BJT 653Sau khi đi ra khỏi cổng tu viện, bậc Đại Hiền Trí Padumuttara trong lúc đổ mưa cơn mưa Bất Tử đã giúp cho đám đông dân chúng đạt đến Niết Bàn.
BJT 654Một trăm ngàn vị anh hùng ấy có sáu thắng trí, có đại thần lực, tháp tùng bậc Toàn Giác tợ như bóng không có sự xa lìa (hình).
BJT 655Tôi đã ngồi trên mình voi (nắm giữ) chiếc lọng trắng cao quý tối thượng. Sau khi nhìn thấy hình dáng vô cùng lịch sự, tôi đã có niềm hạnh phúc sanh khởi.
BJT 656Leo xuống từ mình voi, tôi đã đi đến gần bậc Nhân Ngưu. Tôi đã cầm lấy chiếc lọng làm bằng châu báu của tôi che cho đức Phật Tối Thượng.
BJT 657Sau khi biết được ý định của tôi, bậc Đại Ần Sĩ Padumuttara đã ngưng lại cuộc thuyết giảng ấy và đã nói lên những lời kệ này:
BJT 658“Người nào đã nắm giữ chiếc lọng được tô điểm các vật trang sức bằng vàng, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 659Từ nơi này ra đi, người nam này sẽ cư ngụ ở cõi trời Đẩu Suất và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 660(Người này) sẽ cai quản Thiên quốc ba mươi bốn lần, sẽ là vị thống lãnh quân đội cư ngụ ở trái đất trong một trăm lẻ tám kiếp sống.
BJT 661(Người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm mươi tám lần và sẽ cai quản lãnh thổ vương quốc rộng bao la ở trên trái đất.
BJT 662Vào một trăm ngàn kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 663Có tên là Ānanda (người này) sẽ là thân bằng quyến thuộc, sẽ trở thành người thị giả của bậc Đại Ẩn Sĩ là biểu tượng của gia tộc dòng Sakya.
BJT 664(Người này) sẽ có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, được rành rẽ về nhiều chân lý, có hành vi khiêm nhường, không nhẫn tâm, có sự trì tụng toàn bộ.
BJT 665Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh, (người này) sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, sẽ Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
BJT 666Các con voi sống ở rừng là loài voi mātaṅga (đến tuổi) bị tiết dục ở ba nơi, được sáu mươi tuổi, có các ngà như cán cày, là phương tiện di chuyển của đức vua.
BJT 667Hàng trăm ngàn vị ấy cũng là các bậc trí tuệ và có đại thần lực, tất cả các vị ấy là không sánh bằng đối với đức Phật đấng Tượng Vương.
BJT 668Tôi lễ bái vào canh đầu, vào canh giữa, và vào canh cuối. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã phục vụ đức Phật Tối Thượng.
BJT 669Tôi có sự nhiệt tâm, và cẩn trọng nữa, có sự nhận biết mình, có niệm (đầy đủ), đã đạt đến Quả vị Nhập Lưu, và rành rẽ về các nền tảng của bậc Hữu Học.
BJT 670Việc tôi đã khẳng định về hành động ở một trăm ngàn kiếp trước đây, tôi đã thành tựu nền tảng ấy, tôi đã được tồn tại, được bất động ở Chánh Pháp.
BJT 671Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 672Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 673Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ānanda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ānanda là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Phật (Toàn Giác), Phật Độc Giác, vị Sāriputta, vị Koḷita, vị Kassapa, vị Anuruddha, vị trưởng lão Puṇṇa, vị Upāli, vị Aññāsikoṇḍañña, vị Piṇḍola, vị Revata, và bậc trí tuệ Ānanda; toàn bộ sáu trăm năm mươi câu kệ đã được gộp chung lại.
Phẩm Đức Phật là phẩm thứ nhất.
“Ārāmadvārā nikkhamma,
padumuttaro mahāmuni;
Vassento amataṁ vuṭṭhiṁ,
nibbāpesi mahājanaṁ.
Satasahassaṁ te dhīrā,
chaḷabhiññā mahiddhikā;
Parivārenti sambuddhaṁ,
chāyāva anapāyinī.
Hatthikkhandhagato āsiṁ,
setacchattaṁ varuttamaṁ;
Sucārurūpaṁ disvāna,
vitti me udapajjatha.
Oruyha hatthikhandhamhā,
upagacchiṁ narāsabhaṁ;
Ratanāmayachattaṁ me,
buddhaseṭṭhassa dhārayiṁ.
Mama saṅkappamaññāya,
padumuttaro mahāisi;
Taṁ kathaṁ ṭhapayitvāna,
imā gāthā abhāsatha.
‘Yo so chattamadhāresi,
soṇṇālaṅkārabhūsitaṁ;
Tamahaṁ kittayissāmi,
suṇotha mama bhāsato.
Ito gantvā ayaṁ poso,
tusitaṁ āvasissati;
Anubhossati sampattiṁ,
accharāhi purakkhato.
Catuttiṁsatikkhattuñca,
devarajjaṁ karissati;
Balādhipo aṭṭhasataṁ,
vasudhaṁ āvasissati.
Aṭṭhapaññāsakkhattuñca,
cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
mahiyā kārayissati.
Kappasatasahassamhi,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Sakyānaṁ kulaketussa,
ñātibandhu bhavissati;
Ānando nāma nāmena,
upaṭṭhāko mahesino.
Ātāpī nipako cāpi,
bāhusacce sukovido;
Nivātavutti atthaddho,
sabbapāṭhī bhavissati.
Padhānapahitatto so,
upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissatināsavo.
Santi āraññakā nāgā,
kuñjarā saṭṭhihāyanā;
Tidhāpabhinnā mātaṅgā,
īsādantā urūḷhavā.
Anekasatasahassā,
paṇḍitāpi mahiddhikā;
Sabbe te buddhanāgassa,
na hontupaṇidhimhi te’.
Ādiyāme namassāmi,
majjhime atha pacchime;
Pasannacitto sumano,
buddhaseṭṭhaṁ upaṭṭhahiṁ.
Ātāpī nipako cāpi,
sampajāno patissato;
Sotāpattiphalaṁ patto,
sekhabhūmīsu kovido.
Satasahassito kappe,
yaṁ kammamabhinīhariṁ;
Tāhaṁ bhūmimanuppatto,
ṭhitā saddhammamācalā.
Svāgataṁ vata me āsi,
buddhaseṭṭhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ānando thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ānandattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Buddho paccekabuddho ca,
sāriputto ca kolito;
Kassapo anuruddho ca,
puṇṇatthero upāli ca.
Aññāsikoṇḍañño piṇḍolo,
revatānandapaṇḍito;
Chasatāni ca paññāsa,
gāthāyo sabbapiṇḍitā.
Apadāne buddhavaggo paṭhamo.
Walt 653 Setting out from the ashram’s door
the Great Sage Padumuttara
was raining the rain of deathlessness
and quenching the population. Verse 1
Walt 654 One hundred thousand Hero monks
strong, with the special knowledges,
were surrounding the Sambuddha
like shadows that never depart. Verse 2
Walt 655 I was on an elephant’s back
with a superb white umbrella.
Having seen his beautiful form
great happiness arose in me. Verse 3
Walt 656 Dismounting from the elephant
I approached him, the Bull of Men,
and raised over the Best Buddha
my umbrella, made of gemstones. Verse 4
Walt 657 Padumuttara, Sage So Great,
discerning what I was thinking,
halting the talk he was giving,
then spoke these verses about me: Verse 5
Walt 658 “He who’s hoisting this umbrella
adorned with ornaments of gold,
I shall relate details of him;
all of you listen to my words: Verse 6
Walt 659 Having gone on from here this man
will dwell in Tusitā heaven.
He’ll experience happiness
being honored by divine nymphs. Verse 7
Walt 660 He will exercise divine rule
four and thirty different times.
One hundred eight times a strong king
he will reside upon the earth. Verse 8
Walt 661 And he’ll be a wheel-turning king
eight and fifty different times.
He will exercise on the earth
uncountable regional reigns. Verse 9
Walt 662 In one hundred thousand aeons
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 10
Walt 663 He will be a close relative
of that Flag of the Śākyan Clan.
Ānanda will be his name then,
attendant of the Sage So Great. Verse 11
Walt 664 Ardent striver, intelligent,
and wise in terms of many truths,
humble in action, and yielding,
he’ll recite all the Buddha’s words. Verse 12
Walt 665 Being one bent on exertion,
calmed, devoid of grounds for rebirth,
knowing well all the defilements
he’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 13
Walt 666There are elephants in the woods,
tuskers who are sixty years old,
mātaṅgas rutting in three ways,
chariot-pole tusks, vehicles for kings. Verse 14
Walt 667 Like them there are numerous lakhs
of wise men with vast superpowers
all of whom are not astonished
at the Buddha-elephant’s might. Verse 15
Walt 668 I worship in the beginning,
in the middle and at the end.
With a pleased heart and happy mind
I attend on the Best Buddha. Verse 16
Walt 669 Ardent striver, intelligent,
one who knows truly, mindful one,
arrived at the stream-enterer-fruit,
skilled in the training-bases, I Verse 17
Walt 670 brought forth the karma which I did
one hundred thousand aeons hence.
I have now achieved that station,
firm, unwavering in Dhamma. Verse 18
Walt 671 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint.
Walt 672Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 19
Walt 673 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 20
Thus indeed Venerable Ānanda Thera spoke these verses.
The legend of Ānanda Thera is finished.
The Summary:
The Buddha and the Lonely Buddha
Sāriputta and Kolita
Kassapa and Anuruddha
Puṇṇa Thera and Upāli.
Koṇḍañña and Piṇḍola
and Revata, Ānanda the Wise
Six hundred and fifty verses
adding them all together.
The Buddha Chapter of the Apadāna, the First.