BJT 2266Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hữu Nhãn đã rời khỏi khu rừng bao la và đã đi đến trú xá.
BJT 2267Sau khi cầm lấy bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay, tôi đã dâng lên đức Phật, bậc có tâm từ ái như thế ấy.
BJT 2268Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã thọ hưởng sự thành tựu và đã không bị sanh vào khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 2269Trước đây năm mươi kiếp, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng tên Samittanandana, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2270Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Yūthikāpupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị có bông hoa tamāla, thảm trải bằng cỏ, vị khám phá sự đổ vỡ, vị liên quan đến bông hoa asoka, vị có bông hoa aṅkola, chồi non, trái cây tinduka, các bông hoa nela, vị có bông hoa kiṅkaṇi, vị có bông hoa yūthikā; (tổng cộng) có năm mươi tám câu kệ.
Phẩm Tamālapupphiya là phẩm thứ hai mươi.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Vị dâng cúng thức ăn, (vị có) đoàn tùy tùng, bông hoa sereyya, trưởng lão Sobhita là tương tợ, vị có chiếc lọng che, bông hoa bandhujīva, và luôn cả vị có sự phục vụ khéo léo, bông hoa kumuda, bông hoa kuṭaja, và luôn cả vị có bông hoa tamāla đã được thực hiện là thứ mười. Có sáu trăm câu kệ và sáu mươi sáu câu thêm vào đó.
Nhóm “Mười” từ phẩm Bhikkhā.
Nhóm “Một Trăm” thứ nhì được đầy đủ.
“Padumuttaro nāma jino,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Pavanā nikkhamitvāna,
vihāraṁ yāti cakkhumā.
Ubho hatthehi paggayha,
yūthikaṁ pupphamuttamaṁ;
Buddhassa abhiropayiṁ,
mettacittassa tādino.
Tena cittappasādena,
anubhotvāna sampadā;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Ito paññāsakappesu,
eko āsiṁ janādhipo;
Samittanandano nāma,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā yūthikapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Yūthikapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Tamālapupphiyavaggo vīsatimo.
Tassuddānaṁ
Tamālatiṇasanthāro,
khaṇḍaphulli asokiyo;
Aṅkolakī kisalayo,
tinduko nelapupphiyo;
Kiṅkaṇiko yūthiko ca,
gāthā paññāsa aṭṭha cāti.
Atha vagguddānaṁ
Bhikkhādāyī parivāro,
sereyyo sobhito tathā;
Chattañca bandhujīvī ca,
supāricariyopi ca.
Kumudo kuṭajo ceva,
tamāli dasamo kato;
Chasatāni ca gāthāni,
chasaṭṭhi ca tatuttari.
Bhikkhāvaggadasakaṁ.
Dutiyasatakaṁ samattaṁ.
Walt 2266 The Victor Padumuttara
Sacrificial Recipient,
leaving the forest goes to the
monastery, the One with Eyes. Verse 1
Walt 2267 With both my hands I gathered up
an unsurpassed jasmine flower.
I offered it to the Buddha,
Loving-Hearted, the Neutral One. Verse 2
Walt 2268 Because of that mental pleasure,
having experienced success,
for one hundred thousand aeons
I’ve come to know no bad rebirth. Verse 3
Walt 2269 In the fiftieth aeon hence
there was one lord of the people
known as Samittanandana,
a wheel-turning king with great strength. Verse 4
Walt 2270 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Yūthikāpupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Yūthikāpupphiya Thera is finished.
The Summary:
Tamālī, Tiṇasanthāra,
Khaṇḍaphullī, Asokiya,
Aṅkoḷakī, Kisalaya,
Tinduka, Nelapupphiya,
Kiṅkaṇika and Yūthika:
there are fifty verses plus eight.
The Tamālapupphiya Chapter, the Twentieth.
Then there is the Summary of Chapters:
Bhikkhada and Parivāra,
Chatta and Bandhujīvī and
also Supāricariya,
Kumuda, Kuṭaja as well,
Tamālika, the tenth is done.
There are six hundred verses here
and sixty six more than that too.
The Ten Chapters called Bhikkha.
The Second Hundred is finished.
BJT 2266Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, bậc Hữu Nhãn đã rời khỏi khu rừng bao la và đã đi đến trú xá.
BJT 2267Sau khi cầm lấy bông hoa yūthika tối thượng bằng cả hai tay, tôi đã dâng lên đức Phật, bậc có tâm từ ái như thế ấy.
BJT 2268Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã thọ hưởng sự thành tựu và đã không bị sanh vào khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 2269Trước đây năm mươi kiếp, tôi đã là người độc nhất thống lãnh dân chúng tên Samittanandana, là đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 2270Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Yūthikāpupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị có bông hoa tamāla, thảm trải bằng cỏ, vị khám phá sự đổ vỡ, vị liên quan đến bông hoa asoka, vị có bông hoa aṅkola, chồi non, trái cây tinduka, các bông hoa nela, vị có bông hoa kiṅkaṇi, vị có bông hoa yūthikā; (tổng cộng) có năm mươi tám câu kệ.
Phẩm Tamālapupphiya là phẩm thứ hai mươi.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Vị dâng cúng thức ăn, (vị có) đoàn tùy tùng, bông hoa sereyya, trưởng lão Sobhita là tương tợ, vị có chiếc lọng che, bông hoa bandhujīva, và luôn cả vị có sự phục vụ khéo léo, bông hoa kumuda, bông hoa kuṭaja, và luôn cả vị có bông hoa tamāla đã được thực hiện là thứ mười. Có sáu trăm câu kệ và sáu mươi sáu câu thêm vào đó.
Nhóm “Mười” từ phẩm Bhikkhā.
Nhóm “Một Trăm” thứ nhì được đầy đủ.
“Padumuttaro nāma jino,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Pavanā nikkhamitvāna,
vihāraṁ yāti cakkhumā.
Ubho hatthehi paggayha,
yūthikaṁ pupphamuttamaṁ;
Buddhassa abhiropayiṁ,
mettacittassa tādino.
Tena cittappasādena,
anubhotvāna sampadā;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Ito paññāsakappesu,
eko āsiṁ janādhipo;
Samittanandano nāma,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā yūthikapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Yūthikapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Tamālapupphiyavaggo vīsatimo.
Tassuddānaṁ
Tamālatiṇasanthāro,
khaṇḍaphulli asokiyo;
Aṅkolakī kisalayo,
tinduko nelapupphiyo;
Kiṅkaṇiko yūthiko ca,
gāthā paññāsa aṭṭha cāti.
Atha vagguddānaṁ
Bhikkhādāyī parivāro,
sereyyo sobhito tathā;
Chattañca bandhujīvī ca,
supāricariyopi ca.
Kumudo kuṭajo ceva,
tamāli dasamo kato;
Chasatāni ca gāthāni,
chasaṭṭhi ca tatuttari.
Bhikkhāvaggadasakaṁ.
Dutiyasatakaṁ samattaṁ.