BJT 3726Đức Thế Tôn tên Piyadassī là đấng Tự Chủ, bậc Lãnh Đạo Thế Gian. Đấng Toàn Giác, bậc Hiền Trí có ước muốn độc cư, thiện xảo về định.
BJT 3727Sau khi đi sâu vào khu rừng rậm, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī, đấng Tối Thượng Nhân, đã trải ra tấm y may từ vải bị quăng bỏ rồi ngồi xuống.
BJT 3728Trong thời quá khứ, tôi đã là thợ săn thú rừng ở trong khu rừng hoang rậm. Khi ấy, trong lúc tìm kiếm loài nai pasada, tôi (đã) đi lang thang.
BJT 3729Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng nước lũ, không còn lậu hoặc, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, tợ như mặt trời đã mọc lên.
BJT 3730Sau khi nhìn thấy vị Trời của chư Thiên, bậc có danh vọng lớn lao Piyadassī, khi ấy tôi đã lội xuống hồ nước thiên nhiên và đã mang lại đóa sen hồng.
BJT 3731Sau khi mang lại đóa sen hồng trăm cánh làm thích ý, tôi đã xây dựng ngôi nhà mái nhọn và đã phủ lên bằng hoa sen hồng.
BJT 3732Bậc có lòng thương tưởng, đấng Bi Mẫn, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī, đức Phật, đấng Chiến Thắng đã ngụ bảy ngày đêm ở ngôi nhà mái nhọn.
BJT 3733Sau khi bỏ đi các (bông hoa) héo úa, tôi đã che lên bằng (bông hoa) mới. Liền sau đó, tôi đã chắp tay lên và đứng yên.
BJT 3734Bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đã xuất khỏi định. Trong lúc đang quan sát các phương, đấng Lãnh Đạo thế gian đã ngồi xuống.
BJT 3735Khi ấy, vị thị giả có đại thần lực tên Sudassana đã hiểu được tâm của đức Phật, bậc Đạo Sư Piyadassī.
BJT 3736Được tháp tùng bởi tám mươi ngàn vị tỳ khưu, vị ấy đã đi đến gần đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang ngồi an lạc ở cuối khu rừng.
BJT 3737Và cho đến chư Thiên ngự ở trong khu rừng rậm, sau khi biết được tâm của đức Phật, khi ấy tất cả đã tụ hội lại.
BJT 3738Khi các Dạ-Xoa, các ác thần, cùng với các loài quỷ sứ đã cùng nhau đi đến, và khi Hội Chúng tỳ khưu đã đến nơi, đấng Chiến Thắng đã thốt lên các lời kệ này:
BJT 3739“Người nào đã cúng dường và đã thực hiện chỗ ngụ cho Ta bảy ngày, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3740Bằng trí tuệ, Ta sẽ tán dương điều thật khó mà nhìn thấy, vô cùng vi tế, sâu thẳm, đã được thể hiện tốt đẹp. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 3741(Người ấy) sẽ cai quản Thiên quốc mười bốn kiếp. Có tòa nhà mái nhọn vĩ đại, được che phủ bằng các đóa sen hồng, sẽ được duy trì ở không trung dành cho người ấy; điều này là quả báu của việc làm với bông hoa.
BJT 3742(Người ấy) sẽ luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người) hai ngàn bốn trăm kiếp. Tại nơi ấy sẽ có cung điện làm bằng bông hoa được duy trì ở không trung (dành cho người ấy).
BJT 3743Giống như nước không làm lem luốc cánh hoa sen, tương tợ y như thế các điều ô nhiễm không làm hoen ố trí của người này.
BJT 3744Sau khi đã loại trừ năm pháp che lấp ở trong tâm, người này sẽ làm sanh khởi tâm về việc xuất ly và sẽ xuất gia lìa khỏi gia đình. Sau đó, trong lúc cung điện làm bằng bông hoa đang được duy trì, người này sẽ ra đi.
BJT 3745Trong khi con người cẩn trọng có chánh niệm (này) đang ngụ ở gốc cây, tại nơi ấy sẽ có cung điện làm bằng bông hoa được duy trì ở đỉnh đầu (của người này).
BJT 3746Sau khi dâng cúng y phục, vật thực, thuốc chữa bệnh, và chỗ nằm ngồi đến Hội Chúng tỳ khưu, (người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 3747Tôi đã ra đi xuất gia bằng sự di chuyển của ngôi nhà mái nhọn. Ngôi nhà mái nhọn được duy trì trong khi (tôi) đang ngụ ở gốc cây.
BJT 3748Sự suy tư về y phục và vật thực không có ở tôi. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi nhận được hoàn toàn đầy đủ.
BJT 3749Nhiều koṭi kiếp sống của tôi, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm, đã trôi qua vô ích, các bậc Lãnh Đạo Thế Gian đều đã giải thoát.
BJT 3750(Trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, đấng Hướng Đạo Piyadassī (đã hiện khởi). Sau khi phục vụ Ngài, tôi đã đi đến lần nhập thai này.
BJT 3751Tại đây, tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác, đấng Hữu Nhãn tên Anoma. Tôi đã đi đến gặp vị ấy và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 3752Đức Phật, bậc Đoạn Tận khổ đau, đấng Chiến Thắng đã giảng giải cho tôi về Đạo Lộ. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã đạt đến vị thế Bất Động.
BJT 3753Sau khi đã làm vui lòng đấng Toàn Giác Gotama, bậc Cao Quý dòng Sakya, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3754(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật (trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 3755Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 3756Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3757Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumakūṭāgāriya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Piyadassī nāma bhagavā,
sayambhū lokanāyako;
Vivekakāmo sambuddho,
samādhikusalo muni.
Vanasaṇḍaṁ samogayha,
piyadassī mahāmuni;
Paṁsukūlaṁ pattharitvā,
nisīdi purisuttamo.
Migaluddo pure āsiṁ,
araññe kānane ahaṁ;
Pasadaṁ migamesanto,
āhiṇḍāmi ahaṁ tadā.
Tatthaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
oghatiṇṇamanāsavaṁ;
Pupphitaṁ sālarājaṁva,
sataraṁsiṁva uggataṁ.
Disvānahaṁ devadevaṁ,
piyadassiṁ mahāyasaṁ;
Jātassaraṁ samogayha,
padumaṁ āhariṁ tadā.
Āharitvāna padumaṁ,
satapattaṁ manoramaṁ;
Kūṭāgāraṁ karitvāna,
chādayiṁ padumenahaṁ.
Anukampako kāruṇiko,
piyadassī mahāmuni;
Sattarattindivaṁ buddho,
kūṭāgāre vasī jino.
Purāṇaṁ chaḍḍayitvāna,
navena chādayiṁ ahaṁ;
Añjaliṁ paggahetvāna,
aṭṭhāsiṁ tāvade ahaṁ.
Vuṭṭhahitvā samādhimhā,
piyadassī mahāmuni;
Disaṁ anuvilokento,
nisīdi lokanāyako.
Tadā sudassano nāma,
upaṭṭhāko mahiddhiko;
Cittamaññāya buddhassa,
piyadassissa satthuno.
Asītiyā sahassehi,
bhikkhūhi parivārito;
Vanante sukhamāsīnaṁ,
upesi lokanāyakaṁ.
Yāvatā vanasaṇḍamhi,
adhivatthā ca devatā;
Buddhassa cittamaññāya,
sabbe sannipatuṁ tadā.
Samāgatesu yakkhesu,
kumbhaṇḍe saharakkhase;
Bhikkhusaṅghe ca sampatte,
gāthā pabyāharī jino.
‘Yo maṁ sattāhaṁ pūjesi,
āvāsañca akāsi me;
Tamahaṁ kittayissāmi,
suṇātha mama bhāsato.
Sududdasaṁ sunipuṇaṁ,
gambhīraṁ suppakāsitaṁ;
Ñāṇena kittayissāmi,
suṇātha mama bhāsato.
Catuddasāni kappāni,
devarajjaṁ karissati;
Kūṭāgāraṁ mahantassa,
padmapupphehi chāditaṁ.
Ākāse dhārayissati,
Pupphakammassidaṁ phalaṁ;
Catubbīse kappasate,
Vokiṇṇaṁ saṁsarissati.
Tattha pupphamayaṁ byamhaṁ,
Ākāse dhārayissati;
Yathā padumapattamhi,
Toyaṁ na upalimpati.
Tathevīmassa ñāṇamhi,
kilesā nopalimpare;
Manasā vinivaṭṭetvā,
pañca nīvaraṇe ayaṁ.
Cittaṁ janetvā nekkhamme,
agārā pabbajissati;
Tato pupphamaye byamhe,
dhārente nikkhamissati.
Rukkhamūle vasantassa,
Nipakassa satīmato;
Tattha pupphamayaṁ byamhaṁ,
Matthake dhārayissati.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Datvāna bhikkhusaṅghassa,
nibbāyissatināsavo’.
Kūṭāgārena caratā,
pabbajjaṁ abhinikkhamiṁ;
Rukkhamūle vasantampi,
kūṭāgāraṁ dharīyati.
Cīvare piṇḍapāte ca,
cetanā me na vijjati;
Puññakammena saṁyutto,
labhāmi pariniṭṭhitaṁ.
Gaṇanāto asaṅkheyyā,
kappakoṭī bahū mama;
Rittakā te atikkantā,
pamuttā lokanāyakā.
Aṭṭhārase kappasate,
piyadassī vināyako;
Tamahaṁ payirupāsitvā,
imaṁ yoniṁ upāgato.
Idha passāmi sambuddhaṁ,
anomaṁ nāma cakkhumaṁ;
Tamahaṁ upagantvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Dukkhassantakaro buddho,
maggaṁ me desayī jino;
Tassa dhammaṁ suṇitvāna,
pattomhi acalaṁ padaṁ.
Tosayitvāna sambuddhaṁ,
gotamaṁ sakyapuṅgavaṁ;
Sabbāsave pariññāya,
viharāmi anāsavo.
Aṭṭhārase kappasate,
yaṁ buddhamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā padumakūṭāgāriyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Padumakūṭāgāriyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 3726 Piyadassi, the Blessed One,
the Self-Become One, World-Leader,
Solitude-Lover, Sambuddha,
Skilled in Meditation, was Sage. Verse 1
Walt 3727 Entering a grove in the woods,
Piyadassi, the Sage So Great,
spreading out his robe made of rags,
sat down, the Ultimate Person. Verse 2
Walt 3728 I was a deer-hunter back then,
within a grove in the forest.
I was wandering around back
then, searching for a spotted deer. Verse 3
Walt 3729 Then I saw the Sambuddha there,
Flood-Crosser, the Undefiled One,
like a regal sal tree in bloom,
like the risen hundred-rayed sun. Verse 4
Walt 3730 Having seen him, the God of Gods,
Piyadassi, the Great-Famed One,
entering a natural lake,
I brought some lotuses back then. Verse 5
Walt 3731 After bringing those lotuses,
hundred-petaled and beautiful,
having built a gabled hut, I
then covered it with lotuses. Verse 6
Walt 3732 Pitier, Compassionate One,
Piyadassi, the Sage So Great,
seven nights and days the Buddha,
Victor, dwelt in that gabled hut. Verse 7
Walt 3733 Throwing out the old lotuses,
I covered it with new ones then.
I stood there for that entire time,
hands pressed together in worship. Verse 8
Walt 3734 RIsing up from meditation,
Piyadassi, the Sage So Great,
looking out in all directions
the Leader of the World sat down. Verse 9
Walt 3735-3736At that time Sudassana was
Buddha’s powerful attendant.
Knowing the thoughts of the Buddha,
of Piyadassi, the Teacher,
surrounded by accomplished monks
whose number was eighty thousand,
he went up to the World-Leader,
seated happily in the woods. Verse 10-11
Walt 3737 All the gods who were residing
throughout that grove in the forest,
knowing the thoughts of the Buddha,
then assembled together there. Verse 12
Walt 3738 When the spirits, the kumbhaṇḍas
and the demons came together,
and the monks’ Assembly arrived,
the Victor uttered these verses: Verse 13
Walt 3739 “He who worshipped me for a week
and made a residence for me,
I shall relate details of him;
all of you listen to my words: Verse 14
Walt 3740 I shall relate through my knowledge
what’s very hard to point out, deep,
very subtle and well-explained;
all of you listen to my words: Verse 15
Walt 3741 For fourteen aeons this one will
exercise rule over the gods.
They will carry up in the sky
a lofty gabled hut for him,
well-covered with lotus flowers:
that’s the fruit of former karma. Verse 16
Walt 3742 For twenty-four hundred aeons
he will transmigrate here and there.
A flying mansion made of blooms
will be carried in the sky there. Verse 17
Walt 3743 Just as water does not stick to
the surface of a lotus-leaf,
so defilements do not stick to
a possessor of this knowledge. Verse 18
Walt 3744This one, after shattering the
five obstacles with his own mind,
giving birth to the intention,
setting out from home he’ll renounce;
after that the floral mansion
will set forth too, being carried. Verse 18e-f,.19
Walt 3745When he’s dwelling beneath a tree,
or when his mindfulness is sharp,
there that mansion made of flowers
will be carried over his head. Verse 20
Walt 3746 Having given robes and alms-food,
requisites and dwelling places
to the Assembly of the monks,
he’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 21
Walt 3747 Through actions with the gabled hut,
I went forth to ordination;
when I’m dwelling beneath a tree,
the gabled hut’s carried for me. Verse 22
Walt 3748 Intentions don’t exist in me
for getting robes or food as alms.
In connection with my karma,
I get both already prepared. Verse 23
Walt 3749 I’ve lived many million aeons,
innumerable by counting.
They’ve elapsed for me emptily;
the World-Leaders have been set free. Verse 24
Walt 3750 Eighteen hundred aeons ago
lived the Guide named Piyadassi.
Having served him attentively,
I came into this present womb. Verse 25
Walt 3751 Here I saw Sambuddha named
Anoma, the One with Five Eyes.
Having then gone up to him, I
went forth into the homeless life. Verse 26
Walt 3752 The Buddha, Ender of Dis-ease,
the Victor preached the path to me.
Having listened to his Teaching,
I realized the deathless state. Verse 27
Walt 3753 Having pleased him, the Sambuddha,
Gotama, Bull of the Śākyas,
knowing well all the defilements,
I am now living, undefiled.
Walt 3754 In the eighteen hundred aeons
since I worshipped the Buddha then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 29
Walt 3755 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
All defilements are exhausted;
now there will be no more rebirth. Verse 30
Walt 3756 My being in Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 31
Walt 3757 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 32
Thus indeed Venerable Padumakūṭāgāriya Thera spoke these verses.
The legend of Padumakūṭāgāriya Thera is finished.