Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu. Ba là gì? Phép kỳ diệu về thần thông, phép kỳ diệu về điểm hóa, phép kỳ diệu về giáo hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về thần thông là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị kinh nghiệm nhiều thể loại thần thông: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất …(như trên)… bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về điểm hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ điểm bằng hiện tướng rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, mà chỉ lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, mà chỉ lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, cũng không lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm, mà chỉ dùng ý nắm giữ ý của vị đang thể nhập định không tầm không tứ và nhận biết rằng: “Theo như các tạo tác về ý của vị này đã được ước nguyện, thì kế liền tâm này vị ấy sẽ suy tầm đến điều suy tầm này như vầy.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về điểm hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về giáo hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ dạy như vầy: “Hãy suy tầm như vầy, chớ suy tầm như vầy. Hãy tác ý như vầy, chớ tác ý như vầy. Hãy dứt bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú điều này.” Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về giáo hóa. Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự thoát ly ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự thoát ly ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không sân độc ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không sân độc ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự không tản mạn được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự phóng dật’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không tản mạn ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không tản mạn ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự xác định pháp được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại hoài nghi’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự xác định pháp ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự xác định pháp ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Trí được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại vô minh’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ trí ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, trí ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự hân hoan được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự không hứng thú’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự hân hoan ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự hân hoan ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sơ thiền được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại các pháp ngăn che’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sơ thiền ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sơ thiền ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa. …(như trên)…
‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ Đạo A-la-hán ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, Đạo A-la-hán ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. …(như trên)… ‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Phần Giảng về Phép Kỳ Diệu được đầy đủ.
“Tīṇimāni, bhikkhave, pāṭihāriyāni.
Katamāni tīṇi?
Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—
ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti;
āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ …pe…
yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco nimittena ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti—
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amukaṁ nāma vitakkaṁ vitakkayissatī’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco evamanusāsati—
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha.
Evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha.
Idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi pāṭihāriyāni”.
Nekkhammaṁ ijjhatīti—iddhi.
Kāmacchandaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena nekkhammena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana nekkhammaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Abyāpādo ijjhatīti—iddhi.
Byāpādaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena abyāpādena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana abyāpādo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Ālokasaññā ijjhatīti—iddhi.
Thinamiddhaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tāya ālokasaññāya samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Sā kho pana ālokasaññā evaṁ āsevitabbā, evaṁ bhāvetabbā, evaṁ bahulīkātabbā, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Avikkhepo ijjhatīti—iddhi.
Uddhaccaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena avikkhepena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana avikkhepo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Dhammavavatthānaṁ ijjhatīti—iddhi.
Vicikicchaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena dhammavavatthānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana dhammavavatthānaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā, sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Ñāṇaṁ ijjhatīti—iddhi.
Avijjaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena ñāṇena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana ñāṇaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Pāmojjaṁ ijjhatīti—iddhi.
Aratiṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena pāmojjena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana pāmojjaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe….
Paṭhamaṁ jhānaṁ ijjhatīti—iddhi.
Nīvaraṇe paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena paṭhamena jhānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana paṭhamaṁ jhānaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe….
Arahattamaggo ijjhatīti—iddhi.
Sabbakilese paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena arahattamaggena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana arahattamaggo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Nekkhammaṁ ijjhatīti—iddhi.
Kāmacchandaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyaṁ.
Abyāpādo ijjhatīti—iddhi.
Byāpādaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyaṁ.
Ālokasaññā ijjhatīti—iddhi.
Thinamiddhaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ …pe…
arahattamaggo ijjhatīti—iddhi.
Sabbakilese paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyanti.
Pāṭihāriyakathā niṭṭhitā.
PTS vp En 3951. “Bhikkhus, there are these three kinds of marvel (metamorphosis). What three? The marvel of success, the marvel of disclosure, the marvel of advice.
“And what, bhikkhus, is the marvel of success? Here, bhikkhus, a bhikkhu enjoys the various kinds of success (supernormal powers); having been one, he becomes many, … [and so on as in Tr. I § 527 up to] … he wields bodily mastery even as far as the Brahmā world. This, bhikkhus, is called the marvel of success.
“And what, bhikkhus, is the marvel of disclosure? Here, bhikkhus, someone, by means of a sign [such as a posture], discloses that ‘Your mind is thus, your mind is so, your cognizance is such’ and even if he discloses much, it is as he says it is and not otherwise. And here, bhikkhus, someone not only discloses by means of a sign, but also, by having heard the sound of human beings or non-human beings or deities, he discloses that ‘Your mind is thus, your mind is so, your cognizance is such’ and even if he discloses much, it is as he says it is and not otherwise. And here, bhikkhus, someone not only discloses by means of a sign, and he not only discloses by having heard the sound of human beings or non-human beings or deities, but also, by having heard the sound of the intervention of applied thought in one exercising applied or sustained thought, he discloses that ‘Your mind is thus, your mind is so, your cognizance is such’ and even if he discloses much, it is as he says it is and not otherwise. And here, bhikkhus, someone not only discloses by means of a sign, and he not only discloses by having heard the sound of human beings or non-human beings or deities, and he not only discloses by having heard the sound of the intervention of applied thought in one exercising applied and sustained thought, but also, by penetrating with his will the will of one possessed of concentration without applied and sustained thought, he understands that ‘The mind formations of this worthy one are so disposed that next upon this cognizance of his he will have such and such an applied thought’ and even if he discloses much, it is as he says it is and not otherwise. This, bhikkhus, is called the marvel of disclosure.
“And what, bhikkhus, is the marvel of advice? Here, bhikkhus, someone advises thus ‘Exercise applied-thought thus, do not exercise applied-thought thus; give attention thus, do not give attention thus; abandon this, undertake this, abide in this’. This, bhikkhus, is called the marvel of advice.
“These, PTS vp En 396 bhikkhus, are the three kinds of marvel”.
2. Renunciation succeeds (ijjhati): this is success (iddhi). It metamorphoses (paṭiharati) zeal for sensual-desires: this is a metamorphosis (pāṭihāriya). All those who are possessed of that renunciation are pure in cognizance and without commotion in thought: this is metamorphosis by disclosure. That renunciation ought to be cultivated thus, ought to be developed thus, ought to be made much of thus: this is metamorphosis by advice.
Non-ill-will succeeds … [and so on with the rest of the seven hindrances and their opposites, the four jhanas, the four immaterial attainments, the eighteen principal insights, and the four paths, but not fruitions—see Tr. I §§ 36–40] …
The arahant path succeeds (ijjhati): this is success (iddhi). It metamorphoses (paṭiharati) all defilements: this is metamorphosis (pāṭihāriya). All those who are possessed of that arahant path are pure in cognizance and without commotion in thought: this is metamorphosis by disclosure. That arahant path ought to be cultivated thus, ought to be developed thus, ought to be made much of thus, mindfulness ought to be established in accordance with it thus: this is metamorphosis by advice.
3. Renunciation succeeds: this is success. It metamorphoses zeal for sensual-desires: this is a metamorphosis. The success (iddhi) and the metamorphosis (pāṭihāriya) constitute what is called metamorphosis by success (iddhi-pāṭihāriya).
Non-ill-will succeeds: … [and so on as above up to] … The arahant path succeeds: this is success. It metamorphoses all defilements: this is a metamorphosis, the success and the metamorphosis constitute what is called metamorphosis by success.
End of Treatise on Marvels (Metamorphosis).
Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu. Ba là gì? Phép kỳ diệu về thần thông, phép kỳ diệu về điểm hóa, phép kỳ diệu về giáo hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về thần thông là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị kinh nghiệm nhiều thể loại thần thông: là một hóa thành nhiều, là nhiều hóa thành một, hiện ra, biến mất …(như trên)… bằng thân vị ấy thể hiện sự tác động đến tận cõi Phạm Thiên. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về điểm hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ điểm bằng hiện tướng rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, mà chỉ lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, mà chỉ lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm rằng: “Ý của ngươi là như vầy, ý của ngươi là thế ấy, tâm của ngươi là như thế.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, hơn nữa ở đây có vị chẳng những không chỉ điểm bằng hiện tướng, cũng không lắng nghe âm thanh của loài người, hoặc của phi nhân, hoặc của chư thiên rồi chỉ điểm, cũng không lắng nghe âm thanh lan truyền của sự suy tầm ở người đang suy tầm đang suy xét rồi chỉ điểm, mà chỉ dùng ý nắm giữ ý của vị đang thể nhập định không tầm không tứ và nhận biết rằng: “Theo như các tạo tác về ý của vị này đã được ước nguyện, thì kế liền tâm này vị ấy sẽ suy tầm đến điều suy tầm này như vầy.” Dẫu cho vị ấy chỉ điểm nhiều, điều ấy cũng xảy ra đúng y như thế, không có sai khác. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về điểm hóa.
Và này các tỳ khưu, phép kỳ diệu về giáo hóa là gì? Này các tỳ khưu, ở đây có vị chỉ dạy như vầy: “Hãy suy tầm như vầy, chớ suy tầm như vầy. Hãy tác ý như vầy, chớ tác ý như vầy. Hãy dứt bỏ điều này, hãy thành tựu và an trú điều này.” Này các tỳ khưu, điều này được gọi là phép kỳ diệu về giáo hóa. Này các tỳ khưu, đây là ba phép kỳ diệu.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự thoát ly ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự thoát ly ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không sân độc ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không sân độc ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự nghĩ tưởng về ánh sáng ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự không tản mạn được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự phóng dật’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự không tản mạn ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự không tản mạn ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự xác định pháp được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại hoài nghi’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự xác định pháp ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự xác định pháp ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Trí được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại vô minh’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ trí ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, trí ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sự hân hoan được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự không hứng thú’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sự hân hoan ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sự hân hoan ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Sơ thiền được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại các pháp ngăn che’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ sơ thiền ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, sơ thiền ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa. …(như trên)…
‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. ‘Các vị nào hội đủ Đạo A-la-hán ấy, tất cả các vị ấy có tâm được thanh tịnh, có tư duy không bị khuấy động’ là phép kỳ diệu về điểm hóa. ‘Hơn nữa, Đạo A-la-hán ấy nên được rèn luyện như thế, nên được tu tập như thế, nên được làm cho sung mãn như thế, niệm tùy thuận theo việc ấy nên được thiết lập như thế’ là phép kỳ diệu về giáo hóa.
‘Thoát ly được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại ước muốn trong các dục’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Không sân độc được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sân độc’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. ‘Sự nghĩ tưởng về ánh sáng được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại sự lờ đờ buồn ngủ’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông. …(như trên)… ‘Đạo A-la-hán được thành tựu’ là thần thông. ‘Phản kháng lại toàn bộ phiền não’ là phép kỳ diệu. Thành tựu và phép kỳ diệu được gọi là phép kỳ diệu về thần thông.
Phần Giảng về Phép Kỳ Diệu được đầy đủ.
“Tīṇimāni, bhikkhave, pāṭihāriyāni.
Katamāni tīṇi?
Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti—
ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti;
āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ …pe…
yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, iddhipāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco nimittena ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati—
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bhikkhave, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti—
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amukaṁ nāma vitakkaṁ vitakkayissatī’ti.
So bahuñcepi ādisati, tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, ādesanāpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṁ?
Idha, bhikkhave, ekacco evamanusāsati—
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha.
Evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha.
Idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi pāṭihāriyāni”.
Nekkhammaṁ ijjhatīti—iddhi.
Kāmacchandaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena nekkhammena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana nekkhammaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Abyāpādo ijjhatīti—iddhi.
Byāpādaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena abyāpādena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana abyāpādo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Ālokasaññā ijjhatīti—iddhi.
Thinamiddhaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tāya ālokasaññāya samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Sā kho pana ālokasaññā evaṁ āsevitabbā, evaṁ bhāvetabbā, evaṁ bahulīkātabbā, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Avikkhepo ijjhatīti—iddhi.
Uddhaccaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena avikkhepena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana avikkhepo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Dhammavavatthānaṁ ijjhatīti—iddhi.
Vicikicchaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena dhammavavatthānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana dhammavavatthānaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā, sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Ñāṇaṁ ijjhatīti—iddhi.
Avijjaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena ñāṇena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana ñāṇaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Pāmojjaṁ ijjhatīti—iddhi.
Aratiṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena pāmojjena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana pāmojjaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe….
Paṭhamaṁ jhānaṁ ijjhatīti—iddhi.
Nīvaraṇe paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena paṭhamena jhānena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“Taṁ kho pana paṭhamaṁ jhānaṁ evaṁ āsevitabbaṁ, evaṁ bhāvetabbaṁ, evaṁ bahulīkātabbaṁ, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ …pe….
Arahattamaggo ijjhatīti—iddhi.
Sabbakilese paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Ye tena arahattamaggena samannāgatā, sabbe te visuddhacittā anāvilasaṅkappāti—
ādesanāpāṭihāriyaṁ.
“So kho pana arahattamaggo evaṁ āsevitabbo, evaṁ bhāvetabbo, evaṁ bahulīkātabbo, evaṁ tadanudhammatā sati upaṭṭhāpetabbā”ti—
anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Nekkhammaṁ ijjhatīti—iddhi.
Kāmacchandaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyaṁ.
Abyāpādo ijjhatīti—iddhi.
Byāpādaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyaṁ.
Ālokasaññā ijjhatīti—iddhi.
Thinamiddhaṁ paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ …pe…
arahattamaggo ijjhatīti—iddhi.
Sabbakilese paṭiharatīti—pāṭihāriyaṁ.
Yā ca iddhi yañca pāṭihāriyaṁ, idaṁ vuccati iddhipāṭihāriyanti.
Pāṭihāriyakathā niṭṭhitā.