biết được tâm của người khác. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, chú nguyện tâm theo năng lực của thân. Sau khi hoán chuyển tâm theo năng lực của thân, sau khi chú nguyện tâm theo năng lực của thân, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân được nhìn thấy. Nếu vị ấy, có thần thông đã đạt được năng lực của ý, có ý muốn đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy, (vị ấy) hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, chú nguyện thân theo năng lực của tâm. Sau khi hoán chuyển thân theo năng lực của tâm, sau khi chú nguyện thân theo năng lực của tâm, sau khi nhập vào lạc tưởng và khinh tưởng, vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên bằng thân không được nhìn thấy. Vị ấy làm ra hình thể được tạo thành bởi ý có tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh ở phía trước vị Phạm Thiên ấy. Nếu vị có thần thông ấy đi kinh hành, hình biến hóa (của vị ấy) cũng đi kinh hành ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng lại, hình biến hóa cũng đứng lại ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy ngồi xuống, hình biến hóa cũng ngồi xuống ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy nằm, hình biến hóa cũng nằm ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phun khói, hình biến hóa cũng phun khói ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy phát sáng, hình biến hóa cũng phát sáng ở nơi ấy.
Nếu vị có thần thông ấy thuyết Pháp, hình biến hóa cũng thuyết Pháp ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy trả lời khi được hỏi câu hỏi, hình biến hóa cũng trả lời khi được hỏi câu hỏi ở nơi ấy. Nếu vị có thần thông ấy đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy, hình biến hóa cũng đứng chung chuyện vãn, bàn luận với vị Phạm Thiên ấy ở nơi ấy. Vị có thần thông ấy làm bất cứ việc gì, hình biến hóa (của vị ấy) cũng làm chính ngay việc ấy. Đây là thần thông do chú nguyện.
Thần thông do biến hóa là gì? Vị Thinh Văn của đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác Sikhī tên là Abhibhū đứng ở cõi Phạm Thiên đã dùng giọng nói thông báo đến một ngàn cõi thế giới. Vị ấy đã thuyết Pháp với thân được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với thân không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân dưới được nhìn thấy với nửa phần thân trên không được nhìn thấy, đã thuyết Pháp với nửa phần thân trên được nhìn thấy với nửa phần thân dưới không được nhìn thấy. Vị ấy rời bỏ hình dạng bình thường và phô bày hình dạng của thiếu niên, hoặc phô bày hình dạng của loài rồng, hoặc phô bày hình dạng của loài nhân điểu, hoặc phô bày hình dạng của loài dạ-xoa, hoặc phô bày hình dạng của vị Thiên Vương, hoặc phô bày hình dạng của vị thiên nhân, hoặc phô bày hình dạng của Phạm Thiên, hoặc phô bày hình dạng của biển cả, hoặc phô bày hình dạng của ngọn núi, hoặc phô bày hình dạng của khu rừng, hoặc phô bày hình dạng của loài sư tử, hoặc phô bày hình dạng của loài cọp, hoặc phô bày hình dạng của loài beo, hoặc phô bày hình dạng của loài voi, hoặc phô bày hình dạng của loài ngựa, hoặc phô bày hình dạng của xe kéo, hoặc phô bày hình dạng của người lính, hoặc phô bày hình dạng của đoàn quân nhiều binh chủng. Đây là thần thông do biến hóa.
Thần thông do ý tạo thành là gì? Ở đây, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Cũng giống như người đàn ông rút ra sợi rơm từ cọng cỏ muñja. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là cọng cỏ muñja, đây là sợi rơm. Cọng cỏ muñja là khác, sợi rơm là khác. Nhưng chính sợi rơm được rút ra từ cọng cỏ muñja.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể rút ra thanh gươm từ vỏ bọc. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là thanh gươm, đây là vỏ bọc. Thanh gươm là khác, vỏ bọc là khác. Nhưng chính thanh gươm được rút ra từ vỏ bọc.” Hoặc cũng giống như người đàn ông có thể tuốt ra con rắn từ lớp da. Vị ấy có thể nghĩ như vậy: “Đây là con rắn, đây là lớp da. Con rắn là khác, lớp da là khác. Nhưng chính con rắn được tuốt ra từ lớp da;” tương tợ như thế, vị tỳ khưu từ thân này làm ra thân khác có hình thể được tạo thành bởi ý với tất cả các bộ phận lớn nhỏ và có giác quan hoàn chỉnh. Đây là thần thông do ý tạo thành.
Thần thông do sự can thiệp của trí là gì? ‘Do sự quán xét về vô thường, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thường được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. ‘Do sự quán xét về khổ não, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về lạc … ‘Do sự quán xét về vô ngã, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về ngã … ‘Do sự quán xét về nhàm chán, ý nghĩa dứt bỏ sự vui thích … ‘Do sự quán xét về ly tham ái, ý nghĩa dứt bỏ tham ái … ‘Do sự quán xét về diệt tận, ý nghĩa dứt bỏ nhân sanh khởi … ‘Do sự quán xét về từ bỏ, ý nghĩa dứt bỏ sự nắm giữ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bakkula là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Saṅkicca là do sự can thiệp của trí. Thần thông của đại đức Bhūtapāla là do sự can thiệp của trí. Đây là thần thông do sự can thiệp của trí.
Thần thông do sự can thiệp của định là gì ‘Do sơ thiền, ý nghĩa dứt bỏ các pháp ngăn che được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do nhị thiền, ý nghĩa dứt bỏ tầm tứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. ‘Do tam thiền, ý nghĩa dứt bỏ hỷ được thành tựu’ … ‘Do tứ thiền, ý nghĩa dứt bỏ lạc và khổ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt không vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về sắc, nghĩ tưởng về bất bình, nghĩ tưởng về khác biệt được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt thức vô biên xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt vô sở hữu xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về thức vô biên xứ được thành tựu’ … ‘Do sự chứng đạt phi tưởng phi phi tưởng xứ, ý nghĩa dứt bỏ sự nghĩ tưởng về không vô biên xứ được thành tựu’ là thần thông do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sārī-putta là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Sañjīva là do sự can thiệp của định. Thần thông của đại đức Khāṇukoṇḍañña là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Uttarā là do sự can thiệp của định. Thần thông của nữ cư sĩ Sāmāvatī là do sự can thiệp của định. Đây là thần thông do sự can thiệp của định.
Thần thông thuộc về bậc Thánh là gì? Ở đây, vị tỳ khưu nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Ta có thể an trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm,” rồi an trú vào nơi ấy với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm; nếu ước mong rằng: “Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả ta có thể an trú (vào hai vật ấy) có niệm và có sự nhận biết rõ rệt,” rồi với trạng thái xả (vị ấy) an trú vào nơi ấy, có niệm và có sự nhận biết rõ rệt.
An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không được mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc không mong muốn và đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào lòng từ hoặc là liên tưởng về bản thể. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là không nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) thế nào? Đối với sự việc mong muốn, hoặc là chuyên chú vào bất tịnh hoặc là liên tưởng về vô thường. An trú vào vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm với sự nghĩ tưởng là nhờm gớm là (có ý nghĩa) như thế.
Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu, sau khi nhìn thấy sắc bằng mắt, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Sau khi nghe thinh (âm thanh) bằng tai … Sau khi ngửi khí (mùi) bằng mũi … Sau khi nếm vị bằng lưỡi … Sau khi va chạm (cảnh) xúc bằng thân … Sau khi nhận thức pháp bằng ý, là không vui không buồn, với trạng thái xả an trú (vào vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt. Về vật nhờm gớm và vật không nhờm gớm, sau khi ngăn ngừa cả hai vật ấy, với trạng thái xả an trú (vào hai vật ấy), có niệm và có sự nhận biết rõ rệt là (có ý nghĩa) như thế. Đây là thần thông thuộc về bậc Thánh.
Thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp là gì? Là của tất cả các loài có cánh, là của tất cả chư thiên, là của một số thuộc nhân loại, là của một số thuộc hàng đọa xứ. Đây là thần thông sanh lên do kết quả của nghiệp.
Thần thông của người có phước báu là gì? Đức chuyển luân vương đi trên không trung cùng với đoàn quân bốn loại binh chủng thậm chí tính luôn cả những kẻ giữ ngựa chăn trâu. Thần thông của gia chủ Jotika là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Jaṭila là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Meṇḍaka là của người có phước báu, thần thông của gia chủ Ghosita là của người có phước báu. Đây là thần thông của người có phước báu.
Thần thông do chú thuật là gì? Sau khi nói lẩm nhẩm về chú thuật, những người rành rẽ về chú thuật đi trên không trung, phô bày voi, phô bày ngựa, phô bày xe kéo, phô bày người lính, phô bày đoàn quân nhiều binh chủng ở trên hư không bầu trời. Đây là thần thông do chú thuật.
Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên nỗ lực đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) thế nào? ‘Do thoát ly, ý nghĩa dứt bỏ ước muốn trong các dục được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. ‘Do không sân độc, ý nghĩa dứt bỏ sân độc được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. …(như trên)… ‘Do Đạo A-la-hán, ý nghĩa dứt bỏ toàn bộ phiền não được thành tựu’ là thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp. Thần thông với ý nghĩa thành tựu do duyên ứng dụng đúng đắn tùy theo trường hợp là (có ý nghĩa) như thế. Đây là mười loại thần thông.
Phần Giảng về Thần Thông được đầy đủ.
Kā iddhi?
Kati iddhiyo?
Iddhiyā kati bhūmiyo, kati pādā, kati padāni, kati mūlāni?
Kā iddhīti?
Ijjhanaṭṭhena iddhi.
Kati iddhiyoti?
Dasa iddhiyo.
Iddhiyā kati bhūmiyoti?
Iddhiyā catasso bhūmiyo, cattāro pādā, aṭṭha padāni, soḷasa mūlāni.
Katamā dasa iddhiyo?
Adhiṭṭhānā iddhi, vikubbanā iddhi, manomayā iddhi, ñāṇavipphārā iddhi, samādhivipphārā iddhi, ariyā iddhi, kammavipākajā iddhi, puññavato iddhi, vijjāmayā iddhi, tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Iddhiyā katamā catasso bhūmiyo?
Vivekajābhūmi paṭhamaṁ jhānaṁ, pītisukhabhūmi dutiyaṁ jhānaṁ, upekkhāsukhabhūmi tatiyaṁ jhānaṁ, adukkhamasukhābhūmi catutthaṁ jhānaṁ.
Iddhiyā imā catasso bhūmiyo iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katame cattāro pādā?
Idha bhikkhu chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, cittasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīriyasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti.
Iddhiyā ime cattāro pādā iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katamāni aṭṭha padāni?
Chandañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Chando na samādhi, samādhi na chando.
Añño chando, añño samādhi.
Vīriyañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Vīriyaṁ na samādhi, samādhi na vīriyaṁ.
Aññaṁ vīriyaṁ, añño samādhi.
Cittañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Cittaṁ na samādhi, samādhi na cittaṁ.
Aññaṁ cittaṁ, añño samādhi.
Vīmaṁsañce bhikkhu nissāya labhati samādhiṁ, labhati cittassa ekaggataṁ.
Vīmaṁsā na samādhi, samādhi na vīmaṁsā.
Aññā vīmaṁsā, añño samādhi.
Iddhiyā imāni aṭṭha padāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
Iddhiyā katamāni soḷasa mūlāni?
Anonataṁ cittaṁ kosajje na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anunnataṁ cittaṁ uddhacce na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anabhinataṁ cittaṁ rāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anapanataṁ cittaṁ byāpāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Anissitaṁ cittaṁ diṭṭhiyā na iñjatīti—āneñjaṁ.
Appaṭibaddhaṁ cittaṁ chandarāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vippamuttaṁ cittaṁ kāmarāge na iñjatīti—āneñjaṁ.
Visaññuttaṁ cittaṁ kilese na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vimariyādikataṁ cittaṁ kilesamariyāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Ekattagataṁ cittaṁ nānattakilesehi na iñjatīti—āneñjaṁ.
Saddhāya pariggahitaṁ cittaṁ assaddhiye na iñjatīti—āneñjaṁ.
Vīriyena pariggahitaṁ cittaṁ kosajje na iñjatīti—āneñjaṁ.
Satiyā pariggahitaṁ cittaṁ pamāde na iñjatīti—āneñjaṁ.
Samādhinā pariggahitaṁ cittaṁ uddhacce na iñjatīti—āneñjaṁ.
Paññāya pariggahitaṁ cittaṁ avijjāya na iñjatīti—āneñjaṁ.
Obhāsagataṁ cittaṁ avijjandhakāre na iñjatīti—āneñjaṁ.
Iddhiyā imāni soḷasa mūlāni iddhilābhāya iddhipaṭilābhāya iddhivikubbanatāya iddhivisavitāya iddhivasībhāvāya iddhivesārajjāya saṁvattantīti.
3.2.1. Dasaiddhiniddesa
Katamā adhiṭṭhānā iddhi?
Idha bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—
ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti;
āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ;
tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse;
pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake;
udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ;
ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo;
imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati;
yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetīti.
Idhāti imissā diṭṭhiyā imissā khantiyā imissā ruciyā imasmiṁ ādāye imasmiṁ dhamme imasmiṁ vinaye imasmiṁ dhammavinaye imasmiṁ pāvacane imasmiṁ brahmacariye imasmiṁ satthusāsane.
Tena vuccati—
“idhā”ti.
Bhikkhūti puthujjanakalyāṇako vā hoti bhikkhu sekho vā arahā vā akuppadhammo.
Anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhotīti nānappakāraṁ iddhividhaṁ paccanubhoti.
Ekopi hutvā bahudhā hotīti pakatiyā eko bahukaṁ āvajjati, sataṁ vā sahassaṁ vā satasahassaṁ vā āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“bahulo homī”ti.
Bahulo hoti.
Yathāyasmā cūḷapanthako ekopi hutvā bahudhā hoti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto ekopi hutvā bahudhā hoti.
Bahudhāpi hutvā eko hotīti pakatiyā bahuko ekaṁ āvajjati;
āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“eko homī”ti.
Eko hoti.
Yathāyasmā cūḷapanthako bahudhāpi hutvā eko hoti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto bahudhāpi hutvā eko hoti.
Āvibhāvanti kenaci anāvaṭaṁ hoti appaṭicchannaṁ vivaṭaṁ pākaṭaṁ.
Tirobhāvanti kenaci āvaṭaṁ hoti paṭicchannaṁ pihitaṁ paṭikujjitaṁ.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāseti pakatiyā ākāsakasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“ākāso hotū”ti.
Ākāso hoti.
Tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kenaci anāvaṭe aparikkhitte asajjamānā gacchanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse.
Pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udaketi pakatiyā āpokasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Pathaviṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“udakaṁ hotū”ti.
Udakaṁ hoti.
So pathaviyā ummujjanimujjaṁ karoti.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto udake ummujjanimujjaṁ karonti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto pathaviyā ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake.
Udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyanti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Udakaṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“pathavī hotū”ti.
Pathavī hoti.
So abhijjamāne udake gacchati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto abhijjamānāya pathaviyā gacchanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto abhijjamāne udake gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ.
Ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇoti pakatiyā pathavīkasiṇasamāpattiyā lābhī hoti.
Ākāsaṁ āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“pathavī hotū”ti.
Pathavī hoti.
So ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto pathaviyā caṅkamantipi tiṭṭhantipi nisīdantipi seyyampi kappenti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto ākāse antalikkhe caṅkamatipi tiṭṭhatipi nisīdatipi seyyampi kappeti, seyyathāpi pakkhī sakuṇo.
Imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjatīti idha so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye āvajjati.
Āvajjitvā ñāṇena adhiṭṭhāti—
“hatthapāse hotū”ti.
Hatthapāse hoti.
So nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati.
Yathā manussā pakatiyā aniddhimanto kiñcideva rūpagataṁ hatthapāse āmasanti parāmasanti parimajjanti, evamevaṁ so iddhimā cetovasippatto nisinnako vā nipannako vā candimasūriye pāṇinā āmasati parāmasati parimajjati.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattetīti sace so iddhimā cetovasippatto brahmalokaṁ gantukāmo hoti, dūrepi santike adhiṭṭhāti—
“santike hotū”ti.
Santike hoti.
Santikepi dūre adhiṭṭhāti—
“dūre hotū”ti.
Dūre hoti.
Bahukampi thokaṁ adhiṭṭhāti—
“thokaṁ hotū”ti.
Thokaṁ hoti.
Thokampi bahukaṁ adhiṭṭhāti—
“bahukaṁ hotū”ti.
Bahukaṁ hoti.
Dibbena cakkhunā tassa brahmuno rūpaṁ passati.
Dibbāya sotadhātuyā tassa brahmuno saddaṁ suṇāti.
Cetopariyañāṇena tassa brahmuno cittaṁ pajānāti.
Sace so iddhimā cetovasippatto dissamānena kāyena brahmalokaṁ gantukāmo hoti, kāyavasena cittaṁ pariṇāmeti, kāyavasena cittaṁ adhiṭṭhāti.
Kāyavasena cittaṁ pariṇāmetvā, kāyavasena cittaṁ adhiṭṭhahitvā, sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā dissamānena kāyena brahmalokaṁ gacchati.
Sace so iddhimā cetovasippatto adissamānena kāyena brahmalokaṁ gantukāmo hoti, cittavasena kāyaṁ pariṇāmeti, cittavasena kāyaṁ adhiṭṭhāti.
Cittavasena kāyaṁ pariṇāmetvā, cittavasena kāyaṁ adhiṭṭhahitvā sukhasaññañca lahusaññañca okkamitvā adissamānena kāyena brahmalokaṁ gacchati.
So tassa brahmuno purato rūpiṁ abhinimmināti manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Sace so iddhimā caṅkamati, nimmitopi tattha caṅkamati.
Sace so iddhimā tiṭṭhati, nimmitopi tattha tiṭṭhati.
Sace so iddhimā nisīdati, nimmitopi tattha nisīdati.
Sace so iddhimā seyyaṁ kappeti, nimmitopi tattha seyyaṁ kappeti.
Sace so iddhimā dhūmāyati, nimmitopi tattha dhūmāyati.
Sace so iddhimā pajjalati, nimmitopi tattha pajjalati.
Sace so iddhimā dhammaṁ bhāsati, nimmitopi tattha dhammaṁ bhāsati.
Sace so iddhimā pañhaṁ pucchati, nimmitopi tattha pañhaṁ pucchati.
Sace so iddhimā pañhaṁ puṭṭho visajjeti, nimmitopi tattha pañhaṁ puṭṭho visajjeti.
Sace so iddhimā tena brahmunā saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati, nimmitopi tattha tena brahmunā saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati.
Yaññadeva so iddhimā karoti, taṁtadeva hi so nimmito karotīti—
ayaṁ adhiṭṭhānā iddhi.
Katamā vikubbanā iddhi?
Sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa abhibhū nāma sāvako brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpesi.
So dissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi;
adissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi;
dissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena adissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi.
Dissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena, adissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi.
So pakativaṇṇaṁ vijahitvā kumārakavaṇṇaṁ vā dasseti, nāgavaṇṇaṁ vā dasseti, supaṇṇavaṇṇaṁ vā dasseti, yakkhavaṇṇaṁ vā dasseti, indavaṇṇaṁ vā dasseti, devavaṇṇaṁ vā dasseti, brahmavaṇṇaṁ vā dasseti, samuddavaṇṇaṁ vā dasseti, pabbatavaṇṇaṁ vā dasseti, vanavaṇṇaṁ vā dasseti, sīhavaṇṇaṁ vā dasseti, byagghavaṇṇaṁ vā dasseti, dīpivaṇṇaṁ vā dasseti, hatthimpi dasseti, assampi dasseti, rathampi dasseti, pattimpi dasseti, vividhampi senābyūhaṁ dassetīti—
ayaṁ vikubbanā iddhi.
Katamā manomayā iddhi?
Idha bhikkhu imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Seyyathāpi puriso muñjamhā īsikaṁ pavāheyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ muñjo, ayaṁ īsikā.
Añño muñjo, aññā īsikā.
Muñjamhā tveva īsikā pavāḷhā”ti.
Seyyathā vā pana puriso asiṁ kosiyā pavāheyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ asi, ayaṁ kosi.
Añño asi, aññā kosi.
Kosiyā tveva asi pavāḷho”ti.
Seyyathā vā pana puriso ahiṁ karaṇḍā uddhareyya.
Tassa evamassa—
“ayaṁ ahi, ayaṁ karaṇḍo.
Añño ahi, añño karaṇḍo.
Karaṇḍā tveva ahi ubbhato”ti.
Evamevaṁ bhikkhu imamhā kāyā aññaṁ kāyaṁ abhinimmināti rūpiṁ manomayaṁ sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyaṁ.
Ayaṁ manomayā iddhi.
Katamā ñāṇavipphārā iddhi?
Aniccānupassanāya niccasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti—
ñāṇavipphārā iddhi.
Dukkhānupassanāya sukhasaññāya …
anattānupassanāya attasaññāya …
nibbidānupassanāya nandiyā …
virāgānupassanāya rāgassa …
nirodhānupassanāya samudayassa …
paṭinissaggānupassanāya ādānassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
ñāṇavipphārā iddhi.
Āyasmato bākulassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato saṅkiccassa ñāṇavipphārā iddhi, āyasmato bhūtapālassa ñāṇavipphārā iddhi.
Ayaṁ ñāṇavipphārā iddhi.
Katamā samādhivipphārā iddhi?
Paṭhamena jhānena nīvaraṇānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Dutiyena jhānena vitakkavicārānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Tatiyena jhānena pītiyā pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
catutthena jhānena sukhadukkhānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
ākāsānañcāyatanasamāpattiyā rūpasaññāya paṭighasaññāya nānattasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
viññāṇañcāyatanasamāpattiyā ākāsānañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
ākiñcaññāyatanasamāpattiyā viññāṇañcāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti …pe…
nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā ākiñcaññāyatanasaññāya pahānaṭṭho ijjhatīti—
samādhivipphārā iddhi.
Āyasmato sāriputtassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato sañjīvassa samādhivipphārā iddhi, āyasmato khāṇukoṇḍaññassa samādhivipphārā iddhi, uttarāya upāsikāya samādhivipphārā iddhi, sāmāvatiyā upāsikāya samādhivipphārā iddhi.
Ayaṁ samādhivipphārā iddhi.
Katamā ariyā iddhi?
Idha bhikkhu sace ākaṅkhati—
“paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan”ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan”ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan”ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan”ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
Sace ākaṅkhati—
“paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno”ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
Kathaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati?
Aniṭṭhasmiṁ vatthusmiṁ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṁharati.
Evaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati?
Iṭṭhasmiṁ vatthusmiṁ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṁharati.
Evaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati?
Aniṭṭhasmiñca iṭṭhasmiñca vatthusmiṁ mettāya vā pharati, dhātuto vā upasaṁharati.
Evaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati?
Iṭṭhasmiñca aniṭṭhasmiñca vatthusmiṁ asubhāya vā pharati, aniccato vā upasaṁharati.
Evaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī viharati.
Kathaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno?
Idha bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno.
Evaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno.
Ayaṁ ariyā iddhi.
Katamā kammavipākajā iddhi?
Sabbesaṁ pakkhīnaṁ, sabbesaṁ devānaṁ, ekaccānaṁ manussānaṁ, ekaccānaṁ vinipātikānaṁ.
Ayaṁ kammavipākajā iddhi.
Katamā puññavato iddhi?
Rājā cakkavattī vehāsaṁ gacchati saddhiṁ caturaṅginiyā senāya, antamaso assabandhagopurise upādāya.
Jotikassa gahapatissa puññavato iddhi, jaṭilassa gahapatissa puññavato iddhi, meṇḍakassa gahapatissa puññavato iddhi, ghositassa gahapatissa puññavato iddhi, pañcannaṁ mahāpuññānaṁ puññavato iddhi.
Ayaṁ puññavato iddhi.
Katamā vijjāmayā iddhi?
Vijjādharā vijjaṁ parijappetvā vehāsaṁ gacchanti, ākāse antalikkhe hatthimpi dassenti, assampi dassenti, rathampi dassenti, pattimpi dassenti, vividhampi senābyūhaṁ dassenti.
Ayaṁ vijjāmayā iddhi.
Kathaṁ tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi?
Nekkhammena kāmacchandassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Abyāpādena byāpādassa pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi …pe…
arahattamaggena sabbakilesānaṁ pahānaṭṭho ijjhatīti—
tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Evaṁ tattha tattha sammāpayogapaccayā ijjhanaṭṭhena iddhi.
Imā dasa iddhiyo.
Iddhikathā niṭṭhitā.