BJT 2713Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Vipassī đang đi khất thực. Tôi đã dâng lên một vá thức ăn đến đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 2714Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã đảnh lễ và tôi đã ngợi ca đức Phật nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 2715(Kể từ khi) tôi đã ngợi ca (đức Phật) trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca (đức Phật).
BJT 2716Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Anusaṁsāvakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Giàn hỏa thiêu, bông hoa san hô, chiếc lọng (trắng), tiếng động, việc trải lót xương sọ của loài bò, (vị đảnh lễ) bàn chân, (vị tán dương) khu vực, sự nương nhờ, trái xoài, và luôn cả vị ngợi ca (đức Phật); (tổng cộng) có bốn mươi bảy câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Citakapūjaka là phẩm thứ ba mươi.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Bông hoa kaṇikāra, vị cúng dường voi, vật tựa (lưng), chỗ ngồi và nước, hạt tuvara nướng, vị tán dương, và luôn cả việc thảy lên (không trung), gối kê đầu, vị dâng cúng lá cây, và vị cúng dường lễ hỏa táng; toàn bộ các câu kệ ở đây là bốn trăm năm mươi mốt câu.
Tất cả gồm có hai ngàn năm trăm và bảy mươi hai câu thêm vào đó nữa. (Tổng cộng) có ba trăm ký sự đã được tính đếm bởi các vị nhìn thấy sự lợi ích.
Nhóm “Một Trăm” thứ ba được đầy đủ.
“Piṇḍāya caramānāhaṁ,
vipassimaddasaṁ jinaṁ;
Uḷuṅgabhikkhaṁ pādāsiṁ,
dvipadindassa tādino.
Pasannacitto sumano,
abhivādesahaṁ tadā;
Anusaṁsāvayiṁ buddhaṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Ekanavutito kappe,
anusaṁsāvayiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
anusaṁsāvanā phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā anusaṁsāvako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Anusaṁsāvakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Citakapūjakavaggo tiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Citakaṁ pārichatto ca,
saddagosīsasantharaṁ;
Pādo padesaṁ saraṇaṁ,
ambo saṁsāvakopi ca;
Aṭṭhatālīsa gāthāyo,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Atha vagguddānaṁ
Kaṇikāro hatthidado,
ālambaṇudakāsanaṁ;
Tuvaraṁ thomako ceva,
ukkhepaṁ sīsupadhānaṁ.
Paṇṇado citapūjī ca,
gāthāyo ceva sabbaso;
Cattāri ca satānīha,
ekapaññāsameva ca.
Pañcavīsasatā sabbā,
dvāsattati taduttari;
Tisataṁ apadānānaṁ,
gaṇitā atthadassibhi.
Kaṇikāravaggadasakaṁ.
Tatiyasatakaṁ samattaṁ.
Walt 2713 I saw Vipassi, the Victor,
wandering about for alms food.
I gave an owl’s measure of food
to the Best Biped, Neutral One. Verse 1
Walt 2714 Happy, with pleasure in my heart,
I greeted Buddha at that time.
I sang the praises of Buddha,
wishing for the ultimate goal. Verse 2
Walt 2715 In the ninety-one aeons since
I sang the Buddha’s praises then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of singing praises. Verse 3
Walt 2716 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Anusaṁsāvaka Thera spoke these verses.
The legend of Anusaṁsāvaka Thera is finished.
The Summary:
Citaka and Pārichatta,
Sadda, Gosīsasanthara,
Pada, Padesa, Saraṇa,
Amba and Saṁsāvaka too:
there are forty-seven verses
which are counted by those who know.
The Citakapūjaka Chapter, the Thirtieth
Then there is the Summary of Chapters:
Kaṇṇikāra, Hatthidada,
Ālamban’, Udakāsana,
Tuvara and Thomana too,
Ukkhepa, Sīsupadhāna,
Paṇṇada and Citapūji:
in total all the verses here
do number four times one hundred
plus one more than fifty as well.
Twenty-five hundred verses all
plus seventy-two more than that:
three hundred apadāna poems
are counted by those who see truth.
The Third Hundred is finished.
BJT 2713Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng Vipassī đang đi khất thực. Tôi đã dâng lên một vá thức ăn đến đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 2714Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã đảnh lễ và tôi đã ngợi ca đức Phật nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 2715(Kể từ khi) tôi đã ngợi ca (đức Phật) trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc ngợi ca (đức Phật).
BJT 2716Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Anusaṁsāvakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Giàn hỏa thiêu, bông hoa san hô, chiếc lọng (trắng), tiếng động, việc trải lót xương sọ của loài bò, (vị đảnh lễ) bàn chân, (vị tán dương) khu vực, sự nương nhờ, trái xoài, và luôn cả vị ngợi ca (đức Phật); (tổng cộng) có bốn mươi bảy câu kệ đã được tính đếm bởi các bậc trí.
Phẩm Citakapūjaka là phẩm thứ ba mươi.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Bông hoa kaṇikāra, vị cúng dường voi, vật tựa (lưng), chỗ ngồi và nước, hạt tuvara nướng, vị tán dương, và luôn cả việc thảy lên (không trung), gối kê đầu, vị dâng cúng lá cây, và vị cúng dường lễ hỏa táng; toàn bộ các câu kệ ở đây là bốn trăm năm mươi mốt câu.
Tất cả gồm có hai ngàn năm trăm và bảy mươi hai câu thêm vào đó nữa. (Tổng cộng) có ba trăm ký sự đã được tính đếm bởi các vị nhìn thấy sự lợi ích.
Nhóm “Một Trăm” thứ ba được đầy đủ.
“Piṇḍāya caramānāhaṁ,
vipassimaddasaṁ jinaṁ;
Uḷuṅgabhikkhaṁ pādāsiṁ,
dvipadindassa tādino.
Pasannacitto sumano,
abhivādesahaṁ tadā;
Anusaṁsāvayiṁ buddhaṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Ekanavutito kappe,
anusaṁsāvayiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
anusaṁsāvanā phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā anusaṁsāvako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Anusaṁsāvakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Citakapūjakavaggo tiṁsatimo.
Tassuddānaṁ
Citakaṁ pārichatto ca,
saddagosīsasantharaṁ;
Pādo padesaṁ saraṇaṁ,
ambo saṁsāvakopi ca;
Aṭṭhatālīsa gāthāyo,
gaṇitāyo vibhāvibhi.
Atha vagguddānaṁ
Kaṇikāro hatthidado,
ālambaṇudakāsanaṁ;
Tuvaraṁ thomako ceva,
ukkhepaṁ sīsupadhānaṁ.
Paṇṇado citapūjī ca,
gāthāyo ceva sabbaso;
Cattāri ca satānīha,
ekapaññāsameva ca.
Pañcavīsasatā sabbā,
dvāsattati taduttari;
Tisataṁ apadānānaṁ,
gaṇitā atthadassibhi.
Kaṇikāravaggadasakaṁ.
Tatiyasatakaṁ samattaṁ.