BJT 3232Lúc bấy giờ, tôi đã là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang ngồi ở trong vùng đồi núi.
BJT 3233(Đức Phật) đang làm cho tất cả các phương rực sáng tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa. Sau khi nhìn thấy bậc hội đủ các tướng mạo chính và phụ, tôi đã trở nên hoan hỷ.
BJT 3234Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, có tâm ý mừng rỡ vì phỉ lạc, tôi đã nâng ba đóa sen xanh lên ở trên đầu.
BJT 3235Sau khi cúng dường các bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa, sau khi thể hiện sự tôn kính, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 3236Trong khi đang cúi mình ra đi với tâm ý trong sạch, tôi đã rơi xuống ở giữa tảng đá và đã đi đến sự chấm dứt mạng sống.
BJT 3237Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ cuộc sống trước đây, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3238Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3239(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3240Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ti-uppalamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ vānaro tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
nisinnaṁ pabbatantare.
Obhāsentaṁ disā sabbā,
sālarājaṁva phullitaṁ;
Lakkhaṇabyañjanūpetaṁ,
disvānattamano ahaṁ.
Udaggacitto sumano,
pītiyā haṭṭhamānaso;
Tīṇi uppalapupphāni,
matthake abhiropayiṁ.
Pūjayitvāna pupphāni,
phussassāhaṁ mahesino;
Sagāravo bhavitvāna,
pakkāmiṁ uttarāmukho.
Gacchanto paṭikuṭiko,
vippasannena cetasā;
Selantare patitvāna,
pāpuṇiṁ jīvitakkhayaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā purimaṁ jātiṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Satānaṁ tīṇikkhattuñca,
devarajjamakārayiṁ;
Satānaṁ pañcakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tīṇuppalamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tīṇuppalamāliyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 3232 On Candabhāgā River’s bank,
I was a monkey at that time.
I saw the Stainless Buddha who
was seated on a mountainside. Verse 1
Walt 3233 I was enraptured seeing him,
Shining Forth in All Directions,
like a regal sal tree in bloom,
Bearing the Great and Lesser Marks.Verse 2
Walt 3234 Happy, with my heart exultant,
and my mind bristling with joy,
I offered on the Buddha’s head
three lovely blue lotus flowers. Verse 3
Walt 3235 After offering those flowers
to Phussa Buddha, the Great Sage,
cultivating great reverence,
I went off from there facing north. Verse 4
Walt 3236 Crouched over going off from there,
with a mind that was very clear,
I alighted on a mountain
and attained the end of my life. Verse 5
Walt 3237 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 6
Walt 3238 And afterwards, three hundred times,
I ruled over the world of gods.
And furthermore five hundred times
I was a king who turned the wheel. Verse 7
Walt 3239 In the ninety-two aeons since
I did pūjā with that flower,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 8
Walt 3240 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Tīṇuppalamāliya Thera spoke these verses.
The legend of Tīṇuppalamāliya Thera is finished.
BJT 3232Lúc bấy giờ, tôi đã là con khỉ ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, đang ngồi ở trong vùng đồi núi.
BJT 3233(Đức Phật) đang làm cho tất cả các phương rực sáng tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa. Sau khi nhìn thấy bậc hội đủ các tướng mạo chính và phụ, tôi đã trở nên hoan hỷ.
BJT 3234Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, có tâm ý mừng rỡ vì phỉ lạc, tôi đã nâng ba đóa sen xanh lên ở trên đầu.
BJT 3235Sau khi cúng dường các bông hoa đến bậc Đại Ẩn Sĩ Phussa, sau khi thể hiện sự tôn kính, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 3236Trong khi đang cúi mình ra đi với tâm ý trong sạch, tôi đã rơi xuống ở giữa tảng đá và đã đi đến sự chấm dứt mạng sống.
BJT 3237Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ cuộc sống trước đây, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 3238Và tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lần. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần.
BJT 3239(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3240Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ti-uppalamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ vānaro tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
nisinnaṁ pabbatantare.
Obhāsentaṁ disā sabbā,
sālarājaṁva phullitaṁ;
Lakkhaṇabyañjanūpetaṁ,
disvānattamano ahaṁ.
Udaggacitto sumano,
pītiyā haṭṭhamānaso;
Tīṇi uppalapupphāni,
matthake abhiropayiṁ.
Pūjayitvāna pupphāni,
phussassāhaṁ mahesino;
Sagāravo bhavitvāna,
pakkāmiṁ uttarāmukho.
Gacchanto paṭikuṭiko,
vippasannena cetasā;
Selantare patitvāna,
pāpuṇiṁ jīvitakkhayaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā purimaṁ jātiṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Satānaṁ tīṇikkhattuñca,
devarajjamakārayiṁ;
Satānaṁ pañcakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ pupphamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tīṇuppalamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tīṇuppalamāliyattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.