Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong khu rừng (của thái tử) Jeta, ở thành Sāvatthī. Chính ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
- Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là vô thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ pháp nào là ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các pháp là vô ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bao nhiêu biểu hiện? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bao nhiêu biểu hiện?
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện gì? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện gì?
(Vị ấy nhận thấy) năm uẩn là vô thường, là khổ não, là ốm đau, là mụt nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là tật bệnh, là xa lạ, là tiêu hoại, là tai ương, là tai họa, là kinh hãi, là sự đe dọa, là lay chuyển, là mỏng manh, là không bền vững, là không sự bảo vệ, là không phải chỗ ngụ, là không sự nương tựa, là trống rỗng, là hão huyền, là không, là vô ngã, là tai hại, là pháp chuyển biến, là không có thực chất, là cội nguồn của bất hạnh, là kẻ hành quyết, là không hiện hữu, là có lậu hoặc, là tạo tác, là vật chất của Ma Vương, là pháp sanh ra, là pháp già, là pháp bệnh, là pháp tử, là pháp sầu muộn, là pháp than vãn, là pháp thất vọng, là pháp phiền não.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô thường, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là thường hằng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là khổ não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là lạc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là ốm đau, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận 5 uẩn là vô bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mụt nhọt, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mụn nhọt, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mũi tên, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải mũi tên, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tật bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tật bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là xa lạ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn không phải là duyên của người khác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tiêu hoại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không tiêu hoại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai ương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai ương, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai họa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai họa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kinh hãi, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không kinh hãi, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là sự đe dọa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự không đe dọa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là lay chuyển, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không lay chuyển, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mỏng manh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mỏng manh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không bền vững, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bền vững, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự bảo vệ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự bảo vệ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không phải chỗ ngụ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chỗ ngụ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự nương tựa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự nương tựa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là trống rỗng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không trống rỗng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là hão huyền, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không hão huyền, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là tối thượng về không, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô ngã, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chân lý tuyệt đối, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai hại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai hại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp chuyển biến, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không chuyển biến, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không có thực chất, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là có thực chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là cội nguồn của bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải cội nguồn của bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kẻ hành quyết, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải kẻ hành quyết, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không hiện hữu, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải phi hữu, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là có lậu hoặc, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không có lậu hoặc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tạo tác, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tạo tác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vật chất của Ma Vương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không vật chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sanh ra, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là vô sanh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp già, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không già, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp tử, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bất tử, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sầu muộn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không sầu muộn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp than vãn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không than vãn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp thất vọng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không thất vọng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp phiền não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phiền não, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
‘Là vô thường,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là khổ não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là ốm đau,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mụt nhọt,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mũi tên,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tật bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự xa lạ,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tiêu hoại,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là tai ương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tai họa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kinh hãi,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự đe dọa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là lay chuyển,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là mỏng manh,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không bền vững,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không sự bảo vệ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không phải chỗ ngụ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không sự nương tựa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là trống rỗng,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là hão huyền,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là không,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là vô ngã,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tai hại,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp chuyển biến,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không có thực chất,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là cội nguồn bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kẻ hành quyết,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không hiện hữu,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là có lậu hoặc,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tạo tác,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là vật chất Ma Vương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sanh ra,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp già,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp tử,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là pháp sầu muộn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp than vãn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp thất vọng,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp phiền não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này.
Đối với vị thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đối với vị đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này, có bao nhiêu sự quán xét về vô thường? có bao nhiêu sự quán xét về khổ não? có bao nhiêu sự quán xét về vô ngã?
Hai lăm quán xét về vô ngã, năm mươi quán xét về vô thường, và có đến một trăm hai lăm nói về các khổ não.
Phần Giảng về Minh Sát được đầy đủ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca—
“So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci saṅkhāraṁ niccato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre aniccato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati, sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci saṅkhāraṁ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci dhammaṁ attato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbadhamme anattato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṁ dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṁ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati”.
Katihākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, katihākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati?
Cattārīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati.
Katamehi cattārīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, katamehi cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati?
Pañcakkhandhe aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto addhuvato atāṇato aleṇato asaraṇato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātidhammato jarādhammato byādhidhammato maraṇadhammato sokadhammato paridevadhammato upāyāsadhammato saṅkilesikadhammato.
Pañcakkhandhe aniccato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho niccaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe dukkhato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho sukhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe rogato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ārogyaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe gaṇḍato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho agaṇḍaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sallato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho visallaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aghato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anagho nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ābādhato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anābādhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe parato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho aparappaccayaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe palokato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho apalokadhammo nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ītito passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anītikaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upaddavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupaddavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe bhayato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho abhayaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upasaggato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupasaggaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe calato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho acalaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe pabhaṅguto passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho apabhaṅgu nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe addhuvato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho dhuvaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe atāṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho tāṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aleṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho leṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe asaraṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho saraṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe rittato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho arittaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe tucchato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho atucchaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe suññato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho paramasuññaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe anattato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho paramatthaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ādīnavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anādīnavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vipariṇāmadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avipariṇāmadhammaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe asārakato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho sāraṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aghamūlato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anaghamūlaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vadhakato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avadhakaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vibhavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avibhavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sāsavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anāsavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe saṅkhatato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asaṅkhataṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe mārāmisato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho nirāmisaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe jātidhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ajātaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe jarādhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ajaraṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe byādhidhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho abyādhi nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe maraṇadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho amataṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sokadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asokaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe paridevadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho aparidevaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upāyāsadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupāyāsaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe saṅkilesikadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asaṅkiliṭṭhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Aniccatoti, aniccānupassanā.
Dukkhatoti, dukkhānupassanā.
Rogatoti, dukkhānupassanā.
Gaṇḍatoti, dukkhānupassanā.
Sallatoti, dukkhānupassanā.
Aghatoti, dukkhānupassanā.
Ābādhatoti, dukkhānupassanā.
Paratoti, anattānupassanā.
Palokatoti, aniccānupassanā.
Ītitoti, dukkhānupassanā. [10]
Upaddavatoti, dukkhānupassanā.
Bhayatoti, dukkhānupassanā.
Upasaggatoti, dukkhānupassanā.
Calatoti, aniccānupassanā.
Pabhaṅgutoti, aniccānupassanā.
Addhuvatoti, aniccānupassanā.
Atāṇatoti, dukkhānupassanā.
Aleṇatoti, dukkhānupassanā.
Asaraṇatoti, dukkhānupassanā.
Rittatoti, anattānupassanā.
Tucchatoti, anattānupassanā.
Suññatoti, anattānupassanā.
Anattatoti, anattānupassanā.
Ādīnavatoti, dukkhānupassanā.
Vipariṇāmadhammatoti, aniccānupassanā.
Asārakatoti, anattānupassanā.
Aghamūlatoti, dukkhānupassanā.
Vadhakatoti, dukkhānupassanā.
Vibhavatoti, aniccānupassanā.
Sāsavatoti, dukkhānupassanā.
Saṅkhatatoti, aniccānupassanā.
Mārāmisatoti, dukkhānupassanā.
Jātidhammatoti, dukkhānupassanā.
Jarādhammatoti, dukkhānupassanā.
Byādhidhammatoti, dukkhānupassanā.
Maraṇadhammatoti, aniccānupassanā.
Sokadhammatoti, dukkhānupassanā.
Paridevadhammatoti, dukkhānupassanā.
Upāyāsadhammatoti, dukkhānupassanā.
Saṅkilesikadhammatoti, dukkhānupassanā.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhantassa, imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamantassa kati aniccānupassanā, kati dukkhānupassanā, kati anattānupassanā?
Pañcavīsati anattānupassanā,
Paññāsa aniccānupassanā;
Sataṁ pañcavīsati ceva,
Yāni dukkhe pavuccareti.
Vipassanākathā niṭṭhitā.
PTS vp En 4011. “Thus I heard. At one time the Blessed One was living at Sāvatthi in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's Park. There he addressed the bhikkhus, thus: ‘Bhikkhus’. ‘Venerable Sir' they replied. The Blessed One said this:
2. “Bhikkhus, when a bhikkhu sees any formation as permanent it is not possible that he shall make a choice in conformity [with actuality], and without making a choice in conformity [with actuality] it is not possible that he shall enter upon the certainty of rightness, and without entering upon the certainty of rightness it is not possible that he shall realize the fruit of stream-entry or the fruit of once-return or the fruit of non-return or the fruit of arahantship. Bhikkhus, when a bhikkhu sees all formations as impermanent it is possible that he shall make a choice in conformity [with actuality], and making a choice in conformity [with actuality] it is possible that he shall enter upon the certainty of rightness, and by entering upon the certainty of rightness it is possible that he shall realize the fruit of stream-entry, or the fruit of once-return, or the fruit of non-return, or the fruit of arahantship.
3. “Bhikkhus, when a bhikkhu sees any formation as pleasant it is not possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship. Bhikkhus, when a bhikkhu sees all formations as painful it is possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship.
4. “Bhikkhus, when a bhikkhu sees any idea as self it is not possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship. Bhikkhus, when a bhikkhu sees all ideas as not self it is possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship.
5. “Bhikkhus, when a bhikkhu sees nibbana as painful it is not possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship. Bhikkhus, when a bhikkhu sees nibbana as pleasant it is possible that he shall make a choice in conformity, and … [and so on as in § 2 up to] … or the fruit of arahantship”.
6. In how many aspects does he choose in conformity [with actuality]? In how many aspects does he enter upon the certainty of rightness?
He PTS vp En 402 chooses in conformity [with actuality] in forty aspects. He enters upon the certainty of rightness in forty aspects.
7. In what forty aspects does he choose in conformity?
In what forty aspects does he enter upon the certainty of rightness?
[He sees] the five aggregates as impermanent, as painful, as a disease, a boil, a dart, a calamity, an affliction, as alien, as disintegrating, as a plague, a disaster, a terror, a menace, as fickle, perishable, unenduring, as no protection, no shelter, no refuge, as empty, vain, void, not self, as a danger, as subject to change, as having no core, as the root of calamity, as murderous, as due to be annihilated, as subject to cankers, as formed, as Māra's bait, as connected with the idea of birth, connected with the idea of ageing, connected with the idea of illness, connected with the idea of death, connected with the idea of sorrow, connected with the idea of lamentation, connected with the idea of despair, connected with the idea of defilement.
8. Seeing the five aggregates as impermanent, he chooses in conformity; seeing how the cessation of the five aggregates is nibbana, which is permanent, he enters into the certainty of rightness.
Seeing the five aggregates as painful, he chooses in conformity; seeing how the cessation of the five aggregates is nibbana, which is pleasant, he enters upon the certainty of rightness.
… as a disease, … which is health, …
… as a boil, … which is no boil, …
… as a dart, … which is no dart, …
… as a calamity, … which is no calamity, …
… as an affliction, … which is non-affliction, …
… as alien, … which is independence of others, …
… as disintegrating, … which is not disintegrating, …
… as a plague, … which is no plague, …
… as a disaster, … which is no disaster, …
… as a terror, … which is non-terror, …
… as a menace, … which is no menace, …
… as fickle, … which is unfickle, …
… as perishable, … which is unperishable, …
… as unenduring, … which is enduring, …
… as no protection, … which is a protection, …
… as no shelter, … which is a shelter, …
… as no refuge, … which is a refuge, …
… as empty, … which is not empty, …
… as vain, … which is not vain, …
… as void, … which is the ultimate voidness, …
… PTS vp En 403 as not self, … which is the ultimate meaning (aim), …
… as a danger, … which is without danger, …
… as subject to change, … which is not subject to change, …
… as having no core, … which is the core, …
… as the root of calamity, … which is not the root of calamity, …
… as murderous, … which is not murderous, …
… as due to be annihilated, … which is not due to be annihilated, …
… as subject to cankers, … which is free from cankers, …
… as formed, … which is unformed, …
… as Māra's materialistic bait, … which is unmaterialistic, …
… as connected with the idea of birth, … which is unborn, …
… as connected with the idea of ageing, … which is unageing, …
… as connected with the idea of ailment, … which is unailing, …
… as connected with the idea of death, … which is deathless, …
… as connected with the idea of sorrow, … which is sorrowless, …
… as connected with the idea of lamentation, … which is without lamentation, …
… as connected with the idea of despair, … which is non-despair, …
Seeing the five aggregates as connected with the idea of defilement, he chooses in conformity [with actuality]; seeing how the cessation of the five aggregates is nibbana, which is without defilement, he enters upon the certainty of rightness.
9. As impermanent is contemplation of impermanence.
As painful is contemplation of pain.
As a disease is contemplation of pain.
As a boil is contemplation of pain.
As a dart is contemplation of pain.
As a calamity is contemplation of pain.
As an affliction is contemplation of pain.
As alien is contemplation of not self.
As disintegrating is contemplation of impermanence.
As a plague is contemplation of pain.
As a disaster is contemplation of pain.
As a terror is contemplation of pain.
As a menace is contemplation of pain.
As fickle is contemplation of impermanence.
As perishable is contemplation of impermanence.
As unenduring is contemplation of impermanence.
As no protection is contemplation of pain.
As no shelter is contemplation of pain.
As no refuge is contemplation of pain.
As PTS vp En 404 empty is contemplation of not self.
As vain is contemplation of not self.
As void is contemplation of not self.
As not self is contemplation of not self.
As a danger is contemplation of pain.
As subject to change is contemplation of impermanence.
As having no core is contemplation of impermanence.
As the root of calamity is contemplation of pain.
As murderous is contemplation of pain.
As due to be annihilated is contemplation of impermanence.
As subject to cankers is contemplation of pain.
As formed is contemplation of impermanence.
As Māra's materialistic bait is contemplation of pain.
As connected with the idea of birth is contemplation of pain.
As connected with the idea of ageing is contemplation of pain.
As connected with the idea of ailment is contemplation of pain.
As connected with the idea of death is contemplation of impermanence.
As connected with the idea of sorrow is contemplation of pain.
As connected with the idea of lamentation is contemplation of pain.
As connected with the idea of despair is contemplation of pain.
As connected with the idea of defilement is contemplation of pain.
In these forty aspects he chooses in conformity [with actuality]. In these forty aspects he enters upon the certainty of rightness.
10. When he chooses in conformity [with actuality] in these forty aspects and enters upon the certainty of rightness in these forty aspects, how many kinds of contemplation of impermanence, how many kinds of contemplation of pain, and how many kinds of contemplation of not self does he have?
Five and twenty contemplations of not self,
And fifty contemplations of impermanence,
The rest, which number a hundred and twenty-five,
Are contemplations reckoned as of pain.
End of Treatise on insight.
Tôi đã được nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại tu viện của ông Anāthapiṇḍika, trong khu rừng (của thái tử) Jeta, ở thành Sāvatthī. Chính ở tại nơi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu.” “Thưa ngài,” các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
- Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là vô thường, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ hành nào là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các hành là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét bất cứ pháp nào là ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét tất cả các pháp là vô ngã, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là khổ não, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này không được biết đến. Không có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này không được biết đến. Không đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này không được biết đến.
Này các tỳ khưu, quả thật vị tỳ khưu ấy, trong lúc đang xem xét Niết Bàn là lạc, sẽ có được sự nhẫn nại phù hợp; sự kiện này được biết đến. Có được sự nhẫn nại phù hợp, (vị ấy) sẽ đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn; sự kiện này được biết đến. Đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn, (vị ấy) sẽ tác chứng Quả Nhập Lưu, hoặc Quả Nhất Lai, hoặc Quả Bất Lai, hoặc Quả A-la-hán; sự kiện này được biết đến.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bao nhiêu biểu hiện? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bao nhiêu biểu hiện?
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện gì? đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện gì?
(Vị ấy nhận thấy) năm uẩn là vô thường, là khổ não, là ốm đau, là mụt nhọt, là mũi tên, là bất hạnh, là tật bệnh, là xa lạ, là tiêu hoại, là tai ương, là tai họa, là kinh hãi, là sự đe dọa, là lay chuyển, là mỏng manh, là không bền vững, là không sự bảo vệ, là không phải chỗ ngụ, là không sự nương tựa, là trống rỗng, là hão huyền, là không, là vô ngã, là tai hại, là pháp chuyển biến, là không có thực chất, là cội nguồn của bất hạnh, là kẻ hành quyết, là không hiện hữu, là có lậu hoặc, là tạo tác, là vật chất của Ma Vương, là pháp sanh ra, là pháp già, là pháp bệnh, là pháp tử, là pháp sầu muộn, là pháp than vãn, là pháp thất vọng, là pháp phiền não.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô thường, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là thường hằng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là khổ não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là lạc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là ốm đau, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận 5 uẩn là vô bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mụt nhọt, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mụn nhọt, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mũi tên, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải mũi tên, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tật bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tật bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là xa lạ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn không phải là duyên của người khác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tiêu hoại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không tiêu hoại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai ương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai ương, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai họa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai họa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kinh hãi, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không kinh hãi, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là sự đe dọa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự không đe dọa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là lay chuyển, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không lay chuyển, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là mỏng manh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không mỏng manh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không bền vững, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bền vững, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự bảo vệ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự bảo vệ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không phải chỗ ngụ, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chỗ ngụ, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không sự nương tựa, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là sự nương tựa, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là trống rỗng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không trống rỗng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là hão huyền, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không hão huyền, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là tối thượng về không, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vô ngã, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là chân lý tuyệt đối, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tai hại, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tai hại, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp chuyển biến, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là pháp không chuyển biến, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không có thực chất, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là có thực chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là cội nguồn của bất hạnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải cội nguồn của bất hạnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là kẻ hành quyết, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải kẻ hành quyết, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là không hiện hữu, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phải phi hữu, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là có lậu hoặc, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không có lậu hoặc, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là tạo tác, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không tạo tác, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là vật chất của Ma Vương, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không vật chất, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sanh ra, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là vô sanh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp già, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không già, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp bệnh, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không bệnh, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp tử, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là bất tử, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp sầu muộn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không sầu muộn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp than vãn, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không than vãn, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp thất vọng, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không thất vọng, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
Trong khi nhận thấy năm uẩn là pháp phiền não, (vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp. Trong khi nhận thấy rằng: ‘Sự diệt tận năm uẩn là không phiền não, là Niết Bàn,’ (vị ấy) đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn.
‘Là vô thường,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là khổ não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là ốm đau,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mụt nhọt,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là mũi tên,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tật bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự xa lạ,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tiêu hoại,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là tai ương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tai họa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kinh hãi,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sự đe dọa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là lay chuyển,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là mỏng manh,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không bền vững,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không sự bảo vệ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không phải chỗ ngụ,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không sự nương tựa,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là trống rỗng,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là hão huyền,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là không,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là vô ngã,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là tai hại,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp chuyển biến,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là không có thực chất,’ như thế là sự quán xét về vô ngã.
‘Là cội nguồn bất hạnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là kẻ hành quyết,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là không hiện hữu,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là có lậu hoặc,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là tạo tác,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là vật chất Ma Vương,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là sanh ra,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp già,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp bệnh,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp tử,’ như thế là sự quán xét về vô thường.
‘Là pháp sầu muộn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp than vãn,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp thất vọng,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
‘Là pháp phiền não,’ như thế là sự quán xét về khổ não.
(Vị ấy) thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này.
Đối với vị thành đạt sự nhẫn nại phù hợp với bốn mươi biểu hiện này, đối với vị đạt đến sự xác định về tính chất đúng đắn với bốn mươi biểu hiện này, có bao nhiêu sự quán xét về vô thường? có bao nhiêu sự quán xét về khổ não? có bao nhiêu sự quán xét về vô ngã?
Hai lăm quán xét về vô ngã, năm mươi quán xét về vô thường, và có đến một trăm hai lăm nói về các khổ não.
Phần Giảng về Minh Sát được đầy đủ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi—
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca—
“So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci saṅkhāraṁ niccato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre aniccato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati, sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci saṅkhāraṁ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbasaṅkhāre dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu kañci dhammaṁ attato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu sabbadhamme anattato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṁ dukkhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā asamannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ anokkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vata, bhikkhave, bhikkhu nibbānaṁ sukhato samanupassanto anulomikāya khantiyā samannāgato bhavissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
anulomikāya khantiyā samannāgato sammattaniyāmaṁ okkamissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati;
sammattaniyāmaṁ okkamamāno sotāpattiphalaṁ vā sakadāgāmiphalaṁ vā anāgāmiphalaṁ vā arahattaṁ vā sacchikarissatīti—
ṭhānametaṁ vijjati”.
Katihākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, katihākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati?
Cattārīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati.
Katamehi cattārīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati, katamehi cattārīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati?
Pañcakkhandhe aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato ītito upaddavato bhayato upasaggato calato pabhaṅguto addhuvato atāṇato aleṇato asaraṇato rittato tucchato suññato anattato ādīnavato vipariṇāmadhammato asārakato aghamūlato vadhakato vibhavato sāsavato saṅkhatato mārāmisato jātidhammato jarādhammato byādhidhammato maraṇadhammato sokadhammato paridevadhammato upāyāsadhammato saṅkilesikadhammato.
Pañcakkhandhe aniccato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho niccaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe dukkhato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho sukhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe rogato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ārogyaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe gaṇḍato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho agaṇḍaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sallato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho visallaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aghato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anagho nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ābādhato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anābādhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe parato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho aparappaccayaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe palokato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho apalokadhammo nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ītito passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anītikaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upaddavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupaddavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe bhayato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho abhayaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upasaggato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupasaggaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe calato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho acalaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe pabhaṅguto passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho apabhaṅgu nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe addhuvato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho dhuvaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe atāṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho tāṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aleṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho leṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe asaraṇato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho saraṇaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe rittato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho arittaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe tucchato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho atucchaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe suññato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho paramasuññaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe anattato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho paramatthaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe ādīnavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anādīnavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vipariṇāmadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avipariṇāmadhammaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe asārakato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho sāraṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe aghamūlato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anaghamūlaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vadhakato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avadhakaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe vibhavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho avibhavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sāsavato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anāsavaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe saṅkhatato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asaṅkhataṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe mārāmisato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho nirāmisaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe jātidhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ajātaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe jarādhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho ajaraṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe byādhidhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho abyādhi nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe maraṇadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho amataṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe sokadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asokaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe paridevadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho aparidevaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe upāyāsadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho anupāyāsaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Pañcakkhandhe saṅkilesikadhammato passanto anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Pañcannaṁ khandhānaṁ nirodho asaṅkiliṭṭhaṁ nibbānanti passanto sammattaniyāmaṁ okkamati.
Aniccatoti, aniccānupassanā.
Dukkhatoti, dukkhānupassanā.
Rogatoti, dukkhānupassanā.
Gaṇḍatoti, dukkhānupassanā.
Sallatoti, dukkhānupassanā.
Aghatoti, dukkhānupassanā.
Ābādhatoti, dukkhānupassanā.
Paratoti, anattānupassanā.
Palokatoti, aniccānupassanā.
Ītitoti, dukkhānupassanā. [10]
Upaddavatoti, dukkhānupassanā.
Bhayatoti, dukkhānupassanā.
Upasaggatoti, dukkhānupassanā.
Calatoti, aniccānupassanā.
Pabhaṅgutoti, aniccānupassanā.
Addhuvatoti, aniccānupassanā.
Atāṇatoti, dukkhānupassanā.
Aleṇatoti, dukkhānupassanā.
Asaraṇatoti, dukkhānupassanā.
Rittatoti, anattānupassanā.
Tucchatoti, anattānupassanā.
Suññatoti, anattānupassanā.
Anattatoti, anattānupassanā.
Ādīnavatoti, dukkhānupassanā.
Vipariṇāmadhammatoti, aniccānupassanā.
Asārakatoti, anattānupassanā.
Aghamūlatoti, dukkhānupassanā.
Vadhakatoti, dukkhānupassanā.
Vibhavatoti, aniccānupassanā.
Sāsavatoti, dukkhānupassanā.
Saṅkhatatoti, aniccānupassanā.
Mārāmisatoti, dukkhānupassanā.
Jātidhammatoti, dukkhānupassanā.
Jarādhammatoti, dukkhānupassanā.
Byādhidhammatoti, dukkhānupassanā.
Maraṇadhammatoti, aniccānupassanā.
Sokadhammatoti, dukkhānupassanā.
Paridevadhammatoti, dukkhānupassanā.
Upāyāsadhammatoti, dukkhānupassanā.
Saṅkilesikadhammatoti, dukkhānupassanā.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhati.
Imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamati.
Imehi cattālīsāya ākārehi anulomikaṁ khantiṁ paṭilabhantassa, imehi cattālīsāya ākārehi sammattaniyāmaṁ okkamantassa kati aniccānupassanā, kati dukkhānupassanā, kati anattānupassanā?
Pañcavīsati anattānupassanā,
Paññāsa aniccānupassanā;
Sataṁ pañcavīsati ceva,
Yāni dukkhe pavuccareti.
Vipassanākathā niṭṭhitā.