BJT 1999Là người bị bận rộn trong việc quán xuyến công việc của người khác, tôi đã làm điều lầm lỗi. Bị xâm chiếm bởi nỗi lo sợ và hốt hoảng, tôi đã trốn chạy đến cuối khu rừng.
BJT 2000Sau khi nhìn thấy giống cây đã được trổ hoa, dính thành từng chùm, khéo léo phô bày, tôi đã ngắt lấy bông hoa màu nâu đỏ và đã rải rắc ở cội cây Bồ Đề.
BJT 2001Sau khi quét dọn cội cây Bồ Đề là giống cây pāṭalī tối thượng ấy, tôi đã xếp chân vào tư thế kiết già và ngồi xuống ở gốc cội cây Bồ Đề.
BJT 2002Trong khi tìm kiếm con đường (tôi) đã đi qua, bọn họ đã đến gần chỗ tôi. Và ở tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy bọn họ, tôi đã quan sát cội cây Bồ Đề tối thượng.
BJT 2003Và với tâm ý trong sạch, tôi đã đảnh lễ cội cây Bồ Đề. Tôi đã bị rơi xuống ở hẻm núi đáng kinh sợ có độ sâu bằng nhiều cây thốt nốt.
BJT 2004(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.
BJT 2005Và trước đây vào kiếp thứ ba, tôi đã là đức vua Susaññata, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2006Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tambapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tambapupphiya là phần thứ nhì.
“Parakammāyane yutto,
aparādhaṁ akāsahaṁ;
Vanantaṁ abhidhāvissaṁ,
bhayaverasamappito.
Pupphitaṁ pādapaṁ disvā,
piṇḍibandhaṁ sunimmitaṁ;
Tambapupphaṁ gahetvāna,
bodhiyaṁ okiriṁ ahaṁ.
Sammajjitvāna taṁ bodhiṁ,
pāṭaliṁ pādaputtamaṁ;
Pallaṅkaṁ ābhujitvāna,
bodhimūle upāvisiṁ.
Gatamaggaṁ gavesantā,
āgacchuṁ mama santikaṁ;
Te ca disvānahaṁ tattha,
āvajjiṁ bodhimuttamaṁ.
Vanditvāna ahaṁ bodhiṁ,
vippasannena cetasā;
Anekatāle papatiṁ,
giridugge bhayānake.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
bodhipūjāyidaṁ phalaṁ.
Ito ca tatiye kappe,
rājā susaññato ahaṁ;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tambapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tambapupphiyattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 1999 Employed in others’ transport work,
I committed a crime back then.
I was exiled to the forest;
filled with fear, I was terrified. Verse 1
Walt 2000 Having seen a tree in flower
with tiny, well-fashioned clusters,
picking a copper-colored bloom,
I scattered it on the Bodhi. Verse 2
Walt 2001 Having swept around that Bodhi,
the ultimate pāṭali tree,
getting into lotus posture,
I stayed at the Bodhi tree’s roots. Verse 3
Walt 2002 Searching for the road I’d gone on,
they then came into my presence.
And having seen them, then and there
I recalled the superb Bodhi. Verse 4
Walt 2003 Having worshipped the Bodhi tree
with a mind that was very clear,
I obtained varied tal trees then
inside a frightful mountain crag. Verse 5
Walt 2004 In the ninety-one aeons since
I offered that flower to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 6
Walt 2005 In the thirtieth aeon hence
there was a king, Samphusita,
a wheel-turner with great power,
possessor of the seven gems. Verse 7
Walt 2006 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Tambapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Tambapupphiya Thera is finished.
BJT 1999Là người bị bận rộn trong việc quán xuyến công việc của người khác, tôi đã làm điều lầm lỗi. Bị xâm chiếm bởi nỗi lo sợ và hốt hoảng, tôi đã trốn chạy đến cuối khu rừng.
BJT 2000Sau khi nhìn thấy giống cây đã được trổ hoa, dính thành từng chùm, khéo léo phô bày, tôi đã ngắt lấy bông hoa màu nâu đỏ và đã rải rắc ở cội cây Bồ Đề.
BJT 2001Sau khi quét dọn cội cây Bồ Đề là giống cây pāṭalī tối thượng ấy, tôi đã xếp chân vào tư thế kiết già và ngồi xuống ở gốc cội cây Bồ Đề.
BJT 2002Trong khi tìm kiếm con đường (tôi) đã đi qua, bọn họ đã đến gần chỗ tôi. Và ở tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy bọn họ, tôi đã quan sát cội cây Bồ Đề tối thượng.
BJT 2003Và với tâm ý trong sạch, tôi đã đảnh lễ cội cây Bồ Đề. Tôi đã bị rơi xuống ở hẻm núi đáng kinh sợ có độ sâu bằng nhiều cây thốt nốt.
BJT 2004(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội Bồ Đề.
BJT 2005Và trước đây vào kiếp thứ ba, tôi đã là đức vua Susaññata, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 2006Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tambapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tambapupphiya là phần thứ nhì.
“Parakammāyane yutto,
aparādhaṁ akāsahaṁ;
Vanantaṁ abhidhāvissaṁ,
bhayaverasamappito.
Pupphitaṁ pādapaṁ disvā,
piṇḍibandhaṁ sunimmitaṁ;
Tambapupphaṁ gahetvāna,
bodhiyaṁ okiriṁ ahaṁ.
Sammajjitvāna taṁ bodhiṁ,
pāṭaliṁ pādaputtamaṁ;
Pallaṅkaṁ ābhujitvāna,
bodhimūle upāvisiṁ.
Gatamaggaṁ gavesantā,
āgacchuṁ mama santikaṁ;
Te ca disvānahaṁ tattha,
āvajjiṁ bodhimuttamaṁ.
Vanditvāna ahaṁ bodhiṁ,
vippasannena cetasā;
Anekatāle papatiṁ,
giridugge bhayānake.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
bodhipūjāyidaṁ phalaṁ.
Ito ca tatiye kappe,
rājā susaññato ahaṁ;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tambapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tambapupphiyattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.