Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ* này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(nt)… Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả Bất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến sự tiến triển của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ phổ thông …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vô song …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ bao la …(như trên)… đưa đến sự dồi dào của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ sắc bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt.
Đưa đến sự thành đạt về tuệ: Sự thành đạt về tuệ là gì? Là sự đạt được, sự thành đạt, sự đạt đến, sự thành tựu, sự chạm đến, sự tác chứng, sự hoàn thành của bốn trí về Đạo, của bốn trí về Quả, của bốn trí phân tích, của sáu thắng trí, của bảy mươi ba trí,* của bảy mươi bảy trí.* ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự thành đạt về tuệ;’ đây là sự thành đạt về tuệ.
Đưa đến sự tăng trưởng của tuệ: Sự tăng trưởng của tuệ gì? Tuệ của 7 vị Hữu Học và của phàm nhân hoàn thiện tăng trưởng, tuệ của vị A-la-hán tăng trưởng. ‘Các sự tăng trưởng đã được tăng trưởng đưa đến sự tăng trưởng của tuệ;’ đây là sự tăng trưởng của tuệ.
Đưa đến sự tiến triển của tuệ: Sự tiến triển của tuệ gì? Tuệ của bảy vị Hữu Học và của vị phàm nhân hoàn thiện đi đến sự tiến triển, tuệ của vị A-la-hán đã đi đến sự tiến triển. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự tiến triển của tuệ;’ đây là sự tiến triển của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại: Tuệ vĩ đại là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các pháp vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các ngôn từ vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các phép biện giải vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giới uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các định uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chánh cần vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các quyền vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các lực vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giác chi vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các thắng trí vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại;’ đây là tuệ vĩ đại.
Đưa đến trạng thái tuệ phổ thông: Tuệ phổ thông là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các xứ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các pháp phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.
‘Trí vận hành về các ngôn từ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các phép biện giải phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các định uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chánh cần phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các quyền phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các lực phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giác chi phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các thắng trí phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ phổ thông. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ phổ thông;’ đây là tuệ phổ thông.
Đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn: Tuệ rộng lớn là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các pháp rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các ngôn từ rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các phép biện giải rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giới uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các định uẩn nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chánh cần rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các quyền rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các lực rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giác chi rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các thắng trí rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn;’ đây là tuệ rộng lớn.
Đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu: Tuệ thâm sâu là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các xứ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các pháp thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ngôn từ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các phép biện giải thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các định uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chánh cần thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các quyền thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các lực thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giác chi thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các thắng trí thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ thâm sâu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu;’ đây là tuệ thâm sâu.
Đưa đến trạng thái tuệ vô song: Tuệ vô song là gì? Cá nhân nào, do xác định ý nghĩa có sự phân tích về ý nghĩa được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định pháp có sự phân tích về pháp được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định ngôn từ có sự phân tích về ngôn từ được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định phép biện giải có sự phân tích về phép biện giải được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, đối với vị ấy không ai có thể vượt trội về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. ‘Và vị ấy là không thể bị vượt trội bởi những người khác’ là tuệ vô song.
Tuệ của phàm nhân hoàn thiện so với tuệ của hạng thứ tám (Đạo Nhập Lưu) là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với phàm nhân hoàn thiện, hạng thứ tám là có tuệ vô song. Tuệ của hạng thứ tám so với tuệ của vị Nhập Lưu là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với hạng thứ tám, vị Nhập Lưu là có tuệ vô song.
Tuệ của vị Nhập Lưu so với tuệ của vị Nhất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Nhất Lai so với tuệ của vị Bất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhất Lai, vị Bất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Bất Lai so với tuệ của vị A-la-hán là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Bất Lai, vị A-la-hán là có tuệ vô song. Tuệ của vị A-la-hán so với tuệ của vị Phật Độc Giác là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị A-la-hán, vị Phật Độc Giác là có tuệ vô song; so với vị Phật Độc Giác và thế gian luôn cả chư Thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là có tuệ vô song tối thắng. Là vị thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư, là người như loài rồng, là người có dòng dõi cao quý, là người cất đi gánh nặng, là vị có trí vô biên, có oai lực vô biên, có danh vọng vô biên, giàu có (về trí tuệ), có tài sản (trí tuệ) lớn lao, có của cải (trí tuệ), là vị lãnh đạo, vị hướng đạo, vị dẫn dắt, vị giúp cho nhận biết, vị giúp cho suy nghiệm, vị giúp cho quan sát, vị tạo niềm tin.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị làm sanh lên đạo lộ chưa được sanh lên, là vị làm sanh khởi đạo lộ chưa được sanh khởi, là vị tuyên thuyết về đạo lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về đạo lộ, là vị hiểu rõ về đạo lộ, là vị thông thạo về đạo lộ, hơn nữa hiện nay các Thinh Văn của Ngài là những người đi theo đạo lộ rồi an trú, là những người tiếp nối.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị biết điều đã được biết, thấy điều đã được thấy, là mắt, là trí, là Pháp, là đấng Brahma, là vị nói ra, là vị nói lên, là vị đem lại ý nghĩa, là vị ban phát Bất Tử, là đấng Pháp Chủ, là đức Như Lai. Đối với đức Thế Tôn ấy, không gì là không được biết, không được thấy, không được hiểu, không được tác chứng, không được chạm đến bởi tuệ. Tính luôn cả quá khứ hiện tại vị lai, tất cả các pháp với mọi biểu hiện đều nổi bật ở trí của đức Phật Thế Tôn. Bất cứ điều gì được gọi là cần được biết, tất cả các điều ấy đều được biết. Ý nghĩa thuộc về bản thân, hoặc ý nghĩa thuộc về người khác, hoặc ý nghĩa thuộc về cả hai, hoặc ý nghĩa trong thời hiện tại, hoặc ý nghĩa liên quan đến thời vị lai, hoặc ý nghĩa hời hợt, hoặc ý nghĩa thâm sâu, hoặc ý nghĩa khó hiểu, hoặc ý nghĩa được che đậy, hoặc ý nghĩa cần được biết, hoặc ý nghĩa đã được kết luận, hoặc ý nghĩa không sai trái, hoặc ý nghĩa không ô nhiễm, hoặc ý nghĩa thuần khiết, hoặc ý nghĩa tuyệt đối, tất cả các điều ấy đều xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Tất cả các nghiệp về thân đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về khẩu đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về ý đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn.
Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm đã qua là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm chưa đến là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm hiện tại là không bị chướng ngại. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Giống như hai phần của chiếc hộp được gắn liền khít khao, phần hộp ở bên dưới không vượt quá phần bên trên, phần hộp ở bên trên không vượt qua phần bên dưới; chúng có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Tương tợ y như thế, điều cần được biết và trí của đức Phật Thế Tôn có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả các pháp.
Đối với đức Phật Thế Tôn, tất cả các pháp được gắn liền với sự hướng tâm, được gắn liền với sự mong muốn, được gắn liền với tác ý, được gắn liền với sự sanh lên của tâm. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả chúng sanh. Đức Phật biết thiên kiến, biết xu hướng ngủ ngầm, biết tánh hạnh, biết khuynh hướng của tất cả chúng sanh. Ngài nhận biết những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, có khả năng và không có khả năng. Thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài cá và rùa nào, thậm chí tính luôn loại cá ông cá voi, đều xoay chuyển ở giữa biển cả bao la. Tương tợ như vậy, thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài có cánh nào, thậm chí tính luôn cả Kim-sỉ-điểu thuộc loại Venateyya, đều xoay chuyển ở khoảng không gian của bầu trời. Tương tợ y như thế, ngay cả những vị là tương đương với Sārīputta về tuệ, những vị ấy cũng chỉ xoay chuyển trong phạm vi trí của đức Phật.
Trí của đức Phật xâm nhập, chiếm cứ, và ngự trị tuệ của chư thiên và nhân loại. Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài là tối thắng và có tuệ vô song. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vô song;’ đây là tuệ vô song.
Đưa đến trạng thái tuệ bao la: Tuệ bao la là gì? ‘Chế ngự tham ái’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sân’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự si’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sự giận dữ’ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … ‘Chế ngự tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la.
‘Tham ái là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sân là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Si là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sự giận dữ … Sự căm hận … Sự gièm pha … Sự hà hiếp … Sự ganh tỵ … Sự bỏn xẻn … Sự xảo trá … Sự đạo đức giả … Sự bướng bỉnh … Sự cống cao … Sự ngã mạn … Sự cao ngạo … Sự kiêu căng … Sự buông lung … Toàn bộ phiền não … Tất cả các ác hạnh … Tất cả các hành … ‘Tất cả nghiệp dẫn đến hữu là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. Quả đất được gọi là bao la. ‘Đức Phật hội đủ về tuệ ấy có tính rộng lớn tương tợ như quả đất,’ như thế là tuệ bao la. Hơn nữa, điều này là sự đặt tên cho tuệ. ‘Bao la, mẫn tiệp, liên quan đến lãnh đạo’ là tuệ bao la. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ bao la;’ đây là tuệ bao la.
Đưa đến sự dồi dào của tuệ: Sự dồi dào của tuệ là gi? Ở đây, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. Ví như người chú trọng về đồ chúng được gọi là ‘Người có nhiều đồ chúng;’ người chú trọng về y được gọi là ‘Người có nhiều y;’ người chú trọng về bình bát được gọi là ‘Người có nhiều bình bát;’ người chú trọng về sàng tọa được gọi là ‘Người có nhiều sàng tọa;’
tương tợ như thế, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự dồi dào của tuệ;’ đây là sự dồi dào của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén: Tuệ nhạy bén là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ việc thu thúc các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giới uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ định uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ tuệ uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các nền tảng thần thông vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các lực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các giác chi vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén;’ đây là tuệ nhạy bén.
Đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng: Tuệ nhẹ nhàng là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự thu thúc các quyền vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ giới uẩn … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các nền tảng của thần thông vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các quyền vô cùng nhẹ
nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các lực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các giác chi vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng;’ đây là tuệ nhẹ nhàng.
Đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu: Tuệ vi tiếu là gì? Ở đây có người: ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ các giới’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự thu thúc các quyền’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự tri túc về vật thực’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ giới uẩn’ … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn … thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý … làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt … thấu triệt các chân lý cao thượng … tu tập các sự thiết lập niệm … tu tập các chánh cần … tu tập các nền tảng thần thông … tu tập các quyền … tu tập các lực … tu tập các giác chi … tu tập Thánh Đạo … tác chứng các Quả vị Sa-môn’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan thấu triệt các thắng trí’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ vi tiếu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu;’ đây là tuệ vi tiếu.
Đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc: Tuệ đổng tốc là gì? Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc ở gần, về toàn bộ sắc ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Bất cứ thọ nào …(như trên)… Bất cứ tưỏng nào …(như trên)… Bất cứ các hành nào …(như trên)… Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc gần, về toàn bộ thức ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Mắt …(như trên)… Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc’ là tuệ đổng tốc.
Đưa đến trạng thái tuệ sắc bén: Tuệ sắc bén là gì? ‘Cắt đứt các phiền não một cách mau lẹ’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu dục tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân độc tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu hãm hại tầm đã sanh lên …(như trên)… các pháp ác bất thiện đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu tham ái đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân đã sanh lên … si đã sanh lên … sự giận dữ đã sanh lên … sự căm hận đã sanh lên … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ sắc bén. ‘Ở một chỗ ngồi, bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị Sa-môn, bốn phân tích, sáu thắng trí là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ’ là tuệ sắc bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ sắc bén’ là tuệ sắc bén.
Đưa đến trạng thái tuệ thông suốt: Tuệ thông suốt là gì? Ở đây, có người có nhiều kinh hoảng về tất cả các hành, có nhiều sợ sệt, có nhiều bất mãn, có nhiều không hứng thú, có nhiều không hứng khởi, tỏ vẻ không hứng thú ở tất cả các hành. ‘Thông suốt, khám phá
tham uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sân uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá si uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sự giận dữ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thông suốt’ là tuệ thông suốt. Đây là 16 tuệ. Cá nhân hội đủ 16 tuệ này đạt đến (tuệ) phân tích.
Có hai hạng người đạt được phân tích: một hạng đã thực tập trước đây, một hạng đã không thực tập trước đây. Người nào đã thực tập trước đây, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây: một hạng đã nghe nhiều, một hạng đã không nghe nhiều. Người nào nghe nhiều, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều: một hạng có nhiều sự thuyết giảng, một hạng không có nhiều sự thuyết giảng. Người nào có nhiều sự thuyết giảng, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng: một hạng đã nương tựa vào vị thầy, một hạng đã không nương tựa vào vị thầy. Người nào đã nương tựa vào vị thầy, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy: một hạng có nhiều sự an trú,* một hạng không có nhiều sự an trú. Người nào có nhiều sự an trú, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú: một hạng có nhiều sự quán xét lại, một hạng không có nhiều sự quán xét lại. Người nào có nhiều sự quán xét lại, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại: một hạng đạt được sự phân tích của bậc Hữu Học, một hạng đạt được sự phân tích của bậc Vô Học. Người nào đạt được sự phân tích của bậc Vô Học, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng không đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn. Người nào đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng là vị Độc Giác Phật. Người nào là vị Độc Giác Phật, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Tính luôn vị Độc Giác Phật và thế gian có cả chư thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là tối thắng, đã đạt đến sự phân tích, là thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư …(như trên)… Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài đã đạt đến sự phân tích và là vị tối thắng.
Phần Giảng về Tuệ được đầy đủ.
Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṁ paripūreti.
Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṁ paripūreti.
Nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṁ paripūreti.
Virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṁ paripūreti.
Nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṁ paripūreti.
Paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti, sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Vedanāya …pe…
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe …
cakkhusmiṁ …pe…
jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Vedanāya …pe…
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe …
cakkhusmiṁ …pe…
jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
“Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā sakadāgāmiphalasacchikiriyāya saṁvattanti …pe…
anāgāmiphalasacchikiriyāya saṁvattanti …pe…
arahattaphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā arahattamaggaphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṁvattanti …pe…
paññābuddhiyā saṁvattanti, paññāvepullāya saṁvattanti, mahāpaññatāya saṁvattanti, puthupaññatāya saṁvattanti, vipulapaññatāya saṁvattanti, gambhīrapaññatāya saṁvattanti, asāmantapaññatāya saṁvattanti, bhūripaññatāya saṁvattanti, paññābāhullāya saṁvattanti, sīghapaññatāya saṁvattanti, lahupaññatāya saṁvattanti, hāsapaññatāya saṁvattanti, javanapaññatāya saṁvattanti, tikkhapaññatāya saṁvattanti, nibbedhikapaññatāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṁvattanti, paññābuddhiyā saṁvattanti …pe…
nibbedhikapaññatāya saṁvattanti”.
3.1.1. Soḷasapaññāniddesa
Paññāpaṭilābhāya saṁvattantīti katamo paññāpaṭilābho?
Catunnaṁ maggañāṇānaṁ, catunnaṁ phalañāṇānaṁ, catunnaṁ paṭisambhidāñāṇānaṁ, channaṁ abhiññāñāṇānaṁ, tesattatīnaṁ ñāṇānaṁ, sattasattatīnaṁ ñāṇānaṁ lābho paṭilābho patti sampatti phassanā sacchikiriyā upasampadā.
Paññāpaṭilābhāya saṁvattantīti—
ayaṁ paññā paṭilābho.
Paññābuddhiyā saṁvattantīti katamā paññābuddhi?
Sattannañca sekkhānaṁ puthujjanakalyāṇakassa ca paññā vaḍḍhati, arahato paññā vaḍḍhati.
Vaḍḍhitavaḍḍhanā paññābuddhiyā saṁvattantīti—
ayaṁ paññābuddhi.
Paññāvepullāya saṁvattantīti katamaṁ paññāvepullaṁ?
Sattannaṁ sekkhānaṁ puthujjanakalyāṇakassa ca paññāvepullaṁ gacchati.
Arahato paññā vepullagatā paññāvepullāya saṁvattantīti—
idaṁ paññāvepullaṁ.
Mahāpaññatāya saṁvattantīti katamā mahāpaññā?
Mahante atthe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante dhamme pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā niruttiyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante sīlakkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante samādhikkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante paññākkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante sammappadhāne pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante iddhipāde pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni indriyāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni balāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante bojjhaṅge pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantaṁ ariyamaggaṁ pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā abhiññāyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahāpaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ mahāpaññā.
Puthupaññatāya saṁvattantīti katamā puthupaññā?
Puthunānākhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānādhātūsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāāyatanesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaṭiccasamuppādesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsuññatamanupalabbhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāatthesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānādhammesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāniruttīsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaṭibhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsīlakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsamādhikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaññākkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvimuttikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvihārasamāpattīsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāariyasaccesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsatipaṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsammappadhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāiddhipādesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāindriyesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānābalesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānābojjhaṅgesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāariyamagge ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsāmaññaphalesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāabhiññāsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthujjanasādhāraṇe dhamme atikkamma paramatthe nibbāne ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthupaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ puthupaññā.
Vipulapaññatāya saṁvattantīti katamā vipulapaññā?
Vipule atthe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule dhamme pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā niruttiyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule sīlakkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule samādhikkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule paññākkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule sammappadhāne pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule iddhipāde pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni indriyāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni balāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule bojjhaṅge pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulaṁ ariyamaggaṁ pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā abhiññāyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ vipulapaññā.
Gambhīrapaññatāya saṁvattantīti katamā gambhīrapaññā?
Gambhīresu khandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu dhātūsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu āyatanesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paṭiccasamuppādesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu suññatamanupalabbhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu atthesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu dhammesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu niruttīsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paṭibhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sīlakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu samādhikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paññākkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu vimuttikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu vimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu ṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu vihārasamāpattīsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu ariyasaccesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu satipaṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sammappadhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu iddhipādesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu indriyesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu balesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu bojjhaṅgesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīre ariyamagge ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sāmaññaphalesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu abhiññāsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīre paramatthe nibbāne ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ gambhīrapaññā.
Asāmantapaññatāya saṁvattantīti katamā asāmantapaññā?
Yassa puggalassa atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, tassa atthe ca dhamme ca niruttiyā ca paṭibhāne ca na añño koci sakkoti abhisambhavituṁ.
Anabhisambhavanīyo ca so aññehīti—
asāmantapañño.
Puthujjanakalyāṇakassa paññā aṭṭhamakassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Puthujjanakalyāṇakaṁ upādāya aṭṭhamako asāmantapañño.
Aṭṭhamakassa paññā sotāpannassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Aṭṭhamakaṁ upādāya sotāpanno asāmantapañño.
Sotāpannassa paññā sakadāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Sotāpannaṁ upādāya sakadāgāmī asāmantapañño.
Sakadāgāmissa paññā anāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Sakadāgāmiṁ upādāya anāgāmī asāmantapañño.
Anāgāmissa paññā arahato paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Anāgāmiṁ upādāya arahā asāmantapañño.
Arahato paññā paccekasambuddhassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Arahantaṁ upādāya paccekabuddho asāmantapañño.
Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṁ upādāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho aggo asāmantapañño.
Paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatappaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññāpetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā.
“So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugāmī ca panassa etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā”.
“So hi bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato.
Natthi tassa bhagavato aññātaṁ adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya.
Atītaṁ anāgataṁ paccuppannaṁ upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṁ āgacchanti.
Yaṁ kiñci neyyaṁ nāma atthi taṁ sabbaṁ jānitabbaṁ.
Attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho samparāyiko vā attho uttāno vā attho gambhīro vā attho gūḷho vā attho paṭicchanno vā attho neyyo vā attho nīto vā attho anavajjo vā attho nikkileso vā attho vodāno vā attho paramattho vā attho, sabbaṁ taṁ antobuddhañāṇe parivattati.
Sabbaṁ kāyakammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Sabbaṁ vacīkammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Sabbaṁ manokammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Anāgate buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Paccuppanne buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Yāvatakaṁ neyyaṁ tāvatakaṁ ñāṇaṁ, yāvatakaṁ ñāṇaṁ tāvatakaṁ neyyaṁ.
Neyyapariyantikaṁ ñāṇaṁ, ñāṇapariyantikaṁ neyyaṁ.
Neyyaṁ atikkamitvā ñāṇaṁ nappavattati.
Ñāṇaṁ atikkamitvā neyyapatho natthi.
Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
Yathā dvinnaṁ samuggapaṭalānaṁ sammā phusitānaṁ heṭṭhimaṁ samuggapaṭalaṁ uparimaṁ nātivattati, uparimaṁ samuggapaṭalaṁ heṭṭhimaṁ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino;
evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino.
Yāvatakaṁ neyyaṁ tāvatakaṁ ñāṇaṁ, yāvatakaṁ ñāṇaṁ tāvatakaṁ neyyaṁ.
Neyyapariyantikaṁ ñāṇaṁ, ñāṇapariyantikaṁ neyyaṁ.
Neyyaṁ atikkamitvā ñāṇaṁ nappavattati.
Ñāṇaṁ atikkamitvā neyyapatho natthi.
Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṁ pavattati.
Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanappaṭibaddhā ākaṅkhappaṭibaddhā manasikārappaṭibaddhā cittuppādappaṭibaddhā.
Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṁ pavattati.
Sabbesaṁ sattānaṁ buddho āsayaṁ jānāti, anusayaṁ jānāti, caritaṁ jānāti, adhimuttiṁ jānāti.
Apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti.
Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
Yathā ye keci macchakacchapā, antamaso timitimiṅgalaṁ upādāya, antomahāsamudde parivattanti, evamevaṁ sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
Yathā ye keci pakkhino, antamaso garuḷaṁ venateyyaṁ upādāya, ākāsassa padese parivattanti;
evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti.
Buddhañāṇaṁ devamanussānaṁ paññaṁ pharitvā atighaṁsitvā tiṭṭhati.
Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṁ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca.
Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā.
Upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti.
Atha kho bhagavā tattha atirocati yadidaṁ paññāyā”ti.
Aggo asāmantapañño, asāmantapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ asāmantapaññā.
Bhūripaññatāya saṁvattantīti katamā bhūripaññā?
Rāgaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Dosaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Mohaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Kodhaṁ …pe…
upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Rāgo ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Doso ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Moho ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Kodho …pe…
upanāho …
makkho …
paḷāso …
issā …
macchariyaṁ …
māyā …
sāṭheyyaṁ …
thambho …
sārambho …
māno …
atimāno …
mado …
pamādo …
sabbe kilesā …
sabbe duccaritā …
sabbe abhisaṅkhārā …pe…
sabbe bhavagāmikammā ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Bhūri vuccati pathavī.
Tāya pathavisamāya vitthatāya vipulāya paññāya samannāgatoti—bhūripaññā.
Api ca paññāya metaṁ adhivacanaṁ.
Bhūri medhā pariṇāyikāti—bhūripaññā.
Bhūripaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ bhūripaññā.
Paññābāhullāya saṁvattantīti katamaṁ paññābāhullaṁ?
Idhekacco paññāgaruko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo.
Yathā gaṇagaruko vuccati “gaṇabāhuliko”ti, cīvaragaruko vuccati “cīvarabāhuliko”ti, pattagaruko vuccati “pattabāhuliko”ti, senāsanagaruko vuccati “senāsanabāhuliko”ti;
evamevaṁ idhekacco paññāgaruko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo.
Paññābāhullāya saṁvattantīti—
idaṁ paññābāhullaṁ.
Sīghapaññatāya saṁvattantīti katamā sīghapaññā?
Sīghaṁ sīghaṁ sīlāni paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sīlakkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ samādhikkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ paññākkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vimuttikkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vihārasamāpattiyo paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ariyasaccāni paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ satipaṭṭhāne bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sammappadhāne bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ iddhipāde bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ indriyāni bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ balāni bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ bojjhaṅge bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ariyamaggaṁ bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sāmaññaphalāni sacchikarotīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ abhiññāyo paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—sīghapaññā.
Sīghapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ sīghapaññā.
Lahupaññatāya saṁvattantīti katamā lahupaññā?
Lahuṁ lahuṁ sīlāni paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sīlakkhandhaṁ …pe…
samādhikkhandhaṁ …
paññākkhandhaṁ …
vimuttikkhandhaṁ …
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ vihārasamāpattiyo paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ariyasaccāni paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ satipaṭṭhāne bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sammappadhāne bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ iddhipāde bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ indriyāni bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ balāni bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ bojjhaṅge bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ariyamaggaṁ bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sāmaññaphalāni sacchikarotīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ abhiññāyo paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—lahupaññā.
Lahupaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ lahupaññā.
Hāsapaññatāya saṁvattantīti katamā hāsapaññā?
Idhekacco hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlāni paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlakkhandhaṁ …pe…
samādhikkhandhaṁ …
paññākkhandhaṁ …
vimuttikkhandhaṁ …
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti …pe…
ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti …
vihārasamāpattiyo paripūretīti …
ariyasaccāni paṭivijjhatīti …
satipaṭṭhāne bhāvetīti …
sammappadhāne bhāvetīti …
iddhipāde bhāvetīti …
indriyāni bhāvetīti …
balāni bhāvetīti …
bojjhaṅge bhāvetīti …
ariyamaggaṁ bhāvetīti …pe…
sāmaññaphalāni sacchikarotīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo abhiññāyo paṭivijjhatīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—hāsapaññā.
Hāsapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ hāsapaññā.
Javanapaññatāya saṁvattantīti katamā javanapaññā?
Yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Yā kāci vedanā …pe…
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ khayaṭṭhena dukkhaṁ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …
cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ khayaṭṭhena dukkhaṁ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā jarāmaraṇanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ khayadhammaṁ vayadhammaṁ virāgadhammaṁ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …
cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ khayadhammaṁ vayadhammaṁ virāgadhammaṁ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā jarāmaraṇanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Javanapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ javanapaññā.
Tikkhapaññatāya saṁvattantīti katamā tikkhapaññā?
Khippaṁ kilese chindatīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ byāpādavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ nādhivāseti …pe…
uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ rāgaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ dosaṁ …pe…
uppannaṁ mohaṁ …
uppannaṁ kodhaṁ …
uppannaṁ upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Ekasmiṁ āsane cattāro ca ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidāyo cha abhiññāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāyāti—tikkhapaññā.
Tikkhapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ tikkhapaññā.
Nibbedhikapaññatāya saṁvattantīti katamā nibbedhikapaññā?
Idhekacco sabbasaṅkhāresu ubbegabahulo hoti uttāsabahulo ukkaṇṭhanabahulo aratibahulo anabhiratibahulo.
Bahimukho na ramati sabbasaṅkhāresu.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ lobhakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ dosakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ mohakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ kodhaṁ …pe…
upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Nibbedhikapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ nibbedhikapaññā.
Imā soḷasa paññāyo.
Imāhi soḷasahi paññāhi samannāgato puggalo paṭisambhidappatto.
3.1.2. Puggalavisesaniddesa
Dve puggalā paṭisambhidappattā—
eko pubbayogasampanno, eko na pubbayogasampanno.
Yo pubbayogasampanno so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā—
eko bahussuto, eko na bahussuto.
Yo bahussuto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā—
eko desanābahulo, eko na desanābahulo.
Yo desanābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā—
eko garūpanissito, eko na garūpanissito.
Yo garūpanissito, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā—
eko vihārabahulo, eko na vihārabahulo.
Yo vihārabahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā—
eko paccavekkhaṇābahulo, eko na paccavekkhaṇābahulo.
Yo paccavekkhaṇābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā—
eko sekhapaṭisambhidappatto, eko asekhapaṭisambhidappatto.
Yo asekhapaṭisambhidappatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā—
eko sāvakapāramippatto, eko na sāvakapāramippatto.
Yo sāvakapāramippatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā—
eko sāvakapāramippatto, eko paccekasambuddho.
Yo paccekasambuddho, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṁ upādāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho aggo paṭisambhidappatto paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho …pe…
yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṁ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca.
Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā, upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti.
Atha kho bhagavā tattha atirocati, yadidaṁ paññāyāti aggo paṭisambhidappattoti.
Mahāpaññākathā niṭṭhitā.
PTS vp En 3631. Contemplation of impermanence, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of pain, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of not self, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of dispassion, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of fading away, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of cessation, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of relinquishment, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of impermanence, when developed and made much of, perfects impulsive understanding.
Contemplation of pain, when developed and made much of, perfects penetrative understanding.
Contemplation of not self, when developed and made much of, perfects great understanding.
Contemplation of dispassion, when developed and made much of, perfects keen understanding.
Contemplation of fading away, when developed and made much of, perfects abundant understanding.
Contemplation of cessation, when developed and made much of, perfects profound understanding.
Contemplation of relinquishment, when developed and made much of, perfects unequalled understanding.
These seven kinds of understanding, when developed and made much of, perfect sagacity.
These eight kinds of understanding, when developed and made much of, perfect wide understanding.
These nine kinds of understanding, when developed and made much of, perfect laughing understanding.
Laughing understanding is the discrimination of perspicuity.
With this [noble person]'s definition of meaning the discrimination of PTS vp En 364 meaning is arrived at, realized and sounded by understanding. With the definition of ideas the discrimination of ideas is arrived at, realized and sounded by understanding. With the definition of language the discrimination of language is arrived at, realized and sounded by understanding. With the definition of perspicuity the discrimination of perspicuity is arrived at, realized and sounded by understanding. He has arrived at, realized and sounded by understanding these four discriminations.
2. Contemplation of impermanence in materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of pain in materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding? …
Contemplation of relinquishment in materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of impermanence in materiality, when developed and made much of, perfects impulsive understanding.
Contemplation of pain in materiality, when developed and made much of, perfects penetrative understanding. …
Contemplation of relinquishment in materiality, when developed and made much of, perfects unequalled understanding.
These seven kinds of understanding, when developed and made much of, perfect sagacity. …
These nine kinds of understanding, when developed and made much of, perfect laughing understanding.
Laughing understanding is the discrimination of perspicuity.
With this [noble person]'s definition of meaning … He has arrived at, realized and sounded by understanding these four discriminations.
Contemplation of impermanence in feeling … [and so on with each of the rest of the 201 ideas listed in Tr. I § 5 up to] …
Contemplation of impermanence in ageing-and-death, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of pain in ageing-and-death … [complete as above] …
… He has arrived at, realized and sounded by understanding these four discriminations.
PTS vp En 3653. Contemplation of impermanence in materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of impermanence in past, future and present materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of pain in materiality …?
Contemplation of pain in past, future and present materiality …?
Contemplation of not self in materiality …?
Contemplation of not self in past, future and present materiality …?
Contemplation of dispassion in materiality …?
Contemplation of dispassion in past, future, and present materiality …?
Contemplation of fading away in materiality …?
Contemplation of fading away in past, future and present materiality …?
Contemplation of cessation in materiality …?
Contemplation of cessation in past, future and present materiality …?
Contemplation of relinquishment in materiality …?
Contemplation of relinquishment in past, future and present materiality, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of impermanence in materiality, when developed and made much of, perfects impulsive understanding.
Contemplation of impermanence in past, future and present materiality, when developed and made much of, perfects impulsive understanding.
Contemplation of pain in materiality … penetrative understanding.
Contemplation of pain in past, future and present materiality … impulsive understanding.
Contemplation of not self in materiality … great understanding.
Contemplation of not self in past, future and present materiality … impulsive understanding.
Contemplation of dispassion in materiality … keen understanding.
Contemplation of dispassion in past, future and present materiality … impulsive understanding.
Contemplation of fading away in materiality … abundant understanding.
Contemplation of fading away in past, future and present materiality … impulsive understanding.
Contemplation of cessation in materiality … profound understanding.
Contemplation of cessation in past, future, and present materiality … impulsive understanding.
Contemplation of relinquishment in materiality … unequalled understanding.
Contemplation of relinquishment in past, future and present materiality, when developed and made much of, perfects impulsive understanding.
These seven kinds of understanding … [complete as in § 1] … these four discriminations.
Contemplation PTS vp En 366 of impermanence in feeling, when developed and made much of, perfects what kind of understanding?
Contemplation of impermanence in past, future and present feeling … [and so on in the case of each one of the 201 ideas listed in Tr. I § 5] …
Contemplation of impermanence in ageing-and-death …?
Contemplation of impermanence in past, future and present ageing-and-death …?
…
Contemplation of impermanence in ageing-and-death, when developed and made much of, perfects impulsive understanding. … these four discriminations.
4. “Bhikkhus, these four ideas, when developed and made much of, lead to realization of the fruit of stream entry. What four? Waiting on good men, hearing the True Idea, careful attention, and practice in accordance with the True Idea. These four ideas, when developed and made much of, lead to realization of the fruit of stream entry”.
“Bhikkhus, these four ideas, when developed and made much of, lead to realization of the fruit of once-return … [repeat as above]”.
“Bhikkhus, these four ideas, when developed and made much of, lead to realization of the fruit of non-return …”
“Bhikkhus, these four ideas, when developed and made much of, lead to realization of the fruit of arahantship …”
“Bhikkhus, these four ideas, when developed and made much of, lead to obtainment of understanding, to awakening of understanding, to abundance of understanding, to the state of great understanding, to the state of wide understanding, to the state of abundant understanding, to the state of profound understanding, to the state of unequalled understanding, to the state of over-all understanding, to the state of much understanding, to the state of quick understanding, to the state of rapid (light) understanding, to the state of laughing understanding, to the state of impulsive understanding, to the state of keen understanding, to the state of penetrative understanding. What four? Waiting on good men, hearing the True Idea, careful attention, and practice in accordance with the True Idea. These four ideas, when developed and made much of, lead to obtainment of understanding, … to penetrative understanding”.
5. Lead to obtainment of understanding: What is obtainment of understanding? It is the attaining, obtaining, reaching, achieving, sounding, realizing and undertaking of the four kinds of path knowledge, the four PTS vp En 367 kinds of fruition knowledge, the four kinds of discrimination knowledge, the six kinds of direct knowledge, the seventy-three kinds of knowledge (Tr. I), the seventy-seven kinds of knowledge. They lead to the obtainment of understanding: this is obtainment of understanding.
6. Lead to awakening of understanding: What is awakening of understanding? In the seven kinds of initiate and in the magnanimous ordinary man understanding increases; in the arahant understanding [has] increase[d]. Increases lead to awakening of understanding: this is awakening of understanding.
7. Lead to abundance of understanding: What is abundance of understanding? In the seven kinds of initiate and in the magnanimous ordinary man understanding comes to abundance; in the arahant understanding has come to abundance. They lead to abundance of understanding: this is abundance of understanding.
8. Lead to the state of great understanding: what is great understanding? It embraces the great meanings, thus it is great understanding. It embraces the great ideas, thus it is great understanding. It embraces the great languages, thus it is great understanding. It embraces the great perspicuities, thus it is great understanding. It embraces the great Virtue Aggregates … the great Concentration Aggregates … the great Understanding Aggregates … the great Deliverance Aggregates … the great Knowledge-and-Seeing-of-Deliverance Aggregates … the great possibles and impossibles … the great abidings and attainments … the great noble actualities … the great foundations of mindfulness … the great right endeavours … the great roads to power (bases for success) … the great faculties … the great powers … the great enlightenment factors … the great noble path … the great noble fruits of asceticism … the great direct knowledges … the great ultimate meaning, nibbana, thus it is great understanding. They lead to the state of great understanding: this is great understanding.
9. Lead to the state of wide understanding: What is wide understanding? Knowledge about widely separate aggregates occurs, thus it is wide understanding. Knowledge about widely separate principles occurs, thus it is wide understanding. Knowledge about widely separate bases … about widely separate dependent originations … about widely separate ideas unapprehendable owing to voidness … about widely separate meanings … about widely separate ideas … about widely separate languages … about widely separate perspicuities … about widely separate virtue aggregates … concentration aggregates … understanding aggregates … liberation aggregates … knowledge-and-seeing-of-deliverance aggregates … possibles and impossibles … abidings and attainments … noble actualities … foundations PTS vp En 368 of mindfulness … right endeavours … roads to power (bases for success) … faculties … powers … enlightenment factors … noble paths … fruits of asceticism … Knowledge about widely separate direct knowledges occurs, thus it is wide understanding. Knowledge about the ultimate meaning, nibbana, occurs, having surmounted the ideas widely separated shared by ordinary men, thus it is wide understanding. They lead to the state of wide understanding: this is wide understanding.
10. Lead to the state of abundant understanding: what is abundant understanding? It embraces abundant meanings, thus it is abundant understanding. It embraces abundant ideas, thus it is abundant understanding. It embraces abundant languages, … [and so on as in § 8 up to] … It embraces abundant direct knowledges, thus it is abundant understanding. It embraces the ultimate meaning, nibbana, thus it is abundant understanding. They lead to the state of abundant understanding: this is abundant understanding.
11. Lead to the state of profound understanding: what is profound understanding? Knowledge about profound aggregates occurs, thus it is profound understanding. Knowledge about profound principles occurs, thus it is profound understanding. Knowledge about profound bases … [and so on as in § 9 up to] … … Knowledge about profound direct knowledges occurs, thus it is profound understanding. Knowledge about the ultimate meaning, nibbana, occurs, thus it is profound understanding. They lead to the state of profound understanding: this is profound understanding.
12. Lead to the state of unequalled understanding: what is unequalled understanding? When a [noble] person has arrived at, realized and sounded the discrimination of meanings by definition of meanings, has arrived at, realized and sounded the discrimination of ideas by definition of ideas, has arrived at, realized and sounded the discrimination of language by definition of languages, has arrived at, realized and sounded the discrimination of perspicuity by definition of perspicuities, then no one else [who is an ordinary man] can reach his meanings, ideas, languages and perspicuities, he being unreachable by others [who are ordinary men], thus it is unequalled understanding.
The understanding of a magnanimous ordinary man is far from, far distant from, very far distant from, not near to, not equal to, the understanding of the Eighth [Person, who has the stream entry path]; compared to the magnanimous ordinary man the Eighth has unequalled understanding. The understanding of the Eighth is far from … not equal to, the understanding of a Stream Enterer; compared to the Eighth the Stream PTS vp En 369 Enterer has unequalled understanding. The understanding of the Stream Enterer is far from, … not equal to, the understanding of the Once-returner; compared to the Stream Enterer the Once-returner has unequalled understanding. The understanding of the Once-returner is far from, … is not equal to, the understanding of the Non-returner; compared to the Once-returner the Non-returner has unequalled understanding. The understanding of the Non-returner is far from, … not equal to, the understanding of the Arahant; compared to the Non-returner the Arahant has unequalled understanding. The understanding of the Arahant is far from, … not equal to, the understanding of the Pacceka Buddha; compared to the Arahant the Pacceka Buddha has unequalled understanding.
Compared with a Pacceka Buddha and the world with its deities a Perfect One, accomplished and fully enlightened, is the highest with unequalled understanding; he is skilled in the categories of understanding, has every category of knowledge, has arrived at the discriminations, has reached the four kinds of assurance, wields the ten powers, is the man bull, the man lion, the man tusker, the man thoroughbred, the man burden-drawer, with unlimited knowledge, unlimited vigour, unlimited fame, rich [in knowledge], wealthy [in knowledge], prosperous [in knowledge], the leader, the leader away (discipliner), leader along [the way of the True Idea], who causes understanding, causes pondering, causes regard, and causes confidence. “For that Blessed One is the Arouser of the unarisen Path, the Producer of the unproduced Path, the Declarer of the undeclared Path, the Path Knower, Path Seer, Skilled in the Path; but now when the disciples dwelling in conformity with the Path become possessed of it, they do so following after him”. “For that Blessed One knows what is to be known, sees what is to be seen; he is the Eye, the Knowledge, the True Idea, the Divine (brahma), the Mover, the Maintainer, the Bringer of Good, the Giver of the Deathless, the Lord of the True Idea, The Perfect One”. There is nothing that the Blessed One has not known, has not seen, has not recognized, has not realized, has not sounded with understanding, including the past, the future and the presently-arisen. All ideas come into the focus of the Blessed One's knowledge in all aspects. Whatever there is knowable that can be known—a meaning belonging to himself or a meaning belonging to another or a meaning belonging to both or a meaning belonging to the here and now or a meaning belonging to the life to come or an evident meaning or a profound meaning or a cryptic meaning or a revealed meaning or a deducible meaning or a direct meaning or a blameless meaning or an undefiled meaning or a cleansing meaning or an ultimate-meaning meaning—all that is available within the Buddha-knowledge. All body PTS vp En 370 action is available to the Buddha's knowledge, all speech action is available to the Buddha's knowledge, all mind action is available to the Buddha's knowledge. The Buddha's knowledge of the past is unobstructed, the Buddha's knowledge about the future is unobstructed, the Buddha's knowledge about the presently arisen is unobstructed. As much as is knowable, so much is his knowledge; as much as is his knowledge, so much is knowable; his knowledge is co-extensive with the knowable, and the knowable is co-extensive with his knowledge; his knowledge does not exceed the knowable, and there is nothing knowable that exceeds his knowledge; these ideas are co-extensive with each other. Just as, when two congruent surfaces are in close contact, the lower congruent surface does not exceed the upper congruent surface nor the upper the lower but both are co-extensive with each other, so too, for the Buddha, the Blessed One, the knowable and the knowledge are ideas co-extensive with each other. As much as is knowable, so much is his knowledge; … [as above] … these ideas are co-extensive with each other. The Buddha's knowledge reaches all ideas; all ideas are available to the adverting of the Buddha, the Blessed One, available to his wish, available to his attention, available to his thought-arising. The Buddha's knowledge reaches all beings; the Buddha knows the biasses of all beings, their underlying tendencies, their temperaments, their resolutions, he understands them as with little dust on their eyes, as with much dust on their eyes, as with keen faculties, as with dull faculties, as of good parts, as of bad parts, as easy to instruct, as hard to instruct, as capable and incapable. The world with its deities, its Māras and its Brahmā Gods, this generation with its ascetics and brahmans, with its princes and men occurs within the sphere of the Buddha-knowledge. Just as any fishes and turtles including even the biggest sea-monster are contained within the great ocean, so too, this world … occurs within the sphere of the Buddha-knowledge. Just as any winged creatures including even the Venateyya Garuḷa are contained within a part of space, so too, even those possessed of understanding equal to Sāriputta are contained within a part of the Buddha-knowledge. The Buddha-knowledge reaches the understanding of deities and human beings and overtakes it. Even those Khattiya scholars, Brahman scholars, householder scholars, ascetic scholars, who are clever and know others' theories as a hair-splitter [knows archery], who must, one would think, go about breaking down [wrong] views with the understanding that they have—even they, when they have contrived a problem and approached the Perfect One and asked cryptic and hidden [questions], have their questions explained and answered by the Blessed One with the reasons made clear, and they become the Blessed One's converts; and then the Blessed One himself shines forth exceedingly PTS vp En 371 there in understanding. Thus he is the highest of those with unequalled understanding. They lead to the state of unequalled understanding: this is unequalled understanding.
13. Lead to the state of over-all understanding: what is over-all understanding? It overcomes (abhibhuyyati) greed, thus it is over-all (bhūri) understanding; it has overcome, thus it is over-all understanding. It overcomes hate …; it has overcome, … It overcomes delusion …; it has overcome delusion … It overcomes anger … enmity … contempt … domineering … envy … avarice … deceit … fraud … obduracy … presumption … pride (conceit) … haughtiness … vanity … negligence … all defilements … all misconduct … all action-formations … It overcomes all action that leads to being, thus it is over-all understanding; it has overcome, thus it is over-all understanding.
Greed is a foe (ari); it crushes that foe: thus it is over-all (bhūri=bhū-ari) understanding. Hate is a foe; it crushes that foe: thus it is over-all understanding. Delusion is a foe … anger … enmity … contempt … domineering … envy … avarice … deceit … fraud … obduracy … presumption … pride (conceit) … haughtiness … vanity … negligence … all defilements … all misconduct … all action-formations … All action that leads to being is a foe; it crushes that foe: thus it is over-all understanding.
The Earth is called the “Over-All” (bhūri); he is possessed of understanding that is abundant, extended like the Earth: thus it is over-all understanding. Furthermore, these are terms for understanding, namely, the Over-All (bhūri=bhūte atthe ramati [Comy.]), Wisdom, and the Guide: thus it is over-all understanding.
They lead to the state of over-all understanding, this is over-all understanding.
14. Lead to the state of much understanding: what is much understanding? Here there is someone to whom understanding is important, who has the temperament of understanding, who has the bias of understanding, who is resolute upon understanding, whose flag is understanding, whose banner is understanding, in whom understanding is dominant, who has much investigation, who has much scrutiny, who has much examination, who has much the manner of observing, whose idea is observing, who abides in the evident, whose temperament is that, who gives that importance, who has that in plenty, who tends to that, who inclines to that, who leans to that, who is resolute upon that, in whom that is dominant.
Just as one to whom a class [of students] is important is called “One much with a class”, as one to whom a robe is important is called “One much with a robe”, as one to whom a bowl is important is called “One PTS vp En 372 much with a bowl”, as one to whom a resting place is important is called “One much with a resting place”, so too here there is someone to whom understanding is important, who has the temperament of understanding, … [as above] in whom that is dominant. They lead to the state of much understanding: this is much understanding.
15. Lead to the state of quick understanding: what is quick understanding? It very quickly perfects the virtues, thus it is quick understanding. It very quickly perfects restraint of the faculties, thus it is quick understanding. It very quickly perfects knowledge of the right amount in eating … devotion to wakefulness … the virtue aggregate … the concentration aggregate … the understanding aggregate … the deliverance aggregate … the knowledge-and-seeing-of-deliverance aggregate. It very quickly penetrates the possibles and impossibles, thus it is quick understanding. It very quickly perfects the abidings and attainments, … It very quickly penetrates the noble actualities, … It very quickly develops the foundations of mindfulness, … It very quickly develops the right endeavours, … It very quickly develops the roads to power (bases for success), … It very quickly develops the faculties, … It very quickly develops the powers, … It very quickly develops the enlightenment factors, … It very quickly develops the path, … It very quickly realizes the fruits of asceticism, … It very quickly penetrates the direct knowledges, … It very quickly realizes the ultimate meaning, nibbana, thus it is quick understanding. They lead to the state of quick understanding: this is quick understanding.
16. Lead to rapid (light) understanding: what is rapid (light) understanding? It very rapidly perfects the virtues, thus it is rapid understanding. It very rapidly perfects restraint of the faculties, … [and so on as in § 15 up to] … It very rapidly realizes the ultimate meaning, nibbana, thus it is rapid (light) understanding. They lead to the state of rapid (light) understanding: this is rapid (light) understanding.
17. Lead to the state of laughing understanding: what is laughing understanding? Here someone with much laughter, blitheness, content and gladness perfects the virtues, thus it is laughing understanding. With much laughter, blitheness, content and gladness he perfects restraint of the faculties, … [and so on as in § 15 up to] … With much laughter, blitheness, content and gladness he realizes the ultimate meaning, nibbana, thus it is laughing understanding. They lead to the state of laughing understanding: this is laughing understanding.
18. Lead to the state of impulsive understanding: what is impulsive understanding?
Any materiality whatever, whether past, future or presently-arisen, PTS vp En 373 internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near—it soon gives the impulse that all materiality is impermanent, thus it is impulsive understanding; it soon gives the impulse that it is painful, thus it is impulsive understanding; it soon gives the impulse that it is not self, thus it is impulsive understanding. Any feeling whatever, … [and so on with the 201 ideas listed in Tr. I § 5 up to] … Any ageing-and-death whatever, whether past, future or presently-arisen, … it soon gives the impulse that it is impermanent, thus it is impulsive understanding; it soon gives the impulse that it is painful, thus it is impulsive understanding; it soon gives the impulse that it is not self, thus it is impulsive understanding.
Having calculated and judged and clarified and made clear that past, future and presently-arisen materiality is impermanent in the sense of destruction, painful in the sense of terror, and not self in the sense of having no core, it soon gives the impulse to the cessation of materiality, nibbana, thus it is impulsive understanding. Having calculated and judged and clarified and made clear that past, future and presently-arisen materiality is impermanent, formed, dependently arisen, subject to destruction, subject to fall, subject to fading away, subject to cessation, it soon gives the impulse to the cessation of materiality, nibbana, thus it is impulsive understanding. Having calculated and judged and clarified and made clear that past, future and present feeling … [and so on with the rest of the 201 ideas listed in Tr. I § 5 up to] … Having calculated … that past, future and presently-arisen ageing-and-death is impermanent in the sense of destruction … subject to cessation, it soon gives the impulse to the cessation of ageing-and-death, nibbana, thus it is impulsive understanding. They lead to the state of impulsive understanding: this is impulsive understanding.
19. Lead to the state of keen understanding: what is keen understanding? It soon severs defilements, thus it is keen understanding. It does not endure an arisen thought of sense-desire, abandons it, removes it, eliminates it, annihilates it, thus it is keen understanding. It does not endure an arisen thought of ill-will, … an arisen thought of cruelty, abandons it, removes it, eliminates it, annihilates it, thus it is keen understanding. Whenever evil unprofitable ideas arise, it does not endure them, abandons them, removes them, eliminates them, annihilates them, thus it is keen understanding. It does not endure arisen greed, … hate, … delusion, … anger, … enmity, … contempt, … domineering, … envy, … avarice, … deceit, … fraud, … obduracy, … presumption, … pride (conceit), … haughtiness, … vanity, … negligence, … any defilements, … any misconduct, … any action-formations, … It does not endure any action that leads to being, abandons it, removes it, eliminates it, annihilates it, thus it is keen understanding. PTS vp En 374 In a single session the four paths and the four fruits of asceticism and the four discriminations and the six direct knowledges are acquired, realized and sounded with understanding, thus it is keen understanding. They lead to the state of keen understanding: this is keen understanding.
20. Lead to the state of penetrative understanding: what is penetrative understanding? Here someone has much sense of urgency about all formations, much fear, much dissatisfaction, much boredom, much disenchantment, has no enjoyment externally in any formations; he penetrates, explodes the mass of greed never penetrated, never exploded before, thus it is penetrative understanding. He penetrates, explodes the mass of hate … mass of delusion … mass of anger … enmity … contempt … domineering … envy … avarice … deceit … fraud … obduracy … presumption … pride (conceit) … haughtiness … vanity … negligence … all defilements … all misconduct … all action-formations … He penetrates, explodes all action that leads to being never penetrated and exploded before, thus it is penetrative understanding. They lead to the state of penetrative understanding: this is penetrative understanding.
21. There are sixteen kinds of understanding. The person possessed of these sixteen kinds of understanding has reached the discriminations.
22. There are two kinds of persons who have reached the discriminations: one has had previous practice [in former lives], and the other has not. He who has had previous practice surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible [in two].
23. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and two who have had previous practice: one is well taught and the other is not. He who is well taught surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
24. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and two who have had previous practice, and two who are well taught: one does much teaching and the other does not. He who does much teaching surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
25. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and two who have had previous practice, and two who are well taught, and two who do much teaching: one is dependent upon a teacher, and the other is not. He who is dependent upon a teacher surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
26. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and who have had previous practice, and who are well taught, and who do much teaching, and who are dependent upon a teacher: one abides much [in insight and fruition], and the other does not. He who abides much PTS vp En 375 surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
27. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and who have had previous practice, and who are well taught, and who do much teaching, and who are dependent upon a teacher, and who abide much: one does much reviewing, and the other does not: He who does much reviewing surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
28. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and who have had previous practice, and who are well taught, and who do much teaching, and who are dependent upon a teacher, and who abide much, and who do much reviewing: one has reached the initiates' discriminations, and the other has reached the adepts' discriminations. He who has reached the adepts' discriminations surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
29. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and who have had previous practice, and who are well taught, and who do much teaching, and who are dependent upon a teacher, and who abide much, and who do much reviewing, and who have reached the adepts' discriminations: one has reached the disciples' perfections, and the other has not. He who has reached the disciples' perfections surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible.
30. There are two kinds of persons who have reached the discriminations, and who have had previous practice, and who are well taught, and who do much teaching, and who are dependent upon a teacher, and who abide much, and who do much reviewing, and who have reached the adepts' discriminations: one who has reached the disciples' perfections, and one who is a Pacceka Buddha. He who is a Pacceka Buddha surpasses the other, exceeds him, is more distinguished; and his knowledge is divisible. Compared with a Pacceka Buddha and the world with its deities a Perfect One, accomplished and fully enlightened, is the highest who has reached the discriminations; he is skilled in the categories of understanding, … [and so on as in § 12 up to] … and then the Blessed One himself shines forth exceedingly there in understanding. Thus he is the highest of those who have reached the discriminations.
The Treatise on the Great Understanding is completed.
Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ* này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ nhàm chán được tròn đủ. Sự quán xét về khổ não ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vĩ đại được tròn đủ. Sự quán xét về vô ngã ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ sắc bén được tròn đủ. Sự quán xét về nhàm chán ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ rộng lớn được tròn đủ. Sự quán xét về ly tham ái ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ thâm sâu được tròn đủ. Sự quán xét về diệt tận ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vô song được tròn đủ. Sự quán xét về từ bỏ ở sắc thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Bảy tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến bản tánh sáng suốt được tròn đủ. Tám tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ phổ thông được tròn đủ. Chín tuệ này được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ vi tiếu được tròn đủ.
Tuệ vi tiếu là sự phân tích về phép biện giải. Từ việc xác định ý nghĩa bởi tuệ ấy, sự phân tích về ý nghĩa là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định pháp, sự phân tích về pháp là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định ngôn từ, sự phân tích về ngôn từ là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Từ việc xác định phép biện giải, sự phân tích về phép biện giải là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ. Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Sự quán xét về vô thường ở thọ … ở tưởng … ở các hành … ở thức … ở mắt … ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? …(như trên)… Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ? Sự quán xét về từ bỏ ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ gì được tròn đủ?
Sự quán xét về vô thường ở lão tử được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. Sự quán xét về vô thường ở lão tử thuộc quá khứ hiện tại vị lai được tu tập, được làm cho sung mãn khiến tuệ đổng tốc được tròn đủ. …(nt)… Bốn phân tích này của vị ấy là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhập Lưu.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự tác chứng Quả Nhất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả Bất Lai. … đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự tác chứng Quả A-la-hán.
Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến sự tiến triển của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ phổ thông …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vô song …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ bao la …(như trên)… đưa đến sự dồi dào của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ sắc bén …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt. Bốn là gì? Thân cận bậc thiện nhân, lắng nghe Chánh Pháp, tác ý đúng đường lối, thực hành đúng theo ý nghĩa của Pháp. Này các tỳ khưu, bốn pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn đưa đến sự thành đạt về tuệ …(như trên)… đưa đến sự tăng trưởng của tuệ …(như trên)… đưa đến trạng thái tuệ thông suốt.
Đưa đến sự thành đạt về tuệ: Sự thành đạt về tuệ là gì? Là sự đạt được, sự thành đạt, sự đạt đến, sự thành tựu, sự chạm đến, sự tác chứng, sự hoàn thành của bốn trí về Đạo, của bốn trí về Quả, của bốn trí phân tích, của sáu thắng trí, của bảy mươi ba trí,* của bảy mươi bảy trí.* ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự thành đạt về tuệ;’ đây là sự thành đạt về tuệ.
Đưa đến sự tăng trưởng của tuệ: Sự tăng trưởng của tuệ gì? Tuệ của 7 vị Hữu Học và của phàm nhân hoàn thiện tăng trưởng, tuệ của vị A-la-hán tăng trưởng. ‘Các sự tăng trưởng đã được tăng trưởng đưa đến sự tăng trưởng của tuệ;’ đây là sự tăng trưởng của tuệ.
Đưa đến sự tiến triển của tuệ: Sự tiến triển của tuệ gì? Tuệ của bảy vị Hữu Học và của vị phàm nhân hoàn thiện đi đến sự tiến triển, tuệ của vị A-la-hán đã đi đến sự tiến triển. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự tiến triển của tuệ;’ đây là sự tiến triển của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại: Tuệ vĩ đại là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các pháp vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các ngôn từ vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các phép biện giải vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giới uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các định uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các chánh cần vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các quyền vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các lực vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các giác chi vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ các thắng trí vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vĩ đại’ là tuệ vĩ đại. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vĩ đại;’ đây là tuệ vĩ đại.
Đưa đến trạng thái tuệ phổ thông: Tuệ phổ thông là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các xứ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các pháp phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông.
‘Trí vận hành về các ngôn từ phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các phép biện giải phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giới uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các định uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các chánh cần phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các quyền phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các lực phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các giác chi phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vận hành về các thắng trí phổ thông và khác biệt’ là tuệ phổ thông. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ phổ thông. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ phổ thông;’ đây là tuệ phổ thông.
Đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn: Tuệ rộng lớn là gì? ‘Nắm giữ các ý nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các pháp rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các ngôn từ rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các phép biện giải rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giới uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các định uẩn nghĩa rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các tuệ uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giải thoát-tri-kiến uẩn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự hợp lý và không hợp lý rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự an trú và chứng đạt rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chân lý cao thượng rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các sự thiết lập niệm rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các chánh cần rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các nền tảng thần thông rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các quyền rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các lực rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các giác chi rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Thánh Đạo rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các Quả vị Sa-môn rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ các thắng trí rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Nắm giữ Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối rộng lớn’ là tuệ rộng lớn. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ rộng lớn;’ đây là tuệ rộng lớn.
Đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu: Tuệ thâm sâu là gì? ‘Trí vận hành về các uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các xứ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự sanh khởi tùy thuận thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các trường hợp không đạt được không tánh thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ý nghĩa thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các pháp thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các ngôn từ thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các phép biện giải thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giới uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các định uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các tuệ uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giải thoát-tri-kiến uẩn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự hợp lý và không hợp lý thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự an trú và chứng đạt thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chân lý cao thượng thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các sự thiết lập niệm thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các chánh cần thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các nền tảng thần thông thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các quyền thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các lực thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các giác chi thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Thánh Đạo thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các Quả vị Sa-môn thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vận hành về các thắng trí thâm sâu’ là tuệ thâm sâu. ‘Trí vượt qua các pháp phổ biến đến phàm nhân rồi vận hành về Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ thâm sâu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thâm sâu;’ đây là tuệ thâm sâu.
Đưa đến trạng thái tuệ vô song: Tuệ vô song là gì? Cá nhân nào, do xác định ý nghĩa có sự phân tích về ý nghĩa được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định pháp có sự phân tích về pháp được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định ngôn từ có sự phân tích về ngôn từ được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, do xác định phép biện giải có sự phân tích về phép biện giải được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ, đối với vị ấy không ai có thể vượt trội về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. ‘Và vị ấy là không thể bị vượt trội bởi những người khác’ là tuệ vô song.
Tuệ của phàm nhân hoàn thiện so với tuệ của hạng thứ tám (Đạo Nhập Lưu) là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với phàm nhân hoàn thiện, hạng thứ tám là có tuệ vô song. Tuệ của hạng thứ tám so với tuệ của vị Nhập Lưu là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với hạng thứ tám, vị Nhập Lưu là có tuệ vô song.
Tuệ của vị Nhập Lưu so với tuệ của vị Nhất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Nhất Lai so với tuệ của vị Bất Lai là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Nhất Lai, vị Bất Lai là có tuệ vô song. Tuệ của vị Bất Lai so với tuệ của vị A-la-hán là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị Bất Lai, vị A-la-hán là có tuệ vô song. Tuệ của vị A-la-hán so với tuệ của vị Phật Độc Giác là xa vời, là xa vời rõ rệt, là xa vời vô cùng rõ rệt, là không gần, là không kề cận; so với vị A-la-hán, vị Phật Độc Giác là có tuệ vô song; so với vị Phật Độc Giác và thế gian luôn cả chư Thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là có tuệ vô song tối thắng. Là vị thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư, là người như loài rồng, là người có dòng dõi cao quý, là người cất đi gánh nặng, là vị có trí vô biên, có oai lực vô biên, có danh vọng vô biên, giàu có (về trí tuệ), có tài sản (trí tuệ) lớn lao, có của cải (trí tuệ), là vị lãnh đạo, vị hướng đạo, vị dẫn dắt, vị giúp cho nhận biết, vị giúp cho suy nghiệm, vị giúp cho quan sát, vị tạo niềm tin.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị làm sanh lên đạo lộ chưa được sanh lên, là vị làm sanh khởi đạo lộ chưa được sanh khởi, là vị tuyên thuyết về đạo lộ chưa được tuyên thuyết, là vị biết về đạo lộ, là vị hiểu rõ về đạo lộ, là vị thông thạo về đạo lộ, hơn nữa hiện nay các Thinh Văn của Ngài là những người đi theo đạo lộ rồi an trú, là những người tiếp nối.
Bởi vì Ngài là đức Thế Tôn, là vị biết điều đã được biết, thấy điều đã được thấy, là mắt, là trí, là Pháp, là đấng Brahma, là vị nói ra, là vị nói lên, là vị đem lại ý nghĩa, là vị ban phát Bất Tử, là đấng Pháp Chủ, là đức Như Lai. Đối với đức Thế Tôn ấy, không gì là không được biết, không được thấy, không được hiểu, không được tác chứng, không được chạm đến bởi tuệ. Tính luôn cả quá khứ hiện tại vị lai, tất cả các pháp với mọi biểu hiện đều nổi bật ở trí của đức Phật Thế Tôn. Bất cứ điều gì được gọi là cần được biết, tất cả các điều ấy đều được biết. Ý nghĩa thuộc về bản thân, hoặc ý nghĩa thuộc về người khác, hoặc ý nghĩa thuộc về cả hai, hoặc ý nghĩa trong thời hiện tại, hoặc ý nghĩa liên quan đến thời vị lai, hoặc ý nghĩa hời hợt, hoặc ý nghĩa thâm sâu, hoặc ý nghĩa khó hiểu, hoặc ý nghĩa được che đậy, hoặc ý nghĩa cần được biết, hoặc ý nghĩa đã được kết luận, hoặc ý nghĩa không sai trái, hoặc ý nghĩa không ô nhiễm, hoặc ý nghĩa thuần khiết, hoặc ý nghĩa tuyệt đối, tất cả các điều ấy đều xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Tất cả các nghiệp về thân đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về khẩu đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn. Tất cả các nghiệp về ý đều được xoay chuyển thuận theo trí của đức Phật Thế Tôn.
Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm đã qua là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm chưa đến là không bị chướng ngại. Trí của đức Phật Thế Tôn về thời điểm hiện tại là không bị chướng ngại. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Giống như hai phần của chiếc hộp được gắn liền khít khao, phần hộp ở bên dưới không vượt quá phần bên trên, phần hộp ở bên trên không vượt qua phần bên dưới; chúng có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Tương tợ y như thế, điều cần được biết và trí của đức Phật Thế Tôn có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Điều cần được biết là đến đâu, trí (của Ngài) là đến thế ấy; trí (của Ngài) là đến đâu, điều cần được biết là đến thế ấy. Trí (của Ngài) có cùng ranh giới với điều cần được biết, điều cần được biết có cùng ranh giới với trí (của Ngài). Sau khi vượt qua điều cần được biết, trí (của Ngài) không vận hành, không có hiện tượng của điều cần được biết vượt qua trí (của Ngài); các pháp ấy có tình trạng cùng chung ranh giới lẫn nhau. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả các pháp.
Đối với đức Phật Thế Tôn, tất cả các pháp được gắn liền với sự hướng tâm, được gắn liền với sự mong muốn, được gắn liền với tác ý, được gắn liền với sự sanh lên của tâm. Trí của đức Phật Thế Tôn vận hành ở tất cả chúng sanh. Đức Phật biết thiên kiến, biết xu hướng ngủ ngầm, biết tánh hạnh, biết khuynh hướng của tất cả chúng sanh. Ngài nhận biết những chúng sanh có tầm nhìn bị vấy bụi ít và có tầm nhìn bị vấy bụi nhiều, có giác quan sắc sảo và có giác quan cùn lụt, có tánh khí tốt và có tánh khí tồi, có thể hiểu được một cách nhanh chóng và có thể hiểu được một cách khó khăn, có khả năng và không có khả năng. Thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài cá và rùa nào, thậm chí tính luôn loại cá ông cá voi, đều xoay chuyển ở giữa biển cả bao la. Tương tợ như vậy, thế gian tính luôn cõi chư thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người xoay chuyển ở bên trong trí của đức Phật. Giống như bất cứ loài có cánh nào, thậm chí tính luôn cả Kim-sỉ-điểu thuộc loại Venateyya, đều xoay chuyển ở khoảng không gian của bầu trời. Tương tợ y như thế, ngay cả những vị là tương đương với Sārīputta về tuệ, những vị ấy cũng chỉ xoay chuyển trong phạm vi trí của đức Phật.
Trí của đức Phật xâm nhập, chiếm cứ, và ngự trị tuệ của chư thiên và nhân loại. Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài là tối thắng và có tuệ vô song. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vô song;’ đây là tuệ vô song.
Đưa đến trạng thái tuệ bao la: Tuệ bao la là gì? ‘Chế ngự tham ái’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sân’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự si’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la. ‘Chế ngự sự giận dữ’ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … ‘Chế ngự tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ bao la. ‘Đã được chế ngự’ là tuệ bao la.
‘Tham ái là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sân là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Si là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. ‘Sự giận dữ … Sự căm hận … Sự gièm pha … Sự hà hiếp … Sự ganh tỵ … Sự bỏn xẻn … Sự xảo trá … Sự đạo đức giả … Sự bướng bỉnh … Sự cống cao … Sự ngã mạn … Sự cao ngạo … Sự kiêu căng … Sự buông lung … Toàn bộ phiền não … Tất cả các ác hạnh … Tất cả các hành … ‘Tất cả nghiệp dẫn đến hữu là kẻ thù. Tuệ nghiền nát kẻ thù ấy’ là tuệ bao la. Quả đất được gọi là bao la. ‘Đức Phật hội đủ về tuệ ấy có tính rộng lớn tương tợ như quả đất,’ như thế là tuệ bao la. Hơn nữa, điều này là sự đặt tên cho tuệ. ‘Bao la, mẫn tiệp, liên quan đến lãnh đạo’ là tuệ bao la. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ bao la;’ đây là tuệ bao la.
Đưa đến sự dồi dào của tuệ: Sự dồi dào của tuệ là gi? Ở đây, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. Ví như người chú trọng về đồ chúng được gọi là ‘Người có nhiều đồ chúng;’ người chú trọng về y được gọi là ‘Người có nhiều y;’ người chú trọng về bình bát được gọi là ‘Người có nhiều bình bát;’ người chú trọng về sàng tọa được gọi là ‘Người có nhiều sàng tọa;’
tương tợ như thế, có người chú trọng về tuệ, thực hành về tuệ, có thiên hướng về tuệ, có khuynh hướng về tuệ, có tuệ là ngọn cờ, có tuệ là biểu hiệu, có tuệ là pháp chủ đạo, có nhiều tìm hiểu, nhiều suy xét, nhiều xem xét, nhiều quan sát, có sự việc để quan sát, an trú vào sự việc rõ ràng, thực hành tuệ ấy, chú trọng tuệ ấy, dồi dào tuệ ấy, thuận theo tuệ ấy, xuôi theo tuệ ấy, nghiêng theo tuệ ấy, khuynh hướng về tuệ ấy, có tuệ ấy là chủ đạo. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến sự dồi dào của tuệ;’ đây là sự dồi dào của tuệ.
Đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén: Tuệ nhạy bén là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ việc thu thúc các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giới uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ định uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ tuệ uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các nền tảng thần thông vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các quyền vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các lực vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập các giác chi vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng mau chóng’ là tuệ nhạy bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhạy bén;’ đây là tuệ nhạy bén.
Đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng: Tuệ nhẹ nhàng là gì? ‘Làm tròn đủ các giới vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự thu thúc các quyền vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự tri túc về vật thực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ giới uẩn … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các chân lý cao thượng vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các sự thiết lập niệm vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các chánh cần vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các nền tảng của thần thông vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các quyền vô cùng nhẹ
nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các lực vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập các giác chi vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tu tập Thánh Đạo vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng các Quả vị Sa-môn vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Thấu triệt các thắng trí vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối vô cùng nhẹ nhàng’ là tuệ nhẹ nhàng. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ nhẹ nhàng;’ đây là tuệ nhẹ nhàng.
Đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu: Tuệ vi tiếu là gì? Ở đây có người: ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ các giới’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự thu thúc các quyền’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự tri túc về vật thực’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ sự gắn bó với tỉnh thức’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan làm tròn đủ giới uẩn’ … định uẩn … tuệ uẩn … giải thoát uẩn … giải thoát-tri-kiến uẩn … thấu triệt các sự hợp lý và không hợp lý … làm tròn đủ sự an trú và chứng đạt … thấu triệt các chân lý cao thượng … tu tập các sự thiết lập niệm … tu tập các chánh cần … tu tập các nền tảng thần thông … tu tập các quyền … tu tập các lực … tu tập các giác chi … tu tập Thánh Đạo … tác chứng các Quả vị Sa-môn’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan thấu triệt các thắng trí’ là tuệ vi tiếu. ‘Có nhiều tươi cười, có nhiều vui thích, có nhiều hài lòng, có nhiều hân hoan tác chứng Niết Bàn có ý nghĩa tuyệt đối’ là tuệ vi tiếu. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ vi tiếu;’ đây là tuệ vi tiếu.
Đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc: Tuệ đổng tốc là gì? Bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc ở gần, về toàn bộ sắc ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Bất cứ thọ nào …(như trên)… Bất cứ tưỏng nào …(như trên)… Bất cứ các hành nào …(như trên)… Bất cứ thức nào thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, nội phần hoặc ngoại phần, thô hoặc tế, thấp kém hoặc cao quý, là ở xa hoặc gần, về toàn bộ thức ấy ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc. Mắt …(như trên)… Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô thường’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là khổ não’ là tuệ đổng tốc, ‘trực nhận một cách mau lẹ là vô ngã’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường theo ý nghĩa đoạn tận, là khổ não theo ý nghĩa kinh hãi, là vô ngã theo ý nghĩa không có cốt lỏi,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc.
Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Sắc thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận sắc là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. Sau khi cân nhắc, xác định, phân biệt, làm rõ rệt rằng: ‘Thọ … Tưởng … Các hành … Thức … Mắt … Lão tử thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai là vô thường, là pháp hữu vi, được tùy thuận sanh khởi, là pháp đoạn tận, là pháp biến hoại, là pháp ly tham ái, là pháp diệt tận,’ ‘trực nhận một cách mau lẹ về sự diệt tận lão tử là Niết Bàn’ là tuệ đổng tốc. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ đổng tốc’ là tuệ đổng tốc.
Đưa đến trạng thái tuệ sắc bén: Tuệ sắc bén là gì? ‘Cắt đứt các phiền não một cách mau lẹ’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu dục tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân độc tầm đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu hãm hại tầm đã sanh lên …(như trên)… các pháp ác bất thiện đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu tham ái đã sanh lên’ là tuệ sắc bén. ‘Không chịu đựng, dứt bỏ, làm tiêu tan, làm chấm dứt, làm cho không hiện hữu sân đã sanh lên … si đã sanh lên … sự giận dữ đã sanh lên … sự căm hận đã sanh lên … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu’ là tuệ sắc bén. ‘Ở một chỗ ngồi, bốn Thánh Đạo, bốn Quả vị Sa-môn, bốn phân tích, sáu thắng trí là được đắc chứng, được tác chứng, được chạm đến bằng tuệ’ là tuệ sắc bén. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ sắc bén’ là tuệ sắc bén.
Đưa đến trạng thái tuệ thông suốt: Tuệ thông suốt là gì? Ở đây, có người có nhiều kinh hoảng về tất cả các hành, có nhiều sợ sệt, có nhiều bất mãn, có nhiều không hứng thú, có nhiều không hứng khởi, tỏ vẻ không hứng thú ở tất cả các hành. ‘Thông suốt, khám phá
tham uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sân uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá si uẩn chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Thông suốt, khám phá sự giận dữ … sự căm hận … sự gièm pha … sự hà hiếp … sự ganh tỵ … sự bỏn xẻn … sự xảo trá … sự đạo đức giả … sự bướng bỉnh … sự cống cao … sự ngã mạn … sự cao ngạo … sự kiêu căng … sự buông lung … toàn bộ phiền não … tất cả các ác hạnh … tất cả các hành … tất cả nghiệp dẫn đến hữu chưa được thông suốt trước đây, chưa được khám phá trước đây’ là tuệ thông suốt. ‘Chúng (bốn pháp ấy) đưa đến trạng thái tuệ thông suốt’ là tuệ thông suốt. Đây là 16 tuệ. Cá nhân hội đủ 16 tuệ này đạt đến (tuệ) phân tích.
Có hai hạng người đạt được phân tích: một hạng đã thực tập trước đây, một hạng đã không thực tập trước đây. Người nào đã thực tập trước đây, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây: một hạng đã nghe nhiều, một hạng đã không nghe nhiều. Người nào nghe nhiều, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều: một hạng có nhiều sự thuyết giảng, một hạng không có nhiều sự thuyết giảng. Người nào có nhiều sự thuyết giảng, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng: một hạng đã nương tựa vào vị thầy, một hạng đã không nương tựa vào vị thầy. Người nào đã nương tựa vào vị thầy, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy: một hạng có nhiều sự an trú,* một hạng không có nhiều sự an trú. Người nào có nhiều sự an trú, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú: một hạng có nhiều sự quán xét lại, một hạng không có nhiều sự quán xét lại. Người nào có nhiều sự quán xét lại, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại: một hạng đạt được sự phân tích của bậc Hữu Học, một hạng đạt được sự phân tích của bậc Vô Học. Người nào đạt được sự phân tích của bậc Vô Học, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng không đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn. Người nào đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Có hai hạng người đạt được phân tích, cả hai đều đã thực tập trước đây, cả hai đều đã nghe nhiều, cả hai đều có nhiều sự thuyết giảng, cả hai đều đã nương tựa vào vị thầy, cả hai đều có nhiều sự an trú, cả hai đều có nhiều sự quán xét lại, cả hai đều đã đạt được sự phân tích của bậc Vô Học: một hạng đạt được sự toàn hảo của vị Thinh Văn, một hạng là vị Độc Giác Phật. Người nào là vị Độc Giác Phật, người ấy là trội hơn, là vượt lên, là khác biệt với vị kia. Trí của vị ấy được khai mở.
Tính luôn vị Độc Giác Phật và thế gian có cả chư thiên, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là tối thắng, đã đạt đến sự phân tích, là thiện xảo về các loại tuệ, có trí đã được phân hạng, có sự phân tích đã được đắc chứng, đã đạt đến bốn sự tự tín, là vị rành rẽ về mười lực, là bậc Nhân Ngưu, là bậc Nhân Sư …(như trên)… Ngay cả các vị thông thái dòng Sát-đế-lỵ, các vị thông thái dòng Bà-la-môn, các vị gia chủ thông thái, các vị Sa-môn thông thái, khôn ngoan, biết đến các giáo thuyết của những người khác như là (mũi tên) xuyên qua sợi tóc, nghĩ rằng họ là những người đi đến đập đổ những khuynh hướng tà kiến nhờ vào tuệ đã đạt được. Những người ấy liên tục chuẩn bị câu hỏi rồi đi đến gặp đức Như Lai và chất vấn. Những câu hỏi khó hiểu và che đậy ấy, khi được giảng giải được trả lời bởi đức Thế Tôn, trở thành những sự việc rõ ràng. Và những người ấy trở thành những người hỗ trợ đối với đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn vô cùng rạng rỡ ở tại nơi ấy, tức là về ‘Tuệ.’ Ngài đã đạt đến sự phân tích và là vị tối thắng.
Phần Giảng về Tuệ được đầy đủ.
Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṁ paripūreti.
Anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṁ paripūreti.
Nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṁ paripūreti.
Virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṁ paripūreti.
Nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṁ paripūreti.
Paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti, sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Vedanāya …pe…
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe …
cakkhusmiṁ …pe…
jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā nibbedhikapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe dukkhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā mahāpaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe anattānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā tikkhapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nibbidānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā vipulapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe virāgānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā gambhīrapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe nirodhānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā asāmantapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne rūpe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Imā satta paññā bhāvitā bahulīkatā paṇḍiccaṁ paripūrenti.
Imā aṭṭha paññā bhāvitā bahulīkatā puthupaññaṁ paripūrenti.
Imā nava paññā bhāvitā bahulīkatā hāsapaññaṁ paripūrenti.
Hāsapaññā paṭibhānapaṭisambhidā.
Tassā atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya.
Tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
Vedanāya …pe…
saññāya …
saṅkhāresu …
viññāṇe …
cakkhusmiṁ …pe…
jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti …pe…
jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe paṭinissaggānupassanā bhāvitā bahulīkatā katamaṁ paññaṁ paripūreti?
Jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti.
Atītānāgatapaccuppanne jarāmaraṇe aniccānupassanā bhāvitā bahulīkatā javanapaññaṁ paripūreti …pe…
tassimā catasso paṭisambhidāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāya.
“Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā sotāpattiphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā sakadāgāmiphalasacchikiriyāya saṁvattanti …pe…
anāgāmiphalasacchikiriyāya saṁvattanti …pe…
arahattaphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā arahattamaggaphalasacchikiriyāya saṁvattanti.
Cattārome, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṁvattanti …pe…
paññābuddhiyā saṁvattanti, paññāvepullāya saṁvattanti, mahāpaññatāya saṁvattanti, puthupaññatāya saṁvattanti, vipulapaññatāya saṁvattanti, gambhīrapaññatāya saṁvattanti, asāmantapaññatāya saṁvattanti, bhūripaññatāya saṁvattanti, paññābāhullāya saṁvattanti, sīghapaññatāya saṁvattanti, lahupaññatāya saṁvattanti, hāsapaññatāya saṁvattanti, javanapaññatāya saṁvattanti, tikkhapaññatāya saṁvattanti, nibbedhikapaññatāya saṁvattanti.
Katame cattāro?
Sappurisasaṁsevo, saddhammassavanaṁ, yonisomanasikāro, dhammānudhammapaṭipatti—
ime kho, bhikkhave, cattāro dhammā bhāvitā bahulīkatā paññāpaṭilābhāya saṁvattanti, paññābuddhiyā saṁvattanti …pe…
nibbedhikapaññatāya saṁvattanti”.
3.1.1. Soḷasapaññāniddesa
Paññāpaṭilābhāya saṁvattantīti katamo paññāpaṭilābho?
Catunnaṁ maggañāṇānaṁ, catunnaṁ phalañāṇānaṁ, catunnaṁ paṭisambhidāñāṇānaṁ, channaṁ abhiññāñāṇānaṁ, tesattatīnaṁ ñāṇānaṁ, sattasattatīnaṁ ñāṇānaṁ lābho paṭilābho patti sampatti phassanā sacchikiriyā upasampadā.
Paññāpaṭilābhāya saṁvattantīti—
ayaṁ paññā paṭilābho.
Paññābuddhiyā saṁvattantīti katamā paññābuddhi?
Sattannañca sekkhānaṁ puthujjanakalyāṇakassa ca paññā vaḍḍhati, arahato paññā vaḍḍhati.
Vaḍḍhitavaḍḍhanā paññābuddhiyā saṁvattantīti—
ayaṁ paññābuddhi.
Paññāvepullāya saṁvattantīti katamaṁ paññāvepullaṁ?
Sattannaṁ sekkhānaṁ puthujjanakalyāṇakassa ca paññāvepullaṁ gacchati.
Arahato paññā vepullagatā paññāvepullāya saṁvattantīti—
idaṁ paññāvepullaṁ.
Mahāpaññatāya saṁvattantīti katamā mahāpaññā?
Mahante atthe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante dhamme pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā niruttiyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante sīlakkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante samādhikkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante paññākkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante sammappadhāne pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante iddhipāde pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni indriyāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni balāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahante bojjhaṅge pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantaṁ ariyamaggaṁ pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantā abhiññāyo pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahantaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ pariggaṇhātīti—mahāpaññā.
Mahāpaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ mahāpaññā.
Puthupaññatāya saṁvattantīti katamā puthupaññā?
Puthunānākhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānādhātūsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāāyatanesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaṭiccasamuppādesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsuññatamanupalabbhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāatthesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānādhammesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāniruttīsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaṭibhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsīlakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsamādhikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāpaññākkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvimuttikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāvihārasamāpattīsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāariyasaccesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsatipaṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsammappadhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāiddhipādesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāindriyesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānābalesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānābojjhaṅgesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāariyamagge ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāsāmaññaphalesu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthunānāabhiññāsu ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthujjanasādhāraṇe dhamme atikkamma paramatthe nibbāne ñāṇaṁ pavattatīti—puthupaññā.
Puthupaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ puthupaññā.
Vipulapaññatāya saṁvattantīti katamā vipulapaññā?
Vipule atthe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule dhamme pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā niruttiyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni paṭibhānāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule sīlakkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule samādhikkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule paññākkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule vimuttikkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule vimuttiñāṇadassanakkhandhe pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni ṭhānāṭṭhānāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā vihārasamāpattiyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni ariyasaccāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule satipaṭṭhāne pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule sammappadhāne pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule iddhipāde pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni indriyāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni balāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipule bojjhaṅge pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulaṁ ariyamaggaṁ pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulāni sāmaññaphalāni pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulā abhiññāyo pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ pariggaṇhātīti—vipulapaññā.
Vipulapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ vipulapaññā.
Gambhīrapaññatāya saṁvattantīti katamā gambhīrapaññā?
Gambhīresu khandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu dhātūsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu āyatanesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paṭiccasamuppādesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu suññatamanupalabbhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu atthesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu dhammesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu niruttīsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paṭibhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sīlakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu samādhikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu paññākkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu vimuttikkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu vimuttiñāṇadassanakkhandhesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu ṭhānāṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu vihārasamāpattīsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu ariyasaccesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu satipaṭṭhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sammappadhānesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu iddhipādesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu indriyesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu balesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu bojjhaṅgesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīre ariyamagge ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīresu sāmaññaphalesu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrāsu abhiññāsu ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīre paramatthe nibbāne ñāṇaṁ pavattatīti—gambhīrapaññā.
Gambhīrapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ gambhīrapaññā.
Asāmantapaññatāya saṁvattantīti katamā asāmantapaññā?
Yassa puggalassa atthavavatthānato atthapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, dhammavavatthānato dhammapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, niruttivavatthānato niruttipaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, paṭibhānavavatthānato paṭibhānapaṭisambhidā adhigatā hoti sacchikatā phassitā paññāya, tassa atthe ca dhamme ca niruttiyā ca paṭibhāne ca na añño koci sakkoti abhisambhavituṁ.
Anabhisambhavanīyo ca so aññehīti—
asāmantapañño.
Puthujjanakalyāṇakassa paññā aṭṭhamakassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Puthujjanakalyāṇakaṁ upādāya aṭṭhamako asāmantapañño.
Aṭṭhamakassa paññā sotāpannassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Aṭṭhamakaṁ upādāya sotāpanno asāmantapañño.
Sotāpannassa paññā sakadāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Sotāpannaṁ upādāya sakadāgāmī asāmantapañño.
Sakadāgāmissa paññā anāgāmissa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Sakadāgāmiṁ upādāya anāgāmī asāmantapañño.
Anāgāmissa paññā arahato paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Anāgāmiṁ upādāya arahā asāmantapañño.
Arahato paññā paccekasambuddhassa paññāya dūre vidūre suvidūre na santike na sāmantā.
Arahantaṁ upādāya paccekabuddho asāmantapañño.
Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṁ upādāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho aggo asāmantapañño.
Paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatappaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho purisanāgo purisājañño purisadhorayho anantañāṇo anantatejo anantayaso aḍḍho mahaddhano dhanavā netā vinetā anunetā paññāpetā nijjhāpetā pekkhetā pasādetā.
“So hi bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido maggānugāmī ca panassa etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā”.
“So hi bhagavā jānaṁ jānāti, passaṁ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato.
Natthi tassa bhagavato aññātaṁ adiṭṭhaṁ aviditaṁ asacchikataṁ aphassitaṁ paññāya.
Atītaṁ anāgataṁ paccuppannaṁ upādāya sabbe dhammā sabbākārena buddhassa bhagavato ñāṇamukhe āpāthaṁ āgacchanti.
Yaṁ kiñci neyyaṁ nāma atthi taṁ sabbaṁ jānitabbaṁ.
Attattho vā parattho vā ubhayattho vā diṭṭhadhammiko vā attho samparāyiko vā attho uttāno vā attho gambhīro vā attho gūḷho vā attho paṭicchanno vā attho neyyo vā attho nīto vā attho anavajjo vā attho nikkileso vā attho vodāno vā attho paramattho vā attho, sabbaṁ taṁ antobuddhañāṇe parivattati.
Sabbaṁ kāyakammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Sabbaṁ vacīkammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Sabbaṁ manokammaṁ buddhassa bhagavato ñāṇānuparivatti.
Atīte buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Anāgate buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Paccuppanne buddhassa bhagavato appaṭihataṁ ñāṇaṁ.
Yāvatakaṁ neyyaṁ tāvatakaṁ ñāṇaṁ, yāvatakaṁ ñāṇaṁ tāvatakaṁ neyyaṁ.
Neyyapariyantikaṁ ñāṇaṁ, ñāṇapariyantikaṁ neyyaṁ.
Neyyaṁ atikkamitvā ñāṇaṁ nappavattati.
Ñāṇaṁ atikkamitvā neyyapatho natthi.
Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
Yathā dvinnaṁ samuggapaṭalānaṁ sammā phusitānaṁ heṭṭhimaṁ samuggapaṭalaṁ uparimaṁ nātivattati, uparimaṁ samuggapaṭalaṁ heṭṭhimaṁ nātivattati, aññamaññapariyantaṭṭhāyino;
evameva buddhassa bhagavato neyyañca ñāṇañca aññamaññapariyantaṭṭhāyino.
Yāvatakaṁ neyyaṁ tāvatakaṁ ñāṇaṁ, yāvatakaṁ ñāṇaṁ tāvatakaṁ neyyaṁ.
Neyyapariyantikaṁ ñāṇaṁ, ñāṇapariyantikaṁ neyyaṁ.
Neyyaṁ atikkamitvā ñāṇaṁ nappavattati.
Ñāṇaṁ atikkamitvā neyyapatho natthi.
Aññamaññapariyantaṭṭhāyino te dhammā.
Sabbadhammesu buddhassa bhagavato ñāṇaṁ pavattati.
Sabbe dhammā buddhassa bhagavato āvajjanappaṭibaddhā ākaṅkhappaṭibaddhā manasikārappaṭibaddhā cittuppādappaṭibaddhā.
Sabbasattesu buddhassa bhagavato ñāṇaṁ pavattati.
Sabbesaṁ sattānaṁ buddho āsayaṁ jānāti, anusayaṁ jānāti, caritaṁ jānāti, adhimuttiṁ jānāti.
Apparajakkhe mahārajakkhe tikkhindriye mudindriye svākāre dvākāre suviññāpaye duviññāpaye bhabbābhabbe satte pajānāti.
Sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
Yathā ye keci macchakacchapā, antamaso timitimiṅgalaṁ upādāya, antomahāsamudde parivattanti, evamevaṁ sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā antobuddhañāṇe parivattati.
Yathā ye keci pakkhino, antamaso garuḷaṁ venateyyaṁ upādāya, ākāsassa padese parivattanti;
evameva yepi te sāriputtasamā paññāya tepi buddhañāṇassa padese parivattanti.
Buddhañāṇaṁ devamanussānaṁ paññaṁ pharitvā atighaṁsitvā tiṭṭhati.
Yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṁ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca.
Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā.
Upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti.
Atha kho bhagavā tattha atirocati yadidaṁ paññāyā”ti.
Aggo asāmantapañño, asāmantapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ asāmantapaññā.
Bhūripaññatāya saṁvattantīti katamā bhūripaññā?
Rāgaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Dosaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Mohaṁ abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Kodhaṁ …pe…
upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme abhibhuyyatīti—bhūripaññā.
Abhibhavitāti—bhūripaññā.
Rāgo ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Doso ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Moho ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Kodho …pe…
upanāho …
makkho …
paḷāso …
issā …
macchariyaṁ …
māyā …
sāṭheyyaṁ …
thambho …
sārambho …
māno …
atimāno …
mado …
pamādo …
sabbe kilesā …
sabbe duccaritā …
sabbe abhisaṅkhārā …pe…
sabbe bhavagāmikammā ari taṁ ariṁ maddanipaññāti—bhūripaññā.
Bhūri vuccati pathavī.
Tāya pathavisamāya vitthatāya vipulāya paññāya samannāgatoti—bhūripaññā.
Api ca paññāya metaṁ adhivacanaṁ.
Bhūri medhā pariṇāyikāti—bhūripaññā.
Bhūripaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ bhūripaññā.
Paññābāhullāya saṁvattantīti katamaṁ paññābāhullaṁ?
Idhekacco paññāgaruko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo.
Yathā gaṇagaruko vuccati “gaṇabāhuliko”ti, cīvaragaruko vuccati “cīvarabāhuliko”ti, pattagaruko vuccati “pattabāhuliko”ti, senāsanagaruko vuccati “senāsanabāhuliko”ti;
evamevaṁ idhekacco paññāgaruko hoti paññācarito paññāsayo paññādhimutto paññādhajo paññāketu paññādhipateyyo vicayabahulo pavicayabahulo okkhāyanabahulo samokkhāyanabahulo sampekkhāyanadhammo vibhūtavihārī taccarito taggaruko tabbahulo tanninno tappoṇo tappabbhāro tadadhimutto tadadhipateyyo.
Paññābāhullāya saṁvattantīti—
idaṁ paññābāhullaṁ.
Sīghapaññatāya saṁvattantīti katamā sīghapaññā?
Sīghaṁ sīghaṁ sīlāni paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sīlakkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ samādhikkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ paññākkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vimuttikkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ vihārasamāpattiyo paripūretīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ariyasaccāni paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ satipaṭṭhāne bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sammappadhāne bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ iddhipāde bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ indriyāni bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ balāni bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ bojjhaṅge bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ ariyamaggaṁ bhāvetīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ sāmaññaphalāni sacchikarotīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ abhiññāyo paṭivijjhatīti—sīghapaññā.
Sīghaṁ sīghaṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—sīghapaññā.
Sīghapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ sīghapaññā.
Lahupaññatāya saṁvattantīti katamā lahupaññā?
Lahuṁ lahuṁ sīlāni paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sīlakkhandhaṁ …pe…
samādhikkhandhaṁ …
paññākkhandhaṁ …
vimuttikkhandhaṁ …
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ vihārasamāpattiyo paripūretīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ariyasaccāni paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ satipaṭṭhāne bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sammappadhāne bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ iddhipāde bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ indriyāni bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ balāni bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ bojjhaṅge bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ ariyamaggaṁ bhāvetīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ sāmaññaphalāni sacchikarotīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ abhiññāyo paṭivijjhatīti—lahupaññā.
Lahuṁ lahuṁ paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—lahupaññā.
Lahupaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ lahupaññā.
Hāsapaññatāya saṁvattantīti katamā hāsapaññā?
Idhekacco hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlāni paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo indriyasaṁvaraṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo bhojane mattaññutaṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo jāgariyānuyogaṁ paripūretīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo sīlakkhandhaṁ …pe…
samādhikkhandhaṁ …
paññākkhandhaṁ …
vimuttikkhandhaṁ …
vimuttiñāṇadassanakkhandhaṁ paripūretīti …pe…
ṭhānāṭṭhānāni paṭivijjhatīti …
vihārasamāpattiyo paripūretīti …
ariyasaccāni paṭivijjhatīti …
satipaṭṭhāne bhāvetīti …
sammappadhāne bhāvetīti …
iddhipāde bhāvetīti …
indriyāni bhāvetīti …
balāni bhāvetīti …
bojjhaṅge bhāvetīti …
ariyamaggaṁ bhāvetīti …pe…
sāmaññaphalāni sacchikarotīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo abhiññāyo paṭivijjhatīti—hāsapaññā.
Hāsabahulo vedabahulo tuṭṭhibahulo pāmojjabahulo paramatthaṁ nibbānaṁ sacchikarotīti—hāsapaññā.
Hāsapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ hāsapaññā.
Javanapaññatāya saṁvattantīti katamā javanapaññā?
Yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Yā kāci vedanā …pe…
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Dukkhato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Anattato khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ khayaṭṭhena dukkhaṁ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …
cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ khayaṭṭhena dukkhaṁ bhayaṭṭhena anattā asārakaṭṭhenāti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā jarāmaraṇanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ khayadhammaṁ vayadhammaṁ virāgadhammaṁ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā rūpanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ …
cakkhu …pe…
jarāmaraṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ aniccaṁ saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ khayadhammaṁ vayadhammaṁ virāgadhammaṁ nirodhadhammanti tulayitvā tīrayitvā vibhāvayitvā vibhūtaṁ katvā jarāmaraṇanirodhe nibbāne khippaṁ javatīti—javanapaññā.
Javanapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ javanapaññā.
Tikkhapaññatāya saṁvattantīti katamā tikkhapaññā?
Khippaṁ kilese chindatīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ byāpādavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ nādhivāseti …pe…
uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ rāgaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Uppannaṁ dosaṁ …pe…
uppannaṁ mohaṁ …
uppannaṁ kodhaṁ …
uppannaṁ upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gametīti—tikkhapaññā.
Ekasmiṁ āsane cattāro ca ariyamaggā cattāri ca sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidāyo cha abhiññāyo adhigatā honti sacchikatā phassitā paññāyāti—tikkhapaññā.
Tikkhapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ tikkhapaññā.
Nibbedhikapaññatāya saṁvattantīti katamā nibbedhikapaññā?
Idhekacco sabbasaṅkhāresu ubbegabahulo hoti uttāsabahulo ukkaṇṭhanabahulo aratibahulo anabhiratibahulo.
Bahimukho na ramati sabbasaṅkhāresu.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ lobhakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ dosakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ mohakkhandhaṁ nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Anibbiddhapubbaṁ appadālitapubbaṁ kodhaṁ …pe…
upanāhaṁ …
makkhaṁ …
paḷāsaṁ …
issaṁ …
macchariyaṁ …
māyaṁ …
sāṭheyyaṁ …
thambhaṁ …
sārambhaṁ …
mānaṁ …
atimānaṁ …
madaṁ …
pamādaṁ …
sabbe kilese …
sabbe duccarite …
sabbe abhisaṅkhāre …pe…
sabbe bhavagāmikamme nibbijjhati padāletīti—nibbedhikapaññā.
Nibbedhikapaññatāya saṁvattantīti—
ayaṁ nibbedhikapaññā.
Imā soḷasa paññāyo.
Imāhi soḷasahi paññāhi samannāgato puggalo paṭisambhidappatto.
3.1.2. Puggalavisesaniddesa
Dve puggalā paṭisambhidappattā—
eko pubbayogasampanno, eko na pubbayogasampanno.
Yo pubbayogasampanno so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā—
eko bahussuto, eko na bahussuto.
Yo bahussuto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā—
eko desanābahulo, eko na desanābahulo.
Yo desanābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā—
eko garūpanissito, eko na garūpanissito.
Yo garūpanissito, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā—
eko vihārabahulo, eko na vihārabahulo.
Yo vihārabahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā—
eko paccavekkhaṇābahulo, eko na paccavekkhaṇābahulo.
Yo paccavekkhaṇābahulo, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā—
eko sekhapaṭisambhidappatto, eko asekhapaṭisambhidappatto.
Yo asekhapaṭisambhidappatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā—
eko sāvakapāramippatto, eko na sāvakapāramippatto.
Yo sāvakapāramippatto, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Dve puggalā paṭisambhidappattā, dvepi pubbayogasampannā, dvepi bahussutā, dvepi desanābahulā, dvepi garūpanissitā, dvepi vihārabahulā, dvepi paccavekkhaṇābahulā, dvepi asekhapaṭisambhidappattā—
eko sāvakapāramippatto, eko paccekasambuddho.
Yo paccekasambuddho, so tena atireko hoti, adhiko hoti, viseso hoti.
Tassa ñāṇaṁ pabhijjati.
Paccekabuddhañca sadevakañca lokaṁ upādāya tathāgato arahaṁ sammāsambuddho aggo paṭisambhidappatto paññāpabhedakusalo pabhinnañāṇo adhigatapaṭisambhido catuvesārajjappatto dasabaladhārī purisāsabho purisasīho …pe…
yepi te khattiyapaṇḍitā brāhmaṇapaṇḍitā gahapatipaṇḍitā samaṇapaṇḍitā nipuṇā kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti paññāgatena diṭṭhigatāni, te pañhaṁ abhisaṅkharitvā abhisaṅkharitvā tathāgataṁ upasaṅkamitvā pucchanti gūḷhāni ca paṭicchannāni ca.
Kathitā visajjitā ca te pañhā bhagavatā honti niddiṭṭhakāraṇā, upakkhittakā ca te bhagavato sampajjanti.
Atha kho bhagavā tattha atirocati, yadidaṁ paññāyāti aggo paṭisambhidappattoti.
Mahāpaññākathā niṭṭhitā.