Giờ xin thỉnh các vị hãy lắng nghe ký sự về Phật Độc Giác:
BJT 82Trong khi đức Như lai ngự tại Jetavana, bậc hiền trí xứ Videha đã cúi mình hỏi Ngài rằng: “Bạch đấng Anh Hùng, nghe nói có các vị được gọi là đức Phật Độc Giác, các vị ấy được thành tựu là do các nguyên nhân nào?”
BJT 83Khi ấy, bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Toàn Tri cao qúy, đã nói với vị hiền nhân Ānanda bằng âm điệu ngọt ngào rằng: “Những vị nào có hành động hướng thượng đã được thể hiện đến chư Phật quá khứ, (nhưng) có sự giải thoát chưa được thành đạt trong (thời kỳ) Giáo Pháp của các đấng Chiến Thắng.
BJT 84Chính nhờ vào yếu tố đầu tiên ấy về sự chấn động của tâm, các vị sáng suốt có trí tuệ vô cùng sắc bén vẫn thành tựu phẩm vị Độc Giác chỉ nhờ vào đối tượng nhỏ nhoi mặc dầu (ở vào thời kỳ) không có các vị Phật (Toàn Giác).
BJT 85Trong toàn bộ thế gian, ngoại trừ Ta không có ai sánh bằng các vị Phật Độc Giác. Ta sẽ khéo léo thuyết giảng một cách khái quát về đức hạnh này của các bậc đại hiền trí ấy.
BJT 86Là những người đang mong mỏi phương thuốc vô thượng (Niết Bàn), tất cả các ngươi, với tâm khéo tín thành, hãy lắng nghe những lời nói tốt đẹp như là viên mật về các bậc đại ẩn sĩ đã được tự chính mình giác ngộ.
BJT 87(Hãy lắng nghe) những lời thuật lại theo tuần tự của các vị Phật Độc Giác đã tụ hội lại, và (hãy lắng nghe) về sự tai hại và nền tảng của sự xa lìa tham ái, theo đó các vị đã thành tựu quả vị Giác Ngộ.
BJT 88Với sự nghĩ tưởng về ly tham ái đối với các sự việc có tham ái, với các tâm không ái luyến trong thế gian bị luyến ái, sau khi từ bỏ các chướng ngại (toàn bộ phiền não) và chiến thắng các loạn tưởng (62 tà kiến), theo đúng như thế các vị đã thành tựu quả vị Giác Ngộ:
BJT 89Buông bỏ sự trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, và không hãm hại bất cứ ai trong số họ, với tâm từ ái người có sự thương tưởng đến điều lợi ích hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 90Buông bỏ sự trừng phạt đối với tất cả chúng sanh, và không hãm hại bất cứ ai trong số họ, không nên mong mỏi về con trai, sao lại (mong mỏi) về bạn bè? Hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 91Các sự ái luyến hiện diện ở người có sự thân cận đã được tạo nên, theo sau sự ái luyến là khổ đau này được thành lập. Trong khi xem xét thấy điều tai hại sanh lên từ sự ái luyến, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 92Trong khi thương tưởng đến bạn bè thân hữu, (thời) xao lãng mục đích, có tâm bị ràng buộc. Trong khi xem xét thấy mối nguy hiểm này ở sự giao du, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 93Sự mong mỏi ở các con và những người vợ tương tợ như lùm tre rậm bị vướng víu. Trong khi không bị vướng víu như là mụt măng tre, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 94Tương tợ như con nai ở trong rừng không bị trói buộc đi đến nơi kiếm ăn tùy theo ý thích, bậc tri thức trong khi xem xét về sự tự do hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 95Có sự mời gọi giữa bạn bè về chuyện nghỉ ngơi, về việc đứng gần, về sự ra đi, ở cuộc du hành, trong khi xem xét về sự tự do không được (kẻ khác) ham thích, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 96Sự vui đùa thích thú ở giữa đám bạn bè và lòng thương yêu đối với con cái là bao la, trong khi chán ghét sự tách lìa khỏi những người yêu dấu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác.
BJT 97Người không lòng bất bình trải khắp bốn phương, tự hài lòng với thức này thứ nọ, chịu đựng mọi hiểm nghèo không lòng hoảng sợ, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 98Ngay cả các vị đã xuất gia cũng khó đồng thuận, những kẻ tại gia sống dưới mái gia đình cũng vậy, đã là người ít bị bận tâm về con cái của kẻ khác, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 99Hãy cởi bỏ hình tướng tại gia như loài cây koviḷāro có lá được rũ bỏ, là người anh hùng, sau khi cắt đứt mọi sự ràng buộc của gia đình, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 100Nếu có thể đạt được bạn là kẻ đồng hành cẩn trọng, sáng suốt, sống ngay thẳng, sau khi khắc phục mọi hiểm nghèo hãy nên du hành với vị ấy, có sự hoan hỷ, có niệm.
BJT 101Nếu không thể đạt được bạn là kẻ đồng hành cẩn trọng, sáng suốt, sống ngay thẳng, tương tợ như vị vua từ bỏ lãnh địa đã xâm chiếm được, hãy nên sống một mình như là con long tượng cư ngụ đơn độc ở trong khu rừng.
BJT 102Quả vậy, chúng ta ca ngợi sự thành tựu bạn bè. Những bạn bè vượt trội (hoặc) tương đương là nên giao thiệp. (Nếu) những người này là không đạt được, (chỉ nên) thọ hưởng những gì không bị chê trách, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 103Sau khi nhìn thấy những (vòng) vàng sáng chói khéo được hoàn thành bởi con trai người thợ kim hoàn, (chúng) đang va chạm vào nhau khi hai vòng ở trên cùng cánh tay, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 104Tương tợ như thế, cùng với người thứ hai có thể xảy ra sự chuyện vãn bằng lời nói và sự quyến luyến sâu đậm cho tôi. Trong khi xem xét thấy mối nguy hiểm này trong tương lai, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 105Bởi vì các dục là đa dạng, ngọt ngào, làm thích ý, chúng khuấy động tâm bằng nhiều hình thức ẩn hiện. Sau khi nhìn thấy điều tai hại ở trong các loại dục, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 106Điều này là tai họa, là mụt nhọt, là bất hạnh, là tật bệnh, là mũi tên, và là sự nguy hiểm cho tôi. Sau khi nhìn thấy mối nguy hiểm này ở trong các loại dục, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 107Lạnh, nóng, đói, khát, gió và sức nóng, muỗi mòng và rắn rết, sau khi đã khắc phục tất cả những điều này, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 108Tợ như con voi có thân hình khổng lồ, có đốm hoa sen, cao thượng, đã lìa bỏ các bầy đàn, đang sống trong rừng theo như ý thích, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 109Người ưa thích sự tụ hội có thể chạm đến sự giải thoát tạm thời là điều không có cơ sở. Sau khi cân nhắc lời nói của đấng quyến thuộc của mặt trời, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 110(Nghĩ rằng): ‘Tôi đã vượt lên trên các sự trái khuấy của tà kiến, đã đạt đến quy luật, đã tiếp thâu đạo lộ, có trí đã được sanh khởi, không cần người khác dẫn dắt,’ hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 111Không tham lam, không lừa gạt, không khao khát, không chê bai, có tật xấu và sự mê muội đã được loại trừ, không còn ước ao (tham vọng) về toàn thể thế giới, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 112Nên lánh xa hẳn bạn bè ác xấu là kẻ không nhìn thấy mục đích, đã dấn sâu vào sở hành sai trái. Không nên chính mình giao thiệp với kẻ bám víu (vào tà kiến), bị xao lãng. Hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 113Nên cộng sự với vị nghe nhiều (học rộng), nắm giữ Giáo Pháp, là người bạn cao thượng, có biện tài. Sau khi nhận biết các mục đích, nên lìa bỏ điều nghi hoặc, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 114Trong khi không chú trọng và không mong mỏi sự vui đùa, sự thích thú, và khoái lạc ngũ dục ở trên đời, đã lánh xa việc trang sức, có sự nói lời chân thật, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 115Sau khi từ bỏ con và vợ, cha và mẹ, các tài sản và lúa gạo, các quyến thuộc và các dục đúng theo giới hạn (về năng lực của bản thân), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 116Điều này (ngũ dục) là sự ràng buộc, hạnh phúc ở đây là sự khoái lạc nhỏ nhoi, chính sự khổ đau ở đây là nhiều hơn. Người có trí, sau khi biết được điều này là móc câu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 117Tợ như loài loài thủy tộc phá tan chiếc lưới ở trong nước, tợ như ngọn lửa không còn quay lại nơi đã bị đốt cháy, sau khi đã tự phá tan các sự ràng buộc, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 118Có mắt nhìn xuống và không có sự buông thả ở bước chân đi, có các căn được hộ trì, có tâm ý được canh phòng, không bị ngập tràn (bởi dục vọng), trong khi không bị thiêu đốt (bởi phiền não), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 119Sau khi trút bỏ các biểu tượng gia chủ tương tợ như cây san hô có lá được rũ bỏ, sau khi đã ra đi, mặc y ca-sa, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 120Sự tham đắm trong các vị nếm là việc không làm, không có sự buông thả, không có sự nuôi dưỡng kẻ khác, có sự đi khất thực theo tuần tự từng nhà, có tâm không quyến luyến ở các gia đình, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 121Sau khi dứt bỏ năm pháp che lấp của tâm, sau khi xua đuổi hẳn tất cả các tùy phiền não, không bị lệ thuộc (tà kiến), sau khi cắt đứt ái luyến và sân hận, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 122Sau khi đã bỏ lại sau lưng lạc và khổ cùng với hỷ và ưu ngay trước đây, sau khi đạt được xả (của tứ thiền), sự vắng lặng (của định ở tứ thiền), và sự thanh tịnh (của giải thoát), hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 123Có sự nỗ lực tinh tấn để đạt đến chân lý tuyệt đối, có tâm không thụ động, có sự thực hành không biếng nhác, có sự cố gắng bền bỉ, có được sức mạnh và năng lực, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 124Trong khi không bỏ phế việc ẩn cư tham thiền, là người thường xuyên hành trì thuận pháp đối với các pháp, là người nhận chân được sự tai hại trong các hữu, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 125Trong khi ước nguyện sự đoạn diệt ái (Niết Bàn), không xao lãng, không ngây ngô khờ khạo, có sự nghe nhiều, có niệm, đã hiểu rõ Giáo Pháp, được quả quyết, có sự tinh tấn, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 126Trong khi không kinh hãi tợ như con sư tử không kinh hãi đối với các tiếng động, trong khi không dính mắc tợ như làn gió không bị dính mắc ở tấm lưới, trong khi không vấy bẩn tợ như đóa sen không bị vấy bẩn bởi nước, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 127Tợ như con sư tử có sức mạnh của các răng nanh, là vua của các loài thú, có cuộc sống khuất phục và chế ngự (các con thú), hãy nên lai vãng các trú xứ xa vắng, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 128Vào thời điểm đang rèn luyện từ, bi, hỷ, xả, và giải thoát, trong khi không bị chống đối bởi toàn bộ thế gian, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 129Trong khi từ bỏ tham ái sân hận và si mê, trong khi tự phá tan các sự ràng buộc, trong khi không kinh hãi về sự đoạn tận mạng sống, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 130Người ta cộng sự và phục vụ có động cơ và chủ đích (lợi lộc), ngày nay những người bạn không có động cơ (lợi lộc) là khó đạt được, những người (chỉ) biết đến lợi ích của chính mình là những người không trong sạch, hãy nên sống một mình tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 131“Những vị có giới thanh tịnh, có tuệ hoàn toàn thanh tịnh, định tĩnh, gắn bó với sự tỉnh thức, là người hành pháp minh sát, có sự thấy biết đặc biệt về các pháp, nhận biết rõ ràng về các chi phần của Đạo và các yếu tố đưa đến giác ngộ.
BJT 132Sau khi rèn luyện không tánh (giải thoát), vô nguyện (giải thoát), và vô tướng (giải thoát) trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, những bậc trí tuệ nào không tiến đến bản thể Thinh Văn (sẽ) trở thành các đấng Tự Chủ, các bậc Chiến Thắng đơn độc.
BJT 133Là những vị có các yếu tố cao thượng, có sự tập hợp của nhiều bản chất tự nhiên, cai quản được các tâm, đã vượt qua giòng lũ của tất cả khổ đau, có tâm phấn chấn, có sự thấy biết chân lý tuyệt đối, tương đương loài sư tử, tợ như sừng của loài tê giác (chỉ là một không hai).
BJT 134Có các giác quan an tịnh, có tâm ý an tịnh, có định, có sự hành sử trí tuệ thâm sâu của tự thân, là những ngọn đèn đang soi sáng mục đích cho các kẻ khác ở thế giới này, những vị Phật Độc Giác này được quý trọng vào mọi thời điểm.
BJT 135Có tất cả các pháp ngăn che đã được dứt bỏ, là vị chúa của mọi người, là những ngọn đèn của thế gian có ánh sáng của vàng khối, hiển nhiên là những bậc xứng đáng được cúng dường ở thế gian, những vị Phật Độc Giác này được quý trọng vào mọi thời điểm.
BJT 136Lời khéo được giảng dạy của chư Phật Độc Giác lưu truyền ở thế gian luôn cả chư Thiên. Sau khi đã nghe được như thế, những kẻ ngu nào không hành theo những kẻ ấy quẩn quanh trong những khổ đau lượt này đến lượt khác.
BJT 137Lời khéo được giảng dạy của chư Phật Độc Giác tương tợ như mật ong đang nhỏ xuống từng giọt. Sau khi đã nghe được như thế, những ai gắn bó với sự thực hành, những người ấy (sẽ) trở thành những người thấy được chân lý, có được trí tuệ.”
BJT 138Sau khi đã ra đi (đạt được quả vị giác ngộ), những kệ ngôn cao thượng đã được chư Phật Độc Giác là các đấng Chiến Thắng nói lên, những kệ ngôn ấy đã được đấng Sư Tử dòng Sakya, bậc Tối Thượng Nhân, giảng giải vì mục đích của việc nhận thức Giáo Pháp.
BJT 139Vì lòng thương tưởng thế gian, đấng Sư Tử, bậc Tự Chủ (Gotama), đã thực hiện, đã giảng giải những kệ ngôn này của chư Phật Độc Giác ấy nhằm mục đích làm tăng trưởng sự chấn động tâm, sự không quyến luyến, và sự khôn ngoan vượt bực (của các bậc thiện trí).
Ký Sự về Phật Độc Giác được đầy đủ.
Atha paccekabuddhāpadānaṁ suṇātha—
“Tathāgataṁ jetavane vasantaṁ,
Apucchi vedehamunī nataṅgo;
‘Paccekabuddhā kira nāma honti,
Bhavanti te hetubhi kehi vīra’.
Tadāha sabbaññuvaro mahesi,
Ānandabhaddaṁ madhurassarena;
‘Ye pubbabuddhesu katādhikārā,
Aladdhamokkhā jinasāsanesu.
Teneva saṁvegamukhena dhīrā,
Vināpi buddhehi sutikkhapaññā;
Ārammaṇenāpi parittakena,
Paccekabodhiṁ anupāpuṇanti.
Sabbamhi lokamhi mamaṁ ṭhapetvā,
Paccekabuddhehi samova natthi;
Tesaṁ imaṁ vaṇṇapadesamattaṁ,
Vakkhāmahaṁ sādhu mahāmunīnaṁ.
Sayameva buddhānaṁ mahāisīnaṁ,
Sādhūni vākyāni madhūva khuddaṁ;
Anuttaraṁ bhesajaṁ patthayantā,
Suṇātha sabbesu pasannacittā’.
Paccekabuddhānaṁ samāgatānaṁ,
Paramparaṁ byākaraṇāni yāni;
Ādīnavo yañca virāgavatthuṁ,
Yathā ca bodhiṁ anupāpuṇiṁsu.
Sarāgavatthūsu virāgasaññī,
Rattamhi lokamhi virattacittā;
Hitvā papañce jiya phanditāni,
Tatheva bodhiṁ anupāpuṇiṁsu.
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ,
Aviheṭhayaṁ aññatarampi tesaṁ;
Mettena cittena hitānukampī,
Eko care khaggavisāṇakappo.
Sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṁ,
Aviheṭhayaṁ aññatarampi tesaṁ;
Na puttamiccheyya kuto sahāyaṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Saṁsaggajātassa bhavanti snehā,
Snehanvayaṁ dukkhamidaṁ pahoti;
Ādīnavaṁ snehajaṁ pekkhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Mitte suhajje anukampamāno,
Hāpeti atthaṁ paṭibaddhacitto;
Etaṁ bhayaṁ santhave pekkhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Vaṁso visālova yathā visatto,
Puttesu dāresu ca yā apekkhā;
Vaṁse kaḷīrova asajjamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Migo araññamhi yathā abaddho,
Yenicchakaṁ gacchati gocarāya;
Viññū naro seritaṁ pekkhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Āmantanā hoti sahāyamajjhe,
Vāse ca ṭhāne gamane cārikāya;
Anabhijjhitaṁ seritaṁ pekkhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Khiḍḍā ratī hoti sahāyamajjhe,
Puttesu pemaṁ vipulañca hoti;
Piyavippayogaṁ vijigucchamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Cātuddiso appaṭigho ca hoti,
Santussamāno itarītarena;
Parissayānaṁ sahitā achambhī,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Dussaṅgahā pabbajitāpi eke,
Atho gahaṭṭhā gharamāvasantā;
Appossukko paraputtesu hutvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Oropayitvā gihibyañjanāni,
Sañchinnapatto yathā koviḷāro;
Chetvāna vīro gihibandhanāni,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Sace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāridhīraṁ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni,
Careyya tenattamano satīmā’.
‘No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ;
Rājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya,
Eko care mātaṅgaraññeva nāgo’.
‘Addhā pasaṁsāma sahāyasampadaṁ,
Seṭṭhā samā sevitabbā sahāyā;
Ete aladdhā anavajjabhojī,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Disvā suvaṇṇassa pabhassarāni,
Kammāraputtena suniṭṭhitāni;
Saṅghaṭṭamānāni duve bhujasmiṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Evaṁ dutīyena sahā mamassa,
Vācābhilāpo abhisajjanā vā;
Etaṁ bhayaṁ āyatiṁ pekkhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Kāmā hi citrā madhurā manoramā,
Virūparūpena mathenti cittaṁ;
Ādīnavaṁ kāmaguṇesu disvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Ītī ca gaṇḍo ca upaddavo ca,
Rogo ca sallañca bhayañca metaṁ;
Etaṁ bhayaṁ kāmaguṇesu disvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Sītañca uṇhañca khudaṁ pipāsaṁ,
Vātātape ḍaṁsasarīsape ca;
Sabbānipetāni abhibbhavitvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Nāgova yūthāni vivajjayitvā,
Sañjātakhandho padumī uḷāro;
Yathābhirantaṁ viharaṁ araññe,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Aṭṭhāna taṁ saṅgaṇikāratassa,
Yaṁ phassaye sāmayikaṁ vimuttiṁ;
Ādiccabandhussa vaco nisamma,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Diṭṭhīvisūkāni upātivatto,
Patto niyāmaṁ paṭiladdhamaggo;
Uppannañāṇomhi anaññaneyyo,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Nillolupo nikkuho nippipāso,
Nimmakkha niddhantakasāvamoho;
Nirāsayo sabbaloke bhavitvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Pāpaṁ sahāyaṁ parivajjayetha,
Anatthadassiṁ visame niviṭṭhaṁ;
Sayaṁ na seve pasutaṁ pamattaṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Bahussutaṁ dhammadharaṁ bhajetha,
Mittaṁ uḷāraṁ paṭibhānavantaṁ;
Aññāya atthāni vineyya kaṅkhaṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Khiḍḍaṁ ratiṁ kāmasukhañca loke,
Analaṅkaritvā anapekkhamāno;
Vibhūsaṭṭhānā virato saccavādī,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Puttañca dāraṁ pitarañca mātaraṁ,
Dhanāni dhaññāni ca bandhavāni;
Hitvāna kāmāni yathodhikāni,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Saṅgo eso parittamettha sokhyaṁ,
Appassādo dukkhamevettha bhiyyo;
Gaḷo eso iti ñatvā matimā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Sandālayitvāna saṁyojanāni,
Jālaṁva bhetvā salilambucārī;
Aggīva daḍḍhaṁ anivattamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Okkhittacakkhū na ca pādalolo,
Guttindriyo rakkhitamānasāno;
Anavassuto apariḍayhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Ohārayitvā gihibyañjanāni,
Sañchannapatto yathā pārichatto;
Kāsāyavattho abhinikkhamitvā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Rasesu gedhaṁ akaraṁ alolo,
Anaññaposī sapadānacārī;
Kule kule appaṭibaddhacitto,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Pahāya pañcāvaraṇāni cetaso,
Upakkilese byapanujja sabbe;
Anissito chejja sinehadosaṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Vipiṭṭhikatvāna sukhañca dukkhaṁ,
Pubbeva somanassadomanassaṁ;
Laddhānupekkhaṁ samathaṁ visuddhaṁ,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Āraddhavīriyo paramatthapattiyā,
Alīnacitto akusītavutti;
Daḷhanikkamo thāmabalūpapanno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Paṭisallānaṁ jhānamariñcamāno,
Dhammesu niccaṁ anudhammacārī;
Ādīnavaṁ sammasitā bhavesu,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Taṇhakkhayaṁ patthayamappamatto,
Aneḷamūgo sutavā satīmā;
Saṅkhātadhammo niyato padhānavā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Sīhova saddesu asantasanto,
Vātova jālamhi asajjamāno;
Padumaṁva toyena alippamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Sīho yathā dāṭhabalī pasayha,
Rājā migānaṁ abhibhuyya cārī;
Sevetha pantāni senāsanāni,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Mettaṁ upekkhaṁ karuṇaṁ vimuttiṁ,
Āsevamāno muditañca kāle;
Sabbena lokena avirujjhamāno,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Rāgañca dosañca pahāya mohaṁ,
Sandālayitvāna saṁyojanāni;
Asantasaṁ jīvitasaṅkhayamhi,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
‘Bhajanti sevanti ca kāraṇatthā,
Nikkāraṇā dullabhā ajja mittā;
Attatthapaññā asucīmanussā,
Eko care khaggavisāṇakappo’.
Visuddhasīlā suvisuddhapaññā,
Samāhitā jāgariyānuyuttā;
Vipassakā dhammavisesadassī,
Maggaṅgabojjhaṅgagate vijaññā.
Suññappaṇidhiñca tathānimittaṁ,
Āsevayitvā jinasāsanamhi;
Ye sāvakattaṁ na vajanti dhīrā,
Bhavanti paccekajinā sayambhū.
Mahantadhammā bahudhammakāyā,
Cittissarā sabbadukkhoghatiṇṇā;
Udaggacittā paramatthadassī,
Sīhopamā khaggavisāṇakappā.
Santindriyā santamanā samādhī,
Paccantasattesu patippacārā;
Dīpā parattha idha vijjalantā,
Paccekabuddhā satataṁ hitāme.
Pahīnasabbāvaraṇā janindā,
Lokappadīpā ghanakañcanābhā;
Nissaṁsayaṁ lokasudakkhiṇeyyā,
Paccekabuddhā satatappitāme.
Paccekabuddhānaṁ subhāsitāni,
Caranti lokamhi sadevakamhi;
Sutvā tathā ye na karonti bālā,
Caranti dukkhesu punappunaṁ te.
Paccekabuddhāna subhāsitāni,
Madhuṁ yathā khuddamavassavantaṁ;
Sutvā tathā ye paṭipattiyuttā,
Bhavanti te saccadasā sapaññā.
Paccekabuddhehi jinehi bhāsitā,
Kathā uḷārā abhinikkhamitvā;
Tā sakyasīhena naruttamena,
Pakāsitā dhammavijānanatthaṁ.
Lokānukampāya imāni tesaṁ,
Paccekabuddhāna vikubbitāni;
Saṁvegasaṅgamativaḍḍhanatthaṁ,
Sayambhusīhena pakāsitānī”ti.
Paccekabuddhāpadānaṁ samattaṁ.
Now listen to the legend of the Lonely Buddhas:
Walt 82 The Sage of Vedeha, his body bent, asked
the Thus-Gone-One dwelling in Jetavana,
“Indeed there are those called the Lonely Buddhas;
through what causes do they become so, Wise One?” Verse 1
Walt 83 Then spoke the Omniscient, Outstanding, Great Sage,
to lucky Ānanda with his honeyed voice,
“Who performed service among former Buddhas,
but didn’t get freed in their dispensations, Verse 2
Walt 84 because that is the means to awaken, wise,
they with sharp knowing, through knowledge and power,
because of their wishes and also great strength,
reach the Awakening of Lonely Buddhas. Verse 3
Walt 85 In every world, with the exception of me,
there is no equal for the Lonely Buddhas.
I will describe a piece of the excellent
character of those Buddhas, the Great Sages.” Verse 4
Walt 86 All of you, with well-pleased minds, aspiring for
the unsurpassed medicine, hear, by yourselves,
the excellent sayings, which are short and sweet,
of those Great Sages who were Lonely Buddhas, Verse 5
Walt 87 which are explanations of generations
of Lonely Buddhas who gathered together,
and a story of dispassion for danger,
and likewise how they achieved Awakening. Verse 6
Walt 88 With awareness detached from passionate things,
mind not delighting in delights in the world,
abandoning obstacles, throbbing conquered,
thereby indeed they achieved Awakening. Verse 7
Walt 89 Putting away the stick among all beings,
not causing harm to a single one of them,
with a loving mind, friendly, compassionate,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 8
Walt 90 Putting away the stick among all beings,
not causing harm to a single one of them,
not wishing for sons, let alone companions,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 9
Walt 91 Affections arise for one with connections;
this dis-ease proceeds in line with affections.
Seeing the danger that’s born of affections,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 10
Walt 92 Feeling compassion for friends and companions,
one puts off the goal, mind tied to their problems;
seeing that fearfulness in intimacy,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 11
Walt 93 One who is attentive to sons and to wives
is entangled like a large bamboo thicket.
Not stuck to others, like a new bamboo shoot,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 12
Walt 94 Just as a deer, not ensnared, goes for pasture
in the forest according to its wishes,
a knowing man looks after independence;
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 13
Walt 95 Resting, standing, going, wandering there is
some invitation amidst one’s companions.
Looking after independence most don’t want,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 14
Walt 96 Amidst one’s companions there is delighting
in sports, and there is abundant love for sons.
Though hating separation from what’s held dear,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 15
Walt 97 Global in outlook, one is causing no harm,
being happy with whatever comes one’s way;
an endurer of troubles, not stiff with fear,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 16
Walt 98 Even some who have gone forth are ill-disposed;
likewise some householders living in the house.
Being unconcerned about others’ children,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 17
Walt 99 Shedding the attributes of life in the house
like an ebony tree whose leaves have fallen,
the hero severs the ties to household life;
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 18
Walt 100 If one should obtain a clever companion,
a co-wanderer who lives well and is wise,
after having overcome every trouble,
one would wander with that one, thrilled and mindful. Verse 19
Walt 101 If one should not get a clever companion,
a co-wanderer who lives well and is wise,
then like a king quitting a conquered kingdom,
one should wander alone, like tuskers in the woods. Verse 20
Walt 102 Truly we’re praising success with companions;
those who are better or equal should be served.
Not getting those, not enjoying sinful things,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 21
Walt 103 Seeing shiny bangles made out of fine gold,
which have been well-made by the son of a smith,\
banging together when two are on one arm
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 22
Walt 104 “Like that, with another, there will be for me,
meaningless chatter or ill-tempered bad speech;”
seeing that as a danger for the future,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 23
Walt 105 Sense pleasures are varied, sweet and delightful;
they churn up the mind with their varying form.
Seeing danger in the strands of sense pleasure,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 24
Walt 106 “For me this is calamity, misfortune;
a sickness, a sharp arrow, a fearsome thing.”
Seeing this fear in the strands of sense pleasure,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 25
Walt 107 Freezing cold and scorching heat, hunger and thirst,
wind and hot weather and gadflies and serpents:
having vanquished even all of those problems,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 26
Walt 108 Just as a noble elephant with a full-
grown spotted body, abandoning the herd,
might dwell in the woods, however it wishes,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 27
Walt 109 “One who is fond of company cannot touch
liberation, even temporarily.”
Heeding with care those words of the Sun’s Kinsman,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 28
Walt 110 Freed from incessant wrangling of opinions,
gaining the way, getting the path, with the thought,
“I know I am not to be led by others,”
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 29
Walt 111 Freed from greed, without deceit, and thirst-free,
lacking hypocrisy, fault- and folly-free,
becoming intention-free in the whole world,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 30
Walt 112 Avoiding, not consorting with an evil
companion, who is blind to the goal, who gets
into trouble, who intends things, is slothful,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 31
Walt 113 One should consort with someone noble, a friend,
very learned, Dhamma-bearer, skilled preacher.
Discerning one’s own goals, removing all doubt,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 32
Walt 114 Not embellishing, not looking after sport
nor delights, pleasures, happiness in the world;
abstaining from adornment, telling the truth,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 33
Walt 115 Having given up sense pleasures completely,
including sons and wives, father and mother,
wealth and grain and also all one’s relatives,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 34
Walt 116 Mindful, discerning, “this is an attachment;
the happiness here is trifling, little fun;
here there is much suffering, this is a shaft,”
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 35
Walt 117 Having broken to bits one’s own hindrances,
like a fish breaking a net in the water,
like fire that does not return to what is burnt,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 36
Walt 118 With eyes cast downward, not just goofing around,
having senses guarded and mind protected,
not filled with desire, not burning as though fire,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 37
Walt 119 Discarding the attributes of household life,
just like a coral tree with fallen-off leaves,
departing the house wearing the saffron robe,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 38
Walt 120 Not greedy for good tastes, not wavering, not
feeding others, on unbroken begging rounds,
with a mind that’s not bound to this clan or that,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 39
Walt 121 Abandoning the five hindrances of mind,
having pushed away all of the defilements,
independent, affection and hate removed,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 40
Walt 122 Putting happiness and suffering behind,
and even in the past, mental joy and pain;
attaining equanimity, calm and pure,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 41
Walt 123 With strenuous effort to reach the best goal,
with mind unstuck and behavior attentive,
with firm exertion, having strength and power,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 42
Walt 124 Not quitting solitude or meditation,
always living among things by the Teaching,
grasping the danger within existences,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 43
Walt 125 Aspiring to destroy craving, not lazy,
not foolish, learned, possessing mindfulness,
probing the Teaching, restrained, energetic,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 44
Walt 126 Not terrified, like a lion hearing sounds;
unentangled, as is the wind in a net;
not smeared, like a pink lotus by the water,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 45
Walt 127 Having overcome, like a strong-toothed lion,
the king of beasts, wandering victorious,
one should make use of lodgings that are remote,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 46
Walt 128 Practicing love, equanimity, pity,
release, or joy for others at the right time,
being unobstructed by the entire world,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 47
Walt 129 Quitting passion and hatred and delusion,
having broken to bits one’s own hindrances,
not trembling at the moment when life’s destroyed,
one should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 48
Walt 130 They associate, they embrace with some motive;
friends without motives are hard to find these days.
Wise about self-interest, people aren’t pure.
One should wander alone, like a rhino’s horn. Verse 49
Walt 131 With Pure Morals and With Very Pure Wisdom,
Attentive, Applying Selves to Mindfulness,
Insightful, Seeing the Teaching’s Distinction,
Knowing the Aspects of Path and of Wisdom, Verse 50
Walt 132 in a Victor’s dispensation practicing
merit, aspiration and thus gaining signs,
Wise Ones who don’t go on to have followers
become Lonely Victors, those Self-Become Ones. Verse 51
Walt 133 With Vast Dhamma, and Many Dhamma-Bodies,
Mind-Lords, Crossing the Flood of All Suffering,
With Thrilled Minds, Seers of the Ultimate Goal,
Analogues of Lions, Like a Rhino’s Horn, Verse 52
Walt 134 With Tranquil Senses, With Tranquil Minds, Composed,
Acting Mindfully for neighboring beings,
Lamps shining the light of ultimate truth here,
these Lonely Buddhas are constantly honored. Verse 53
Walt 135 All Obstacles Abandoned, Lords of People,
Lamps of the World, Shedding Light Like Heaps of Gold,
Free of Doubt and Good for the World to Look At,
these Lonely Buddhas are constantly honored. Verse 54
Walt 136 The clever sayings of the Lonely Buddhas
are circulating in the world with its gods.
Having heard, those who don’t act that way are fools;
they spin in suffering again and again. Verse 55
Walt 137 The clever sayings of the Lonely Buddhas
are as sweet as if they were flowing honey.
Having heard, those who practice accordingly
become seers of the Four Truths, very wise. Verse 56
Walt 138 These lofty verses spoken by those Victors,
Lonely Buddhas, gone forth into homelessness,
were made known, for apprehending the Teaching,
by the Śākyan Lion, the Ultimate Man. Verse 57
Walt 139 With pity for the world, these transformations
of those Self-Become Ones, the Lonely Buddhas,
were made known by him, the Self-Become Lion,
for increasing emotion and connection. Verse 58
The Legend of the Lonely Buddhas is finished.